SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH KỸ THUẬT CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM SÚ
Penaues monodon THÂM CANH VÀ TÔM THẺ CHÂN TRẮNG Penaeus vannamei Ở
BẾN TRE
Nguyễn Thị Kim Thoa
1
, Huỳnh Văn Hiền
2
& Nguyễn Thanh Long
2
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện tại Bến Tre từ tháng 08-12/2011. Tổng quan sát mẫu là 65 hộ nuôi (32 hộ
nuôi tôm sú và 33 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng). Kết quả phân tích cho thấy, số vụ nuôi tôm sú cao nhất là 2 vụ/năm
còn tôm thẻ chân trắng là 3 vụ/năm. Độ sâu ao nuôi trung bình của tôm sú và tôm thẻ chân trắng là tương đương
nhau lần lượt là 1,4m và 1,5m. Mật độ thả nuôi trung bình của tôm sú là 44,9±16,8 con/m
2
/vụ và tôm thẻ chân trắng
là 89,2±24,6 con/m
2
/vụ. Thời gian nuôi tôm sú trung bình là 124 ngày/vụ và tôm thẻ chân trắng là 82 ngày/vụ. Hệ
số tiêu tốn thức ăn (FCR) trung bình đối với tôm sú là 1,4±0,3 và tôm thẻ chân trắng là 1,3±0,2. Kích cỡ thu hoạch
bình quân của tôm sú là 38,0±15,8 con/kg và tôm thẻ chân trắng là 85,0±20,3 con/kg. Năng suất trung bình của
nuôi tôm sú là 7,2±2,3 tấn/ha/vụ và tôm thẻ chân trắng là 9,7±3,5 tấn/ha/vụ. Chi phí biến đổi nuôi tôm sú trung
bình là 558,8±205,4 triệu đồng/ha/vụ, trong đó chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu chi phí biến đổi
(56,1%), chi phí biến đổi nuôi tôm thẻ chân trắng trung bình là 560,7±215,9 triệu đồng/ha/vụ và chi phí thức ăn
cũng chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu chi phí biến đổi (54,0%). Giá thành để nuôi 1kg tôm sú trung bình là
84,7±47,3 ngàn đồng/kg còn giá thành nuôi tôm thẻ chân trắng là 59,6±32,6 ngàn đồng/kg. Lợi nhuận trung bình
khi tôm sú là 392,3±209,8 triệu đồng/ha/vụ và nuôi tôm thẻ chân trắng là 443,6±132,0 triệu đòng/ha/vụ. Tỷ suất lợi
nhuận trung bình của nôi tôm sú là 1,1±0,8 lần và nuôi tôm thẻ chân trắng là 1,0±0,6 lần. Những khó khăn cơ bản
đối với nghề nuôi tôm tại Bến Tre là chi phí đầu tư tăng (23,2%) và dịch bệnh xảy ra ngày càng nhiều và nghiêm
trọng hơn (29,2%).
triển theo hướng ổn định và lâu dài.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thông tin thứ cấp được thu thập thông qua các tài liệu có liên quan đã được xuất bản
trong và ngoài nước, báo cáo tổng kết của các cơ quan cấp tỉnh và huyện thuộc địa bàn nghiên
cứu, các trang web chuyên ngành có liên quan.
Nghiên cứu được thực hiện tại Bến Tre từ tháng 08-12/2011. Tổng quan sát mẫu là 65 hộ
nuôi tôm (với 32 hộ nuôi tôm sú và 33 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng).
Phương pháp vấn trực tiếp ngẫu nhiên bằng bảng câu hỏi soạn sẵn khi thu thập số liệu.
Các phương pháp thống kê mô tả (tần suất, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn) được sử
dụng để mô tả, kiểm định thống kê (T-test) để so sánh, phân tích và đánh giá các chỉ tiêu tài
chính cũng như kỹ thuật của hai mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng.
Sử dụng phần mềm SPSS for Windows để nhập và phân tích số liệu trong nghiên cứu
này.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thông tin chung về nông hộ nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng
Nghề nuôi tôm sú ở các tỉnh ven biển của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) rất lâu
nên nông hộ có rất nhiều kinh nghiệm nuôi. Tôm thẻ chân trắng thì được nuôi Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn chính thức cho phép nuôi tại ĐBSCL từ đầu năm 2008 nên hộ dân chưa
có nhiều kinh nghiệm cho đối tượng nuôi này (Nguyễn Việt Thắng, 2008). Kết quả khảo sát cho
thấy, kinh nghiệm trung bình của hộ nuôi tôm sú tại địa bàn khảo sát là 6,7±5,0 năm và nuôi tôm
thẻ chân trắng là 1,5±1,0 năm.
Bảng 3.1: Lao động và kinh nghiệm trong nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng tại bến Tre
Diễn gải Tôm sú (n=32) Tôm thẻ chân trắng (n=33)
Số năm kinh nghiệm nuôi tôm (năm) 6,7±5,0 1,5±1,2
Lao động gia đình (người) 4,8±3,4 4,7±3,3
Lao động gia đình nuôi tôm (người) 1,6±0,7 1,3±0,5
Lao động thuê (người) 1,3±0,5 2,0±1,9
Số lao động trong gia đình của mô hình nuôi tôm sú là 4,8±3,4 người, trong đó lao động
tham gia nuôi tôm sú trung bình là 1,6±0,7 người. Đối với mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thì
có số lao động gia đình trung bình là 4,7±3,3 người, trong đó lao động tham gia nuôi tôm là
sú thâm canh và bán thâm canh bình quân là 27,6 con/m
2
. Theo Trần Quốc (2011), tại địa bàn
Bến Tre các hộ dân thả nuôi tôm thẻ chân trắng với mật độ dao động trung bình là 90-120
con/m
2
. Tuy nhiên, giá giống tôm thẻ chân trắng cao hơn so với giá tôm sú nên thường người dân
thả với mật độ thấp hơn nhằm giảm bớt chi phí đầu tư cũng như hạn chế sử dụng thuốc hóa chất
trong quá trình nuôi. Mặt khác, giống tôm thẻ chân tắng chủ yếu nhập từ Miền Trung do toàn
ĐBSCL chỉ có 05 trại sản xuất giống tôm thẻ chân trắng với số lượng là 250 triệu Post/năm nên
chưa đáp ứng đủ nhu cầu con giống tôm thẻ chân trắng để thả nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, 2010).
Bảng 3.3: Mật độ thả giống, kích cỡ con giống, giá mua giống và thời gian nuôi tôm
Diễn gải Tôm sú (n=32) Tôm thẻ chân trắng (n=33)
Mật độ thả giống (con/m
2
) 44,9
a
±16,8 89,2
b
±24,6
Kích cỡ con giống thả nuôi (PL) PL
12
-PL
13
PL
8
-PL
9
Giá mua giống (đồng/con) 69,2
±2,3 9,6
b
±3,5
Giá bán (1.000 đồng/kg) 139,5
a
±51,6 105
b
,0±23,2
Kích cỡ tôm thu hoạch (con/kg) 38,0±15,8 85,0±20,3
Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) 1,4±0,3 1,3±0,2
Tỷ lệ sống (%) 69,5
a
±19,5 79,5
b
±18,5
Ghi chú: Những ký tự khác nhau trên cùng một dòng là thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,05). Sử dụng kiểm định T-Test.
Năng suất tôm sú thu hoạch bình quân là 7,2±2,3 tấn/ha/vụ thấp hơn so với năng suất tôm
thẻ chân trắng (9,6±3,5 tấn/ha/vụ) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết quả thực
nghiệm về mô hình nuôi tôm sú thâm canh tại Sóc trăng thì cho kết quả năng suất trung bình là
7,1 tấn/ha/vụ (Dương Vĩnh Hảo, 2009). Riêng năng suất tôm thẻ chân trắng trung bình là 8-10
tấn/ha tuỳ vào mật độ thả nuôi (Nguyễn Hoàng Âu Cơ, 2011). Giá bán trung bình của tôm sú là
139,5±51,6 ngàn đồng/kg, tương ứng với kích cỡ trung bình là 38,0±15,8 con/kg cao hơn nhiều
so với giá bán tôm thẻ chân trắng (105,0±23,2 ngàn đồng/kg) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,05) tương ứng với kích cỡ bình quân là 85,0±20,3 con/kg. Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR)
trung bình khi nuôi tôm sú là 1,4±0,3 và gần tương đương với FCR của tôm thẻ chân trắng
(1,3±0,2). Theo kết quả nghiên cứu của Dương Vĩnh Hảo (2009) thì hệ số tiêu tốn thức ăn của
mô hình nuôi tôm sú thâm canh và bán thâm canh là 1,6 và mô hình bán thâm canh là 1,4. Tuy
nhiên, hệ số tiêu tốn thức ăn của mô hình nuôi tôm sú thâm canh và bán thâm canh ở đống bằng
sông Cửu Long (ĐBSCL) trung bình là 1,49 (Lê Xuân Sinh & ctv.,2011). Tỷ lệ sống bình quân
±13,6
Chi phí biến đổi (Tr.đồng/ha/vụ) 585,8
a
±205,4 560,7
b
±215,9
Cơ cấu chi phí biến đổi (%) 100 100
Chi phí thức ăn 56,1 54,0
Chi phí thuốc và hoá chất 15,8 14,2
Chi phí nhiên liệu 13,0 12,0
Chi phí con giống 5,3 11,7
Chi phí sên vét và cải tạo 3,3 3,3
Chi phí lãi ngân hàng 3,3 0,5
Chi phí nhân công 3,0 3,7
Chi phí kiểm dịch con giống 0,1 0,1
Chi phí khác 0,2 0,6
Ghi chú: Những ký tự khác nhau trên cùng một dòng là thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,05). Sử dụng kiểm định T-Test.
Trong cơ cấu chi phí biến đổi thì chi phí thức ăn luôn là chi phí quan trọng và chiếm tỷ lệ
cao nhất trong tổgn chi phí biến đổi. Kết quả khảo sát cho thấy, nuôi tôm sú có chi phí thức ăn
chiếm 56,1% trong tổng chi phí biến đổi, còn nuôi tôm thẻ thì chiếm 54,0% chi phí biến đổi. Chi
phí quan trọng kế tiếp là chi phí thuốc và hoá chất của mô hình tôm sú là 15,8%, còn tôm thẻ
chân trắng là 14,2%. Chi phí con giống chỉ chiếm 5,3% chi phí biến đổi của mô hình tôm sú và
chiếm 11,7% của mô hình tôm thẻ chân trắng. Ngoài ra còn một số chi phí khác chiếm tỷ lệ thấp
trong chi phí biến đổi như: Chi phí kểm dịch giống, chi phí nhân công, chi phí lãi vay và các
khoản chi phí khác. Theo kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Sinh & ctv. (2011), chi phí thức ăn
(67,9%) và chi phí thuốc hoá chất (9,2%) là chi phí quan trọng nhất trong chi phí biến đổi nuôi
tôm sú ở đồng bằng sông Cửu Long.
Bảng 3.6: Một số chỉ tiêu tài chính đầu tư nuôi tôm tại địa bàn khảo sát
Diễn gải Tôm sú (n=32) Tôm thẻ chân trắng (n=33)
61,4±13,4 ngàn đồng/kg cao hơn so với mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng (44,3±7,9 ngàn
đồng/kg) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Do mức đầu tư cho mô hình nuôi tôm sú
khá cao nên hiệu quả chi phí (1,6±1,1 lần) thấp hơn so với mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng
(1,8±0,7 lần), nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Tỷ suất lợi nhuận bình
quân của mô hình nuôi tôm sú là 1,1±0,8 lần, tỷ số này thấp hơn so với mô hình nuôi tôm thẻ
chân trắng (1,0±0,6 lần), nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
3.4 Thuận lợi và khó khăn của nông hộ tôm sú và thẻ chân trắng tại Bến Tre
Theo Bảng 3.7, thuận lợi đối với mô hình nuôi tôm nói chung (tôm sú và tôm thẻ chân
trắng) ở tỉnh Bến Tre quan trọng nhất là đầu ra ổn định và lợi nhuận cao (24,9%). Những thuận
lợi quan trọng kế tiếp là thời gian nuôi tôm thẻ chân trắng ngắn hơn so với nuôi tôm sú (24,8%)
và cơ sở hạ tầng thuận lợi cho vận chuyển (21,1%). Ngoài ra, còn có một số thuận lợi khác
nhưng chiếm tỷ lệ thấp như: quay vốn nhanh do thời gian nuôi ngắn, được sự hỗ trợ của các cơ
quan ban ngành và chính quyền địa phương. Theo Nghiên cứu của Huỳnh Văn Hiền và Đặng Thị
Phượng (2011) có 37,5% số thương lái mua bán tôm sú cho rằng ngành hàng tôm sú sẽ phát
triển hơn nữa trong thời gian tới và có tới 52,1% cho rằng ngành hàng này đang ở mức ổn
định không phát triển thêm nữa. Các nguyên nhân chủ yếu để ngành hàng này còn phát triển
thêm được là: còn tăng được diện tích nuôi, giá bán tôm có tăng và nhu cầu tôm sú còn tăng.
Điều này cho thấy, thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước có nhu cầu tôm sú rất lớn và
người nuôi rất quan tâm về sự phát triển của đối tượng nuôi này là thuận lợi rất quan trọng.
Bảng 3.7: Những thuận lợi khi thực hiện mô hình nuôi tôm tại Bến Tre
Khoản mục Tỷ lệ (%)
Đầu ra ổn định, lợi nhuận cao 24,9
Thời gian nuôi ngắn 24,8
Cơ sở hạ tầng thuận lợi 21,1
Quản lý nước trong ao nuôi tốt 8,7
Có kinh nghiệm nuôi tôm sú 7,0
Dễ nuôi 2,7
Quay vòng vốn nhanh 2,2
Khác (quan tâm địa phương, môi trường, giống) 8,7
Bên cạnh những thuận lợi trên thì những hộ nuôi tôm ở Bến Tre còn gặp nhất là thường
- Mật độ thả giống trung bình của mô hình nuôi tôm sú là 44,9±16,8 con/m
2
/vụ thấp hơn nhiều
so với mật độ thả giống trung bình của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng 89,2±24,6
con/m
2
/vụ.
- Thời gian nuôi tôm sú trung bình là 124 ngày/vụ, dài hơn so với thời gian nuôi tôm thẻ chân
trắng là 82 ngày/vụ.
- Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) trung bình đối với tôm sú là 1,4±0,3 tương đương với mô hình
nuôi tôm thẻ chân trắng1,3±0,2.
- Năng suất trung bình của nuôi tôm sú là 7,2±2,3 tấn/ha/vụ thấp hơn so với nuôi tôm thẻ chân
trắng là 9,7±3,5 tấn/ha/vụ.
- Chi phí biến đổi nuôi tôm sú là 558,8±205,4 triệu đồng/ha/vụ, chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ
cao nhất trong cơ cấu chi phí biến đổi (56,1%), còn chi phí biến đổi nuôi tôm thẻ chân trắng
trung bình là 560,7±215,9 triệu đồng/ha/vụ và chi phí thức ăn cũng chiếm tỷ lệ cao nhất trong
cơ cấu chi phí biến đổi (54,0%).
- Giá thành để nuôi 1kg tôm sú trung bình là 84,7±47,3 ngàn đồng/kg còn giá thành nuôi tôm
thẻ chân trắng là 59,6±32,6 ngàn đồng/kg.
- Lợi nhuận trung bình khi tôm sú là 392,3±209,8 triệu đồng/ha/vụ và nuôi tôm thẻ chân trắng
là 443,6±132,0 triệu đòng/ha/vụ.
- Tỷ suất lợi nhuận trung bình của nôi tôm sú là 1,1±0,8 lần và nuôi tôm thẻ chân trắng là
1,0±0,6 lần.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Báo Nông Nghiệp Việt Nam, 2011. Bến Tre: Ngưng nhập và thả giống tôm sú
http://agriviet.com/nd/4241-ben-tre:-ngung-nhap-va-tha-giong-tom-su/. Truy cập ngày
09/08/2011.
Chu Trinh, 2011. Dịch bệnh tấn công tôm sú ở Bến Tre. Trang website
http://vov.vn/Home/Dich-benh-tan-cong-tom-su-o-Ben-Tre/20115/174956.vov. Truy cập
ngày 01/08/2011.
và phương hướng nhiệm vụ năm 2012.
Tổng cục thống kê, 2010. Số liệu thống kê Việt Nam 2009. Nhà xuất bản thống kê Hà Nội.
Thế Đạt, 2011. Sản lượng tôm thẻ chân trắng ở ĐBSCL vượt 57%. Trang website
http://www.vietnamplus.vn/Home/San-luong-tom-the-chan-trang-o-DBSCL-vuot-
57/201112/116022.vnplus. Cập nhật ngày 05/12/2011.
Tổng cục Thủy sản, 2010. Hiện trạng và định hướng phát triển sản xuất tôm. Bản tin Thương mại
Thủy sản, số 36-2010. Trand 5-6.
Trần Quốc, 2011. Tôm thẻ chân trắng lấn sân tôm sú và vấn đề quy hoạch. Sở Nông nghiệp và
Phát Triển Nông thôn Bến Tre. http://sonongnghiep.bentre.gov.vn/thy-sn/nuoi-trng/777-
tom-th-chan-trng-ln-san-tom-su-va-vn quy-hoch.html.
Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre, 2011. Công văn số 6025/UBND-KTN ngày 29/12/2011 của
UBND tỉnh Bến Tre về việc chỉ đạo việc thả nuôi tôm biển vụ nuôi năm 2012.
VASEP, 2011. Thị trường nhập khẩu tôm việt nam năm 2010. Bản tin thương mại thuỷ sản số
05/2011. Trang 18-20.
COMPARING TECHNICAL-FINANCIAL ASPECTS OF BLACK TIGER SHRIMP
(PENAUES MONODON) INTENSIVE CULTURE AND WHITE LEG SHRIMP
(PENAEUS VANNAMEI) CULTURE IN BEN TRE PROVINCE
Nguyễn Thị Kim Thoa
2
, Huỳnh Văn Hiền
2
& Nguyễn Thanh Long
2
2 Sinh viên lớp Quản lý Nghề cá - Khoa Thủy sản - Đại học Cần Thơ;
2
Bộ môn Quản lý & Kinh tế Nghề cá - Khoa Thủy sản - Đại học Cần Thơ.
ABSTRACT
The study was implemented from August 2011 to December 2011 in Ben Tre province. Total number of observed
sample was 65 household (32 black tiger shrimp farmers and 33 white leg shrimp farmers). According to analyses,