Tài liệu LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " SO SÁNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - KỸ THUẬT CỦA CÁC MÔ HÌNH NUÔI THÂM CANH TÔM SÚ (Penaeus monodon) VÀ TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei) Ở TỈNH TRÀ VINH" - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
PHAN THỊ NGỌC THƠ
SO SÁNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - KỸ THUẬT CỦA
CÁC MÔ HÌNH NUÔI THÂM CANH TÔM SÚ (Penaeus
monodon) VÀ TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei)
Ở TỈNH TRÀ VINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
PHAN THỊ NGỌC THƠ
SO SÁNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - KỸ THUẬT CỦA
CÁC MÔ HÌNH NUÔI THÂM CANH TÔM SÚ (Penaeus
monodon) VÀ TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Penaeus vannamei)
Ở TỈNH TRÀ VINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ths. NGUYỄN THANH LONG
2009
1
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới 20
năm qua, ngành thủy sản nước ta đã khởi sắc và tăng trưởng liên tục qua từng
năm, từng thời kỳ. So với năm 1985, năm 2005 sản lượng thủy sản tăng 4,24
lần, từ xấp xỉ 808 nghìn tấn lên 3.432.800 tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng
thủy sản tăng mạnh, hơn 6,22 lần, từ 231.200 tấn lên 1.437.355 tấn. Các hoạt

được nuôi lần đầu tiên tại Trà Vinh theo hình thức thâm canh tại các cơ sở đủ
điều kiện theo tiêu chuẩn của Bộ quy định.
Tuy nhiên, nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm cũng còn nhiều khó khăn so
với tôm sú do chưa có sự hiểu biết nhiều về kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng,
với những rủi ro cao do chưa hiểu biết cách quản lý dịch bệnh và môi trường.
Chính vì vậy đề tài “So sánh một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của các mô hình
nuôi thâm canh tôm sú (P.monodon) và tôm thẻ chân trắng (P.vannamei) ở
tỉnh Trà Vinh” đã được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của mô hình nuôi tôm sú và tôm
thẻ chân trắng nhằm cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc quản lý nghề nuôi
trồng thủy sản.
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát kỹ thuật nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng thâm canh.
- Khảo sát hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân
trắng thâm canh.
- So sánh một số chỉ tiêu kinh tế và kỹ thuật giữa mô hình nuôi tôm sú và
tôm thẻ chân trắng thâm canh.
- Nhận thức của người nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng.
1.4 Thời gian thực hiện đề tài
Từ tháng 01/2009 đến tháng 05/2009
3
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng trên thế giới
Ngày nay nuôi tôm sú đã phát triển ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, tính đến
nay có hơn 65 nước và vùng lãnh thổ đang tiến hành nuôi, tập trung ở 2 khu
vực là Châu Á và Thái Bình Dương chiếm 72% và ở Mỹ La Tinh chiếm 28%
tổng sản lượng nuôi tôm.
Sản lượng tôm nuôi trên thế giới đã tăng lên không ngừng từ 2% (1980) lên

121
125
126
81
118
110
Ấn Độ
97
95
65
130
114
Ecuador
96
98
119
66
108
Philippin
90
76
40
34
40
Sản lượng tôm của các nước biến động không đều giữa các năm, có xu hướng
giảm ngoại trừ một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ. Có hiện tượng trên là do
phần lớn các nước đều phát triển nuôi tôm ồ ạt không có quy hoạch nên dẫn
đến hiện tượng dịch bệnh xảy ra nhiều làm sản lượng giảm.
Bên cạnh đó tôm thẻ chân trắng cũng là đối tượng quý hiếm có giá trị rất cao,
có thị trường lớn và đang mở rộng. Trước khi có đại dịch bệnh đốm trắng năm

công nghiệp mới phát triển hơn một thập niên gần đây. Từ đó vị trí của ngành
nuôi tôm Việt Nam trên thế giới ngày càng được cải thiện, ngày nay Việt Nam
là một trong những nước có sản lượng tôm sú nuôi lớn nhất trên thế giới.
Diện tích, năng suất và sản lượng tôm nuôi ở Việt Nam tăng dần qua các năm,
có được kết quả đó là do sự du nhập của công nghệ, quy trình nuôi và kỹ thuật
nuôi ngày càng được cải tiến đặc biệt là việc áp dụng phương pháp nuôi thâm
canh với mật độ cao.
Nhìn chung nghề nuôi tôm sú ở nước ta đang đạt được những bước phát triển
đáng khích lệ song vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục sau:
Nuôi tôm còn mang tính tự phát và chưa có một chiến lược quy hoạch cụ thể,
nếu có quy hoạch cũng mang tính cục bộ và thực tế chưa mang lại hiệu quả
như mong muốn.
5
Bệnh tôm xuất hiện ở nhiều vùng nuôi và có lúc bùng phát thành dịch, ý thức
cộng đồng của người nuôi còn thấp dẫn đến việc phòng trị bệnh khó khăn.
Việc sử dụng thuốc kháng sinh trong NTTS nói chung và nuôi tôm sú nói
riêng còn phổ biến dẫn đến chất lượng của sản phẩm thấp.
Vài năm gần đây, trong khi việc nuôi tôm sú ở Việt Nam ngày càng gặp nhiều
rủi ro thì tôm thẻ chân trắng xuất hiện với ưu thế như năng suất cao, dễ bán,
chi phí thấp. Tuy nhiên, phần lớn người nuôi vẫn còn e ngại với con tôm ngoại
lai này. Tôm thẻ chân trắng được nuôi thử nghiệm ở nhiều nơi trên nước ta
như Hưng Yên, Quảng Ngãi Nhưng tôm này được nuôi phổ biến chủ yếu ở
vùng ĐBSCL. Tôm thẻ chân trắng từng được Công ty nuôi trồng thủy sản
Duyên Hải nhập về nuôi và nhân giống thành công ở công ty Bạc Liêu từ năm
2001. Tuy nhiên, khi đó lãnh đạo tỉnh Bạc Liêu không khuyến khích nuôi vì
quá mới mẻ, chưa có quy trình kỹ thuật nuôi hoàn chỉnh, chưa kiểm soát được
dịch bệnh và quan trọng hơn là không có doanh nghiệp nào mua loại tôm này.
Gần đây thị trường thế giới đã có nhiều biến động, người tiêu dùng các nước
chuyển sang tiêu thụ mạnh tôm thẻ chân trắng của Thái Lan, Trung Quốc.
Tuy nhiên, tôm thẻ chân trắng có những nhược điểm cơ bản như thường mắc

Long
ĐBSCL có diện tích nuôi trồng thủy sản ven biển lớn nhất cả nước với hơn
600.000 ha và 82% trong số này là diện tích nuôi tôm sú, do bởi đặc thù của
từng tỉnh khác nhau, do đó diện tích và các mô hình nuôi tôm của mỗi tỉnh
cũng khác nhau như Cà Mau 0,4 tấn/ha/năm, Kiên Giang 0,2 tấn/ha/năm, Sóc
Trăng 0,54 tấn/ha/năm (Trích bởi Trần Văn Việt, 2006).
Bảng 2.2: Diện tích nuôi tôm sú ở ĐBSCL
Tỉnh

Mau
Bạc
Liêu
Sóc
Trăng
Trà
Vinh
Bến
Tre
Tiền
Giang
Kiên
Giang
Long
An
Diện
tích (ha)
224.00
109.26
41.28
15.79

2.5 Sơ lược về tỉnh Trà Vinh
2.5.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Trà Vinh
Hình 2.1: Bản đồ tỉnh Trà Vinh
Trà Vinh là một tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long. Tổng diện tích tự
nhiên là 222.515,03 ha (theo số liệu thống kê đất đai 2003).
Vị trí dịa lý giới hạn từ: 9
0
31’46’’ đến 10
0
04’5’’ vĩ độ Bắc là 105
0
57’16’’ đến
106
0
36’04’’ kinh độ Đông.
- Phía Bắc, Tây – Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long
8
- Phía Đông giáp tỉnh Bến Tre với sông Cổ Chiên
- Phía Tây giáp tỉnh Sóc Trăng với Sông Hậu.
- Phía Nam, Đông – Nam giáp biển Đông với hơn 65 km bờ biển.
Trung tâm tỉnh lỵ nằm trên Quốc lộ 53, cách thành phố Hồ Chí Minh gần 200
km và cách thành phố Cần Thơ 100 km. Tổng diện tích tự nhiên 2.225 km
2
,
chiếm 5,63% diện tích vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và 0,67% diện tích cả
nước, Trà Vinh có 7 huyện và 1 Thị xã, gồm các huyện: Càng Long, Tiểu Cần,
Cầu Kè, Châu Thành, Trà Cú, Cầu Ngang, Duyên Hải và thị xã Trà Vinh.
2.5.2 Tài nguyên thiên nhiên
+ Rừng và đất rừng
Rừng và đất rừng tỉnh Trà Vinh có diện tích 24.000 ha nằm dọc 65 km bờ biển

3.000-4.000 tấn, khai thác thường xuyên từ 2.000-2.500 tấn. Nguồn lợi thủy
sản vùng ven biển Trà Vinh bao gồm nguồn lợi cửa sông, rừng ngập mặn và
vùng nước ven biển có độ sâu 30-40 m nước vào bờ. Nguồn cá ven biển có 40
họ, 78 giống và 150 loài gồm cá biển ven bờ, cá nước lợ và cá di cư. Trữ
lượng cá vùng cửa sông ven biển Trà Vinh trên diện tích lưới quét năm 1994
là 62 tấn (khu cửa sông), 274 tấn cá nổi và cá tầng giữa; khu nước mặn và lợ là
9.063 tấn, cá nổi và cá tầng giữa là 63.470 tấn. Tổng trữ lượng khu cửa sông,
ven biển là 72.869 tấn, khả năng khai thác (50%) là 36.434 tấn.
Bãi tôm cửa Định An diện tích khoảng 20.000 ha là bãi tôm lớn nhất trong 5
bãi tôm ở dãi ven biển Đồng Bằng sông Cửu Long. Ước tính trữ lượng tôm
biển tại hai bãi tôm chính là 97-212 kg/ha (Bắc Cung Hầu) và 64-249 kg/ha
(Cửa Định An); tổng sản lượng tôm biển của Trà Vinh khoảng 4.300-11.000
tấn/năm. Tôm càng đứng sau tôm biển về giá trị kinh tế ở thủy vực Trà Vinh
có 11 loài, trong đó có tôm càng xanh, tôm trứng, tép bò, tôm sông. Có thể
khai thác mỗi năm 2.000-3.000 tấn mực; 35-49 tấn sò huyết/năm; trữ lượng
nghêu khoảng 168-210 tấn.
Trà Vinh là tỉnh ở hạ nguồn sông Cửu Long, độ cao địa hình từ 0-5 m. Về mặt
địa chất, toàn bộ tỉnh là trầm tích trẻ với nguồn gốc phù sa sông biển, vì vậy
khoáng sản ở Trà Vinh chỉ có cát san lắp, cát xây dựng không đáng kể và một
số ít sét gạch ngói.
2.6 Sinh học – kỹ thuật nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng
2.6.1 Đặc diểm sinh học
Tôm sú
10
- Phân loài: Tôm sú (Tên tiếng Anh: Giant/Black Tiger Prawn) được
định loại là:
Ngành: Arthropoda
Lớp: Crustacea
Bộ: Decapoda
Họ chung: Penaeidea

0
C ,khoảng thích hợp 15-25
0
C
Khoảng biến động PH từ 6,5-9 thích hợp từ 7,5-8,5.
Độ kiềm thích hợp từ 80-160 ppm.
Nồng độ oxy hòa tan từ 5-7 mg/l.
Nền đáy thích hợp cho tôm phát triển là bùn cát, cát bùn.
Tôm sú là loài ăn tạp, tập tính ăn và loại thức ăn thay đổi theo từng giai đoạn
phát triển của cơ thể. Khi mới sinh (1-2 ngày tuổi) dinh dưỡng bằng noãn
hoàn. Giai đoạn ấu trùng ăn tảo, luân trùng vật chất hữu cơ đã phân hủy.
Giai đoạn hậu ấu trùng ăn tảo và đông vật phù du. Giai đoạn trưởng thành thức
ăn là các loài giáp xác, bivavia, giun nhiều tơ và ấu trùng của các loài sống
đáy.
Đặc điểm sinh trưởng của tôm sú là không liên tục và được đặc trưng bởi sự
gia tăng đột ngột về khối lượng thân và chiều dài cơ thể sau mỗi lần lột xác,
quá trình lột xác diễn ra không đều nhau và tùy thuộc vào điều kiện dinh
dưỡng, môi trường và từng giai đoạn phát triển của tôm.
Trong ao nuôi tôm tần số lột xác giảm ở độ mặn 32-40‰ và tăng cao hơn ở
những ao có độ mặn từ 15-20‰ (Manik và ctv, 1979). Ngoài ra, tốc độ sinh
trưởng của tôm còn phụ thuộc vào loại thức ăn, chất lượng thức ăn, các yếu tố
môi trường và các giai đoạn phát triển của tôm.
Đến giai đoạn trưởng thành tôm bắt đầu thành thục sinh dục và tiến hành giao
vỹ, tôm cái nhận tinh từ tôm đực, sau đó tôm cái di cư ra biển để thực hiện quá
trình sinh sản. Số trứng đẻ tùy thuộc vào kích thước, trọng lượng tôm mẹ.
Trong sinh sản nhân tạo người ta phải tiến hàn cắt mắt tôm mẹ để chúng thành
thục sinh dục. Tôm trong đầm nuôi vỗ thành thục thường cho ít trứng và chất
12
lượng tôm giống kém hơn so với tôm bắt ngoài tự nhiên. Sức sinh sản của tôm
sú 200.000-1.200.000 trứng/tôm cái.

vàng nâu hoặc xanh nâu nhẹ trong những ngày đẻ trứng. Tôm đực chỉ có
nhiệm vụ đưa các túi tinh vào túi chứa tinh của con cái, con cái sẽ đẻ sau vài
giờ. Sự quấn quít nhau giữa con đực và con cái bắt đầu vào buổi chiều và có
liên quan chặt chẽ với cường độ ánh sáng. Sự thoái lui của trứng đang phát
triển diễn ra rất nhanh và sự phân cắt của trứng diễn ra chủ yếu ở thời gian đẻ.
Quá trình sinh sản được bắt đầu bằng sự nhảy lên đột ngột và bơi nhanh của
con cái, quá trình này chỉ diễn ra trong khoảng 1 phút. Phản ứng của lớp vỏ
can cái xảy ra rất nhanh và sự phân đốt đầu tiên diễn ra trong vài giây. Số
lượng trứng tùy theo kích cỡ của tôm mẹ. Nếu tôm có khối lượng 30-45 gam
thì số lượng trứng từ 100.000 – 250.000, trứng có đường kính khoảng 0,22
mm. Sự phát triển của trứng từ sau khi đẻ đến khi giai đoạn đầu tiên của
nauplius diễn ra tong khoảng 14 giờ.
2.6.2 Kỹ thuật nuôi
Tôm sú
Là hình thức nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn bên ngoài chủ yếu là thức ăn
viên có chất lượng cao. Thức ăn tự nhiên không quan trọng. Mật độ thả cao từ
25-40 tôm bột/m
2
(tiêu chuẩn ngành thủy sản Việt Nam, 2002). Diện tích ao
nuôi từ 0,5-1ha, tối ưu là 1 ha. Ao xây dựng rất hoàn chỉnh, cấp và tiêu nước
hoàn toàn chủ động, có trang bị đầy đủ và các phương tiện máy móc, có điện
và giao thông thuận lợi, nên sễ quản lý và vận hành.
Nhược điểm của mô hình này là kích cỡ tôm thu hoạch nhỏ (30-35 con/kg),
giá bán thấp, chi phí vận hành cao, lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm thấp.
14
Bảng 2.3: Đặc tính kỹ thuật của mô hình thâm canh (Past và Apud et al, 1983)
Tôm thẻ chân trắng
Giai đoạn mới thả phải cho con giống ăn đầy đủ kể cả thức ăn công nghiệp và
thức ăn cao đạm tươi sống như hầu, hà, cá tươi xay nhuyễn để có giống khỏe,
giống chóng lớn.

Thay nước (%/ngày)
10-20
Cách thay nước
Máy bơm
Cỡ ao (ha)
0,25-2
Hình dạng
Vuông/chữ nhật
Mức nước (m)
1,5-2
Tỉ lệ sống
80-90
Vụ/năm
2,5-1
Lao động (người/ha)
0,5-1
15
thường là 12 con/m
2
; ao sâu trên 1,2 m mật độ từ 12 – 18 con/m
2
; ao
cao sản khép kín mật độ là 50-65 con/m
2
.
- Quản lý chăm sóc
+ Nhiệt độ nước từ 20 – 30
0
C
+ Độ mặn từ 5 – 30 tốt nhất là 10 – 25

- Sản lượng
- Mật độ thả
- FCR
- Tỷ lệ sống
- Hiệu quả kinh tế
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu bằng phương pháp: phỏng vấn trực tiếp các hộ nuôi
tôm sú và tôm thẻ chân trắng thâm canh thông qua bảng câu hỏi soạn sẵn
(phương pháp định ngạch theo địa bàn nghiên cứu).
17
Các nhóm biến chính thu thập số liệu sơ cấp:
Thông tin chung về nông hộ
Kết cấu mô hình NTTS
- Tổng diện tích mặt nước nuôi (m
2
)
- Tên loài nuôi
- Thời điểm thả giống (tháng….)
- Thời điểm thu hoạch (tháng… )
Quản lý ao
- Số lần sên vét (lần/năm)
- Chế độ thay nước (số lần/số ngày)
- Mật độ thả (con/m
2
)
- Kích cỡ con giống (g/con)
Tổng lương thức ăn sử dụng (KG)
Thu hoạch
- Phương pháp thu
- Khối lượng thu hoạch (kg)

Windows để nhập dữ liệu, sử lý thống kê và tính các giá trị trung bình, độ lệch
chuẩn , giá trị tối đa và tối thiểu… Phần mềm SPSS để so sánh thống kê một
số chỉ tiêu kinh tế và kỹ thuật giữa 2 mô hình và Word để viết báo cáo.
19
CHƯƠNG IV
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Trà Vinh
Năm 2008 Trà vinh có 26.152 hộ nuôi tôm sú, với số lương giống thả
2.397,420 triệu con trên diện tích là 26.385,3 ha, sản lượng đạt được
17.371,59 tấn (Sở Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Trà Vinh, 2008).
Trước tình hình diễn biến phức tạp của thời tiết làm cho môi trường nước nuôi
tôm thay đổi đột ngột, môt số hộ nôn nóng thả nuôi trước thời vụ điều kiện
môi trường không thuận lợi, tôm nuôi bị chết xã thảy ra bên ngoài nhưng chưa
qua xử lý làm cho dịch bệnh lây lan nhanh, ngay từ đầu vụ nuôi tôm bị thiệt
hại nhiều so với tổng lượng số giống thả 1.350 triệu con trên 14.620 hộ.
Mặt khác, người nuôi đã có ý thức nhiều trong công việc chọn giống qua kiểm
tra PCR, nhưng do nguồn tôm bố mẹ phụ thuộc vào tự nhiên nên chất lượng
con giống không đồng đều và có xu hướng giảm dần. Trong quá trình nuôi,
khi gặp điều kiện bất lợi về thời tiết thì xuất hiện phổ biến bệnh teo gan, phân
trắng và mầm bệnh phát triển nhanh và lan rộng. Đa số các ao nuôi công
nghiệp đều gặp các bệnh này, có thể trị hết nhưng thời gian nuôi kéo dài, tôm
chậm lớn, chi phí tăng cao nên giảm về hiệu quả kinh tế.
Ngoài ra, thị trường tiêu thụ tôm sú bị thu hẹp, giá tôm thương phẩm giảm, các
chi phí đầu vào như thức ăn, thuốc, hoá chất và nhiên liệu… đều tăng dẫn đến
nhiều hộ nuôi đạt năng suất mà hiệu quả kinh tế không cao.
Bảng 4.1: Diện tích và sản lượng tôm sú tỉnh Trà Vinh
Nội dung
2005
2006
2007

4.2 Khía cạnh kỹ thuật nuôi của mô hình nuôi tôm sú và tôm thẻ
4.2.1 Kết cấu ao nuôi
Tổng diện tích đất sử dụng NTTS của mô hình nuôi tôm sú là 2,26±4,17 ha/hộ
và tôm thẻ là 1,75±3,12 ha/hộ, diện tích trung bình của hộ nuôi tôm sú cao hơn
diện tích trung bình của hộ nuôi tôm thẻ vì các hộ nuôi tôm sú đã được phát
triển lâu năm và có đầu tư lớn nên có diện tích rộng hơn. Tỷ lệ ao nuôi có diện
tích từ 0,3-0,4 ha (33,33%) chiếm cao nhất trong mô hình nuôi tôm sú, tiếp
đến là số ao có diện tích nhỏ hơn 0,3 ha (30,30%) . Tỷ lệ ao nuôi có diện tích
0,4-0,5 ha chiếm 12,12%, ao có diện tích 0,5-0,6 ha và ao có diện tích lớn hơn
0,6 ha đều chiếm tỷ lệ 12,12% (Hình 4.1).
30.30
33.33
12.12
12.12
12.12
0.00
5.00
10.00
15.00
20.00
25.00
30.00
35.00
<0.3 0.3-0.4 0.4-0.5 0.5-06 >0.6
ha
%
Hình 4.1.Tỷ lệ tổng diện tích của ao nuôi tôm sú
21
30.77
23.08

sử dụng ao lắng để xử lý nước trước khi cấp vào ao nuôi và có diện tích bình
quân lần lượt là 0,29±0,37 ha/hộ và 0,62±1,46 ha/hộ (Bảng 4.2).
Nhìn chung kết cấu ao nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng không khác nhau
nhưng tỷ lệ dện tích ao lắng của tôm thẻ chân trắng cao hơn tôm sú do tôm thẻ
chân trắng là đối tượng nuôi mới chỉ được nuôi trong vùng qui hoạch nên đa
số những cá thể hoặc hợp tác xã có sự đầu tư đúng mức các biện pháp kỹ thuật
mới được phép nuôi.
22
Bảng 4.2: Thông tin về kết cấu ao
Diễn giải
Tôm sú
Tôm thẻ chân
trắng
Tổng diện tích nuôi (ha/ao)
2,26±4,17
1,75±3,12
Diện tích mặt nước của ao nuôi (ha/ao)
1,28±1,94
0,98±1,56
Diện tích ao lắng (ha/hộ)
0,29±0,37
0,62±1,64
Mực nước trong ao nuôi (m)
1,27±0,11
1,28±0,12
Tỷ lệ diện tích ao lắng/mặt nước nuôi
(%)
20,54±17,69
41,54±30,90
4.2.2 Thời vụ nuôi

thu hoạch sau 4-6 tháng nếu tôm không bệnh và thường bắt đầu thu từ tháng 5
(ÂL) đến tháng 10 (ÂL), riêng những hộ thả từ trước Tết thì thu sớm hơn ở
tháng 4 (ÂL). Tôm thẻ chân trắng cũng tương tự tôm sú, thời gian bắt đầu thả
giống từ tháng Giêng (ÂL) đến tháng 5 (ÂL) thời gian kéo dài từ 2.5-3.5 tháng
nuôi. Và tôm thẻ chân trắng được thu hoạch vào khoảng tháng 3-8 (ÂL). Như
23
vậy tôm thẻ chân trắng và tôm sú đều được thả giống từ tháng 1 (ÂL) tôm thẻ
chân trắng có thời gian nuôi ngắn hơn nên thu hoạch sớm hơn rồi tiếp tục thả
vụ 2 sau 1-1.5 tháng. Tuy nhiên vẫn có những hộ nuôi không đúng theo mùa
vụ, có thể thả trước hoặc sau so với đa số những hộ thả cùng thời điểm nên
năng suất không cao (Hình 4.3).
0
0
0.00
3.03
30.30
30.30
24.24
0
0
22.22
27.78
5.56
16.67
5.56
0
5
10
15
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status