phân tích thực trạng và chiến lược marketing địa phương của huyện đảo phú quốc – tỉnh kiên giang - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ HOÀI PHƯƠNG

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ CHIẾN LƯỢC
MARKETING ĐỊA PHƯƠNG CỦA HUYỆN ĐẢO
PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành QTKD Marketing
Mã số ngành: 52340115

12-2014


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ HOÀI PHƯƠNG
MSSV: 4115602

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ CHIẾN LƯỢC
MARKETING ĐỊA PHƯƠNG CỦA HUYỆN ĐẢO
PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QTKD MARKETING
Mã số ngành: 52340115

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

phương không chỉ nắm vững nhu cầu của khách hàng mà còn hiểu biết sâu sắc
các quy trình ra quyết định của khách hàng để có giải pháp thích hợp thu hút khách
hàng về với địa phương. Marketing ở đây được hiểu với ý nghĩa rộng nhất. Các
nhà đầu tư trong và ngoài nước, các nhà nhập khẩu, các cư dân, khách du lịch,
các tổ chức chỉ đến những nơi chào mời đúng cái mà họ cần. “Tương lai phát triển
các địa phương không tùy thuộc vào vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên.
Tương lai phát triển của địa phương tùy thuộc vào chuyên môn, kỹ năng đóng
góp, phẩm chất của con người và tổ chức tại “địa phương” (Philip Kotler). Do vậy,

1


tác giả chọn đề tài “Phân tích thực trạng và chiến lƣợc Marketing địa phƣơng
của huyện đảo Phú Quốc – tỉnh Kiên Giang” để nghiên cứu.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung: Phân tích thực trạng marketing địa phương của huyện
đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm thu hút
khách du lịch về với địa phương, đồng thời nâng cao đời sống kinh tế của huyện
đảo.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích, đánh giá tình hình kinh tế xã hội của huyện đảo Phú Quốc, tỉnh
Kiên Giang trong thời gian qua.
- Phân tích thực trạng và xây dựng chiến lược Marketing địa phương trong thu
hút khách du lịch của huyện đảo Phú Quốc.
- Đề xuất giải pháp Marketing địa phương cần thiết nhằm phát huy lợi thế của
Phú Quốc.
1.3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu: Phân tích, đánh giá thực trạng Marketing địa
phương và đề xuất định hướng chiến lược Marketing địa phương ở lĩnh vực phát
triển du lịch tạo cơ sở cho việc xây dựng các chương trình phát triển Marketing

hàng, và kết hợp các nổ lực marketing nhằm quảng bá thương hiệu địa phương đến
thị trường mục tiêu”.
3. Phạm Lê Hồng Nhung, Đinh Công Thành và Nguyễn Quỳnh Như, 2012. Phân
khúc thị trường khách Du lịch tại Phú Quốc. Kỷ yếu Khoa học Trường Đại học Cần
Thơ. Mục tiêu chính của nghiên cứu nhằm xác định các tiêu chí và tiến hành phân
khúc thị trường khách du lịch tại Phú Quốc. Kết quả nghiên cứu đã xác định được
ba phân khúc khách đối với du lịch Phú Quốc: nhóm khách tìm kiếm sự gần gũi với
thiên nhiên, nhóm khách thích tham gia các hoạt động vui chơi giải trí khám phá
thiên nhiên và tìm kiếm sự mới lạ, và nhóm du khách tìm sự hạnh phúc và lãng mạn.
Nghiên cứu cũng mô tả chi tiết đặc điểm nhân khẩu học, hành vi khi đi du lịch và
những yêu cầu về lợi ích mong muốn có được khi đi du lịch tại Phú Quốc đối với
từng nhóm phân khúc.
4. Hồ Đức Hùng, 2005. Thực trang và giải pháp marketing địa phương của
Tp.Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Sài Gòn. Bài nghiên cứu đã chỉ rõ quy trình tiếp thị
địa phương gồm năm bước cơ bản bao gồm: (1) Đánh giá hiện trạng địa phương, (2)
Xây dựng tầm nhìn và mục tiêu, (3) Thiết kế các chiến lược tiếp thị, (4) Hoạch định
chương trình tiếp thị và (5) Thực hiện, kiểm soát. Bên cạnh đó, tác giả còn khẳng
định “Thực hiện marketing địa phương tuy có phần đặc trưng riêng biệt, tuy nhiên
nhìn chung thì không khác nhiều so với marketing một sản phẩm hay dịch vụ”.

3


=> Qua việc lược khảo các tài liệu, tác giả rút ra được: nếu muốn tạo dựng và
quảng bá thương hiệu một địa phương ra bên ngoài thì Du lịch là một yếu tố vô
cùng quan trọng. Bên cạnh đó, phải xem địa phương như một sản phẩm, dịch vụ cần
phải chào hàng, và kết hợp nổ lực marketing để quảng bá được hình ảnh của địa
phương đó. Và công việc bắt đầu từ việc xây dựng quy trình tiếp thị địa phương,
xem nó như một công thức để dựa vào để biết được muốn thành công cần phải bắt
đầu từ đâu, cần làm những gì, làm theo trình tự nào, ai làm và làm như thế nào?

và buôn bán. Trong thời đại Internet nơi mà vốn, công nghệ và ý tưởng lưu chuyển
tự do giữa biên giới các quốc gia, địa phương lại nắm giữ một vai trò quan trọng
mới.
Trong quyển Marketing lãnh thổ của Vũ Trí Dũng (2011) có đề cập:
- Địa phương được xác định là một khu vực địa lý được giới hạn bởi sự phân
định địa giới hành chính hay địa hình tự nhiên. Địa phương có thể là một xã, một
huyện, một tỉnh, một vùng, một quốc gia hay một khu vực. Mỗi địa phương có
những đặc điểm cụ thể về văn hóa, lịch sử, truyền thống được đặc trưng bởi hành vi
dân cư sống ở đó. Điều hành địa phương là một hệ thống chính quyền với các cơ chế
lập pháp, hành pháp và tư pháp. Địa phương muốn phát triển phải có các cơ quan,
doanh nghiệp tạo ra của cải vật chất và công ăn việc làm cho dân cư ở đó. Một địa
phương có những thuộc tính tâm lý, ảnh hưởng tới cách hành vi quan hệ giữa những
người ở địa phương đó với nhau và với những người ngoài địa phương.
- Một địa phương là một lãnh thổ không gian địa lý chính trị xét về mặt vật chất.

5


- Một địa phương là một điểm gồm các yếu tố văn hóa, lịch sử và dân tộ.
- Một địa phương là một thành phố trung tâm và các khu vực dân cư quanh đó.
- Một địa phương là một thị trường với những thuộc tính khác nhau có thể xác
định.
- Một địa phương là địa bàn hoạt động của một ngành công nghiệp và một quần
thể những ngành nghề tương tự cũng những nhà cung cấp của chúng.
- Địa phương là một khái niệm tương đối trong so sánh. Đó là một vùng lãnh thổ,
không phải là một quốc gia. Có nhiều việc quốc gia phải lo, phải vận hành, địa
phương thì không. Có nhiều việc cấp quốc gia mới có quyền lực đó, địa phương thì
không.
- Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (WB, 2002) thì Phát triển kinh tế
địa phƣơng là quá trình trong đó các cơ quan nhà nước, đơn vị kinh doanh và các tổ

- Yếu tố mềm:
+ Phát triển chuyên biệt.
+ Chất lượng cuộc sống.
+ Năng lực của lực lượng lao động và chuyên môn.
+ Văn hóa.
+ Quan hệ giữa con người.
+ Phong cách quản trị.
+ Sự năng động và linh hoạt.
+ Tính chuyên nghiệp khi tiếp xúc với thị trường.
+ Tinh thần sáng tạo trong kinh doanh.
2.1.1.2 Marketing địa phương
a) Khái niệm
Marketing địa phương còn khá mới mẻ ở Việt Nam tuy nhiên trên thế giới khái
niệm này đã không còn xa lạ gì. Đã có nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ hay địa
phương áp dụng kiến thức marketing vào việc tiếp thị hình ảnh của chính mình và
đã thu được những thành công, biến địa phương của mình thành những nơi phát
triển bền vững. Các nước NICs ở châu Á như, Hàn Quốc, Singapore, Hong Kong,
v.v... là các ví dụ điển hình.
- Theo Nguyễn Châu Hùng Vũ (2011) thì Marketing địa phương (Tiếp thị địa
phương) là một bộ phận các giải pháp thực hiện chiến lược phát triển kinh tế của địa
phương. Đó là những hoạt động nhằm trình bày, giới thiệu, quảng bá hình ảnh của
một địa phương nhắm thu hút nhà đầu tư, kinh doanh, những người du lịch, những cư

7


dân đến địa phương đó tìm những cơ hội đầu tư kinh doanh hay thoả mãn các nhu cầu
tiêu dùng của mình, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Dựa
trên nền tảng lý thuyết và phương pháp Marketing, nhưng không phải cho sản phẩm
mà cho một địa phương. Marketing địa phương đòi hỏi sự tận tâm, trách nhiệm của

8


riêng, cho nên chương trình marketng cụ thể của chúng phải phù hợp với từng vấn
đề từng trường hợp cụ thể.
- Quan điểm marketing địa phương cho rằng marketing địa phương khác biệt với
marketing sản phẩm và dịch vụ đó là nhà marketing. Đối với thương hiệu sản phẩm
hữu hình hay dịch vụ, nhà marketing là bộ phận marketing của doanh nghiệp. Với
thương hiệu địa phương thì nhà tiếp thị bao gồm nhiều thành phần khác nhau như
chính quyền địa phương, cộng đồng kinh doanh và ccộng đồng dân cư. Tuy nhiên
cũng cần chú ý rằng theo quan điểm marketing hiện đại thì thì marketing không phải
là chức năng của của bộ phận marketing mà là của mọi thành viên trong công ty.
Như vậy chức năng marketing của một địa phương là công việc của mọi thành viên
trong địa phương đó. Do đó, về mặt nguyên tắc thì không có sự khác biệt giữa nhà
marketing thương hiệu địa phương và nhà marketing thương hiệu sản phẩm, dịch
vụ.
- Kotler & ctg (2002) có đề cập về việc marketing địa phương liên quan đến 3
nhóm chính: Thứ nhất là khách hàng của một địa phương. Cũng như marketing
thương hiệu sản phẩm hay một dịch vụ, marketing địa phương cần xác định thị
trường hay khách hàng mục tiêu của địa phương mình. Khách hàng mục tiêu của
một địa phương có thể bảo gồm các nhà đầu tư, các nhà sản xuất kinh doanh, các
nhà xuất khẩu, các tổng hành dinh của các công ty, khách du lịch, hội nghị và các
chuyên viên. Thứ hai là các yếu tố của địa phương để marketing cho khách hàng.
Các yếu tố marketing này có thể là cơ sở hạ tầng, con người, hình tượng và chất
lượng sống và các đặc trưng hấp dẫn của địa phương. Cuối cùng là các nhà hoạch
định marketing địa phương. Nhóm các nhà hoạch định marketing địa phương bao
gồm chính quyền địa phương, cộng đồng kinh doanh, và công nhân tại địa phương
đó. Những thành phần này tham gia vào việc hoạch định kế hoạch marketing cho
một địa phương.
- Các chương trình marketing hiệu quả sẽ giúp địa phương trở nên hấp dẫn

cái nhìn của khách hàng (theo mục đích, yêu cầu, quyền lợi của khách hàng).
+ Những cách thức cải thiện.
- Xây dựng chiến lược tiếp thị địa phương là tìm cách phát huy những đặc thù
riêng của địa phương mình nhằm hấp dẫn những thị trường và khách hàng muốn
nhắm tới, vì thế nó phải dựa trên tiêu chí coi nhà đầu tư và khách hàng là trọng tâm.
Cạnh tranh giữa các địa phương với nhau không chỉ là chất lượng sản phẩm và giá cả
rẻ, mà còn cạnh tranh bằng cơ chế - chính sách, sự tận tụy - chuyên nghiệp của bộ
máy nhà nước, thái độ ứng xử văn minh lịch sự của người dân, uy tín của doanh
nhân và thương hiệu của doanh nghiệp.
- Mục tiêu của tiếp thị địa phương là trả lời câu hỏi: Làm thế nào để một địa
phương (tỉnh, thành phố, vùng, quốc gia, khu vực) thu hút, duy trì và phát huy được
các nguồn lực quan trọng như nhân tài, vốn đầu tư, khách du lịch để đạt được các
mục tiêu phát triển trong môi trường toàn cầu hóa và địa phương hóa ngày càng trở
nên cạnh tranh. Mặc dù tiếp thị địa phương có nhiều điểm tương đồng so với tiếp thị
một sản phẩm cụ thể, nhưng do địa phương là một loại "sản phẩm đặc biệt" nên tiếp

10


thị địa phương có nhiều đặc trưng quan trọng. Một địa phương không chỉ là một
không gian địa lý, một thị trường với một cộng đồng cư dân nhất định mà còn bao
gồm các yếu tố "vô hình" như văn hóa, xã hội, lịch sử, dân tộc. Hơn nữa, vì sự tồn
tại và phát triển của một địa phương có liên quan mật thiết với các địa phương xung
quanh nên địa phương dưới góc nhìn tiếp thị không bị giới hạn bởi địa lý hành chính
mà bao gồm cả những vùng ảnh hưởng xung quanh.
- Các công cụ để tiếp thị địa phương: Quảng bá hình ảnh bằng các phương tiện
thông tin, truyền thông, giao tiếp truyền khẩu của con người, bằng sản phẩm hàng
hóa của địa phương đó. Tổ chức các hoạt động tại địa phương để lôi kéo khách hàng
đến địa phương bằng sự kiện lịch sử, con người, sự kiện thời sự đang hay sẽ diễn ra.
- Các yếu tố quyết định sự thành công của tiếp thị địa phương

địa phương đó. Có địa phương thu hút đầu tư vào ngành này nhưng lại hạn chế
ngành nghề khác. Thí dụ nếu địa phương muốn giải quyết nạn thất nghiệp cần lực
lượng lao động cao như ngành dệt, may. Nhưng nếu địa phương cần phát triển công
nghiệp hiện đại như công nghệ tin học thị lại kích thích vào các ngành nghệ thuộc
lĩnh vực này.
- Khách du lịch là thị trường mục tiêu thứ hai của các nhà marketing địa phương.
Thị trường khách du lịch có thể chia thành 2 nhóm chính: nhóm khách kinh doanh
và không kinh doanh. Nhóm kinh doanh bao gồm những người đến một địa phương
nhằm vào mục đích kinh doanh như tham gia các hội thảo kinh doanh, xem xét vị trí
đầu tư, v.v… Khách không kinh doanh bao gồm khách du lịch thuần túy, tham thân
nhân, bạn bè,… Những người nay đều đem lại lợi ích cho địa phương như thu nhập,
công ăn việc làm, thuế, thông qua các chỉ tiêu của họ trong quá trình lưu lại ở địa
phương đó. Để làm tăng lợi ích này, các nhà marketing địa phương luôn tìm cách
hấp dẫn họ để họ có thể chi tiêu nhiều hơn và kéo dài thời gian lưu trú của họ cũng
như kích thích nhiều du khách đến tham quan địa phương mình. Chính vì vậy, các
địa phương đều có chiến lược thu hút khách du lịch, kinh doanh và không kinh
doanh thông qua các phòng xúc tiến du lịch và văn phòng xúc tiến hội thảo kinh
doanh, cũng như nhiều chương trình quảng bá khác.
Tuy nhiên, chiến lược marketing thực hiện thống nhất cho từng địa phương khác
nhau mà nó phụ thuộc vào mục tiêu của từng địa phương. Có những địa phương tập
trung vào khách du lịch ngắn hạn, chi tiêu ít trong thời gian du lịch, nhưng với số
lượng lớn. Có địa phương tập trung vào nhóm nhỏ khách du lịch nhưng với thời
gian lưu trú lâu, và chi tiêu lớn. Có địa phương chỉ tập trung vào những nhóm khách
du lịch đặc biệt nào đó mà không khuyến khích một số nhóm khác. Thí dụ Hong
Kong và Singapore rất thành công trong việc thu hút khách tham dự các hội nghị,
hội chợ thông qua các phuowg tiện, kiến trúc hiện đại. Trung tâm quốc tế hội thảo
và hội chợ Hong Kong (HKCEC) là 2 nơi thu hút lượng khach này lớn nhất ở châu
Á là các ví dụ điển hình trong thị trường này.
Người lao động cũng là một thị trường mục tiêu của các địa phương. Các địa
phương tìm cách thu hút những người có những kỹ năng nào đó đến định cư tại địa

phương.
Marketing hình tượng địa phương được thực hiện thông qua việc tạo nên một
hình tượng tốt, hấp dẫn cho các thị trường mục tiêu của địa phương. Nhiều địa
phương ở châu Á đã cố gắng marketing hình tượng địa phương mình để kích thích
thị trường mục tiêu. Cách thực hiện thường thông qua việc xây dựng các “luận cứ
độc đáo” cho thương hiệu địa phương mì”Singapore – một con rồng kinh tế châu
Á”. Tuy nhiên cũng cần chú ý là không phải tất cả các “luận cứ độc đáo” đều độc

13


đáo. Có những luận cứ marketing gây nhàm chán khách hàng do sự bắt chước hay
sao chép của các địa phương khác. Thí dụ như ở châu Á, khách hàng nghe quá nhiều
những câu khẩu hiệu như “Một con rồng nhỏ của châu Á” hay là “Thay đổi và thách
thức”,…
Các nổ lực để tạo dựng một hình tượng địa phương để marketing cho khách hàng
mục tiêu thường chưa đủ sưc để hấp dẫn họ. Vì vậy các nhà marketing địa phương
thường phải thực hiện công cụ marketing tiếp theo, đó là marketing đặc trưng của
địa phương. Marketing đặc trưng của địa phương thường được thưc hiện thông qua
việc đầu tư vào các điểm nổi bật của địa phương mình. Các điểm nổi bật này có thể
do thiên nhiên ưu đãi, do lịch sử để lại, hay do địa phương xây dựng nên. Bali là
một ví dụ điển hình để marketing khách du lịch thông qua các bãi biển tuyệt đẹp,
vùng Agra ở Ấn Độ với đền Taj Mahah, hay Campuchia với Angkor Wat, Kuala
Lumpar với tòa nhà chọc trời Petronas,…
Một chiến lược phổ biến trong marketing đặc trưng hấp dẫn địa phương là xây
dựng các trung tâm hội thảo và hội chợ với qui mô lớn và hiện đại. Các trung tâm
này thường thu hút số lượng lớn khách hội nghị với các nhà kinh doanh hàng năm.
Ví dụ như trung tâm hội thảo và hội chợ Pusan (PUEXCO), một trung tâm tầm cỡ
quốc tế đã thu hút khoảng 200.000 lượt khách hàng năm.
Hình tượng địa phương và đặc trưng hấp dẫn vẫn chưa thể diễn tả đầy đủ giá trị

dụng quan điểm này, thì nhà marketing địa phương là tất cả thành viên trong địa
phương đó.
Nhà marketing một địa phương có thể chia thành 2 nhóm chính. Nhóm thứ nhất
bao gồm các tổ chức và các cá nhân thuộc địa phương đó. Họ là chính quyền địa
phương, các các tổ chức, đơn vị kinh doanh và không kinh doanh, khu vực nhà nước
cũng như khu vực tư nhân, cũng như các cư dân của địa phương đó. Nhóm thứ hai
bao gồm các tổ chức trung ương như chính quyền trung ương, các tổ chức xúc tiến
du lịch và thương mại, cũng như các đại sứ quán và các tổ chức đại diện của địa
phương và quốc gia ở trên thế giới.
2.1.2 Quy trình tiếp thị địa phƣơng
Như đã trình bày về mặt marketing thì địa phương cũng là một thương hiệu.
Thương hiệu địa phương hay thương hiệu sản phẩm và dịch vụ đều có những đặc
trung cơ bản giống nhau cũng như có các đặc thù riêng của chúng. Vì vậy, quy trình
marketing thương hiệu địa phương cũng tương tự như qui trình marketing thương
hiệu sản phẩm và dịch vụ. Theo Hồ Đức Hùng (2005, trang 5) thì “Qui trình tiếp thị
địa phương có thể được chia thành 5 bước cơ bản: đánh giá tình hinhd hiện tại của
địa phương, xáy dựng tầm nhìn và mục tiêu phát triển của địa phương, thiết kế chiến
lược tiếp thị cho địa phương, hoạch định chương trình thực hiện chiến lược
marketing cho địa phương, thực hiện và kiểm soát quá trình marketing”.

15


Đánh giá

Xây

Thiết kế

Hoạch định

các địa phương cạnh tranh chính với địa phương mình, nhận dạng xu hướng phát
triển, xây dựng ma trạn SWOT và xác định các vấn đề cốt lõi cần phải giải quyết.
+ Các đặc trưng về kinh tế, địa lý nhân khẩu như dân số, sức mua, thị trường bất
động sản, thị trường sức lao động, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, chất lượng
sống,… là các yếu tố cơ bản nhất được các nhà marketing địa phương đánh giá
trước tiên để tìm ra đặc trưng hấp dẫn của địa phương.
+ Công việc tiếp theo của nhà marketing địa phương là xác định đối thủ cạnh
tranh của địa phương mình. Khi xác định đối thủ cạnh tranh các địa phương cần phải
xác định trong từng lĩnh vực cụ thể mà địa phương mình muốn theo đuổi. Lấy ví dụ,
Hong Kong, Singapore và Sydney là đối thủ cạnh tranh với nhau trong vị trí trung
tâm tài chính châu Á. Tuy nhiên, cũng tương tự như marketing thương hiệu sản
phẩm hay dịch vụ của các doanh nghiệp, cạnh tranh và hợp tác luôn gắn liền với
nhau. Có nhiều công ty có thể là đối thủ cạnh tranh nhưng cũng có thể là các đối tác
kinh doanh với nhau. Ví dụ điển hình là thương hiệu kết hợp (Co-branding). Như
trường hợp của Sony và Ericksson, đã hợp tác thành công phát triển trên thị trường.
Trong markting địa phương vấn đề cũng tương tự như vậy. Hai địa phương có thể là
đối thủ cạnh tranh nhưng cũng có thể là đối tác với nhau. Hai địa phương phối hợp
với nhau thành một thương hiệu kết hợp (twin cities) cũng được hình thành trong

16


marketing địa phương. Ví dụ điển hình là Hong Kong và Quảng Châu là “thương
hiệu địa phương kết hợp” trong marketing địa phương. Vì vậy các nhà marketing địa
phương cần xem xét địa phương nào có thể sử dụng chiến lược marketing thương
hiệu kết hợp để tránh cạnh tranh.
+ Kế tiếp, nhà marketing địa phương phải xác định xu hướng phát triển chính
trên thế giới, khu vực và các địa phương lân cận. Lấy ví dụ như trong phạm vi tổng
thể, tác động của xu hướng toàn cầu hóa, xu hướng chặt chẽ hơn về môi trường, xu
hướng phát triển của công nghệ thông tin trong phạm vi toàn cầu. Trong từng khu

+ Xây dựng tầm nhìn cho địa phương cũng không đơn thuần dựa vào hướng phát
triển mà phải xem xét một cách tổng thể nhiều yếu tố. Các yếu tố này bao gồm sự
phối hợp các đặc trưng hấp dẫn, thị trường mục tiêu của địa phương, các mục tiêu
ngắn hạn cũng như dài hạn mà địa phương theo đuổi, và các tiền đề đòi hỏi cho tầm
nhìn. Cũng như trong marketing thương hiệu của doanh nghiệp, nhà marketing cần
xây dựng tầm nhìn phù hợp cho địa phương mình. Khi xây dựng tầm nhìn cần dựa
vào một số nguyên tắc. Thư nhất là giải pháp thay thế, nghĩa là địa phương phải xây
dựng một số viễn cảnh để từ đó rút ra được một tầm nhìn tổng thể. Hai là tầm nhìn
phải được thực hiển bởi nhóm những nhà marketing có liên quan và trách nhiệm đối
với sự phát triển của địa phương. Ba là cần có những ý kiến tư vấn khách quan. Bốn
là tầm nhìn phải mang tính dài hạn (5 – 10 năm). Cuối cùng, một tầm nhìn phải
được chấp nhận và phê chuẩn.
- Thiết kế chiến lược marketing địa phương:
+ Một khi địa phương đã có tầm nhìn và các mục tiêu phát triển cần đạt, nhà
marketing địa phương cần thiết kế các chiến lược marketing để đạt được các mục
tiêu đề ra. Khi thiết kế một chiến lược marketing cho địa phương, nhà marketing địa
phương chú ý hai vấn đề chính. Một là phải xem xét lợi thế nào mà địa phương
mình có được để có thể thực hiện thành công chiến lược đó. Hai là, địa phương có
đủ nguồn lực để thực hiện thành công chiến lược đề ra hay không.
+ Rất nhiều nhà marketing cho rằng marketing địa phương đồng nghĩa với việc
chiêu thị, quảng bá địa phương đó. Tuy nhiên, chiêu thị quảng bá một địa phương
đóng vai trò ít quan trọng nhất trong quá trình marketing một thương hiệu địa
phương. Tương tự trong marketing thương hiệu sản phẩm và dịch vụ của doanh
nghiệp, marketing thương hiệu địa phương là làm cho thương hiệu mình thỏa mãn
nhu cầu của thị trường mục tiêu hiệu quả hơn thương hiệu của đối thủ cạnh tranh.
Để thành công, một địa phương phải làm sao người dân, khu vực kinh doanh hài
lòng với cộng đồng, cũng như đáp ứng được những kì vọng của nhà đầu tư, khách
du lịch.
+ Có nhiều cách thức một địa phương cần phải đầu tư để gia tăng chất lượng
sống, khả năng thu hút khách du lịch. Những thành phần tạo nên một chiến lược

đầu tư có thể trong hay ngoài nước lại có nhiều phân khúc nhỏ nữa. Như vậy, nhà
marketing địa phương phải dựa vào tầm nhìn và mục tiêu của địa phương, cũng như
đặc điểm của thị trường để có chiến lược phân khúc thị trường và chọn lựa thị
trường mục tiêu thích hợp cho địa phương mình. Trên cơ sở đó thì nhà marketing
địa phương mới xây dựng được hình tượng của địa phương cho thị trường mục tiêu
cụ thể.
+ Một số nguyên tắc cơ bản của một hình tượng địa phương mà nhà marketing
địa phương cần chú ý khi xây dựng. Một là hình tượng phải có tính thuyết phục
khách hàng mục tiêu. Nghĩa là có giá trị và tạo được niềm tin cho họ. Một hình
tượng có giá trị khi nó phù hợp với thực trạng của địa phương đó. Hơn nữa, khách
hàng phải tin vào nó. Ví dụ khi Hội dồng Phát triển Thương mại Hong Kong
marketing một hình tượng là “Siêu thị kinh doanh châu Á”. Hình tượng này có thể
phù hợp với thực trạng của Hong Kong tuy nhiên các nhà đầu tư có thể nghi ngờ là
19


tổ chức này tung ra một câu khẩu hiệu quá đáng. Thứ hai, một hình tượng phải đơn
giản nhưng hấp dẫn và mang tính phân biệt cao. Một hình tượng đơn giản sẽ giúp
tránh nhầm lẫn cho khách hàng mục tiêu. Tuy nhiên để tạo được ấn tượng tốt cho họ
thì ấn tượng của địa phương phải hấp dẫn. Đặc trưng hấp dẫn sẽ kích longd ha muốn
“tiêu dùng” địa phương, nghĩa là họ muốn lựa chọn địa phương là điểm du lịch. Một
điểm quan trọng nữa là hình tượng của một địa phương cần phải phân biệt với hình
tượng các địa phương là đối thủ cạnh tranh. Ví dụ có nhiều thành phố châu Á dùng
một hình tượng là “Một nơi mến khách” hay “môi trường kinh doanh tốt nhất”. Một
hình tượng mà địa phương mình và địa phương đối thủ cạnh tranh cùng có thì không
dễ thu hút được khách hàng.
+ Một khi đã xây dựng được hình tượng cho địa phương, các nhà marketing
thường sử dụng các công cụ để thể hiện hình tượng đó. Có nhiều cách thể hiện. Thứ
nhất, nhà marketing có thể dùng luận cứ marketing (thường gọi là câu khẩu hiệu) để
truyền đạt hình tượng của địa phương cho khách hàng mục tiêu. Ví dụ như ở Nam

những gì mình phải thực hiện. Hai là, nó giúp cho nhà quản trị marketing hình dung
những khó khăn có thể gặp khi phải thực hiện chương trình marketing. Hơn nữa,
một chương trình marketing chi tiết sẽ giúp cho nhà quản trị dễ dàng trong việc dự
đoán ngân sách thực hiện. Vì vậy, thiếu những mục tiêu cơ bản có thể đe dọa sự
phát triển của địa phương mình.
- Thực hiện và theo dõi, kiểm tra:
+ Xây dựng tầm nhìn và và xác định mục tiêu hợp lý, thiết kê được các chiến
lược và chương trình thực hiện có tính khả thi cao cũng không giúp gì cho địa
phương nếu chúng không được thực hiện và kiểm soát một cách có hiệu quả. Vì vậy
công việc của nhà marketing địa phương là phải quản trị quá trình thực hiện chiến
lược marketing. Tình trạng của một địa phương phụ thuộc rất nhiều vào khả năng
hoạch định chiến lược cũng như khả năng thực hiện của các nhà marketing địa
phương.

21


Khả năng
chiến lược
Cao

Không ổn định
Thất bại

Thành công
May rủi

Thấp

Khả năng

marketing cần phải có nhiều dạng thông tin khác nhau, như thông tin về khách hàng,
thông tin về đối thủ canh tranh. Vì vậy các nhà markting cần phải thực hiện các dự
án nghiên cứu thị trường thích hợp để thu thập thông tin cần thiết với độ tin cậy cao.
Qui trình marketing và các chiến lược marketing địa phương sẽ được tác giả sử
dụng để phân tích và xây dựng các chương trình hành động để quảng bá hình ảnh
địa phươn của huyện đảo Phú Quốc trong những chương tiếp theo.
2.2 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phƣơng pháp thống kê mô tả được sử dụng trong nghiên cứu nhằm phân
tích đánh giá số liệu về tình hình hoạt động du lịch trên địa bàn huyện đảo Phú
Quốc. Kết quả phân tích phương pháp này sẽ cho thấy tình hình chung về quy mô
hoạt động, doanh thu, khách du lịch,... của Phú Quốc.
2.2.2 Phƣơng pháp phân tích mô hình ma trận SWOT(Strengths,
Weaknesses, Opportunities, Threats)
+ Để thực hiện phân tích SWOT cho vị thế cạnh tranh của một công ty (trong
bài nghiên cứu này nó còn có nghĩa là một địa phương), người ta thường tự đặt các
câu hỏi sau:
(1) Strengths (Điểm mạnh): Lợi thế của mình là gì? Công việc nào mình làm
tốt nhất? Nguồn lực nào mình cần, có thể sử dụng? Ưu thế mà người khác thấy được
ở mình là gì? Phải xem xét vấn đề từ trên phương diện bản thân và của người khác.
Cần thực tế chứ không khiêm tốn. Các ưu thế thường được hình thành khi so sánh
với đối thủ cạnh tranh. Chẳng hạn, nếu tất cả các đối thủ cạnh tranh đều cung cấp
các sản phẩm chất lượng cao thì một quy trìh sản xuất với chất lượng như vậy không
phải là ưu thế mà là điều cần thiết phải có để tồn tại trên thị trường.
(2) Weaknesses (Điểm yếu): Có thể cải thiện điều gì? Công việc nào mình làm
tồi nhất? Cần tránh làm gì? Phải xem xét vấn đề trên cơ sở bên trong và cả bên
ngoài. Người khác có thể nhìn thấy yếu điểm mà bản thân mình không thấy. Vì sao
đối thủ cạnh tranh có thể làm tốt hơn mình? Lúc này phải nhận định một cách thực
tế và đối mặt với sự thật.
(3) Opportunities (Cơ hội): Cơ hội tốt đang ở đâu? Xu hướng đáng quan tâm
nào mình đã biết? Cơ hội có thể xuất phát từ sự thay đổi công nghệ và thị trường dù


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status