So sánh một số tổ hợp dưa chuột lai f1 ăn tươi có triển vọng trồng trong vụ xuân hè và vụ đông 2011 tại gia lâm, hà nội - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP -HÀ NỘI
*********

PHẠM VĂN DÙNG

SO SÁNH MỘT SỐ TỔ HỢP DƯA CHUỘT LAI F1 ĂN
TƯƠI CÓ TRIỂN VỌNG TRỒNG TRONG VỤ XUÂN HÈ
VÀ VỤ ĐÔNG 2011 TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số

Người hướng dẫn

: 60.62.01

: 1. TS. TRẦN THỊ MINH HẰNG
2. TS. PHẠM MỸ LINH

HÀ NỘI - 2012


LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc.

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

ii


MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

114

LỜI CẢM ƠN

114

MỤC LỤC

114

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

114

DANH MỤC BẢNG

114

1.

MỞ ĐẦU


3

2.2

Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh đối với sinh trưởng và phát triển
của cây dưa chuột

8

2.3

Sản xuất và tiêu thụ dưa chuột trên Thế giới và Việt Nam

16

2.4

Tình hình nghiên cứu về chọn giống dưa chuột trong và ngoài nước

22

3.

NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

34

3.1


xuân và vụ đông 2011

38

4.1.1

Thời gian từ gieo đến khi ra lá thật

40

4.1.2

Thời gian từ trồng đến khi ra hoa cái

40

4.1.3

Thời gian từ trồng đến thu quả đầu

41

4.1.4

Thời gian từ trồng đến kết thúc thu

42

4.2


Số hoa cái trên cây

47

4.3.2

Số quả trên cây

48

4.3.3

Tỷ lệ đậu quả

49

4.3.4

Khối lượng trung bình quả

50

4.3.5

Năng suất cá thể

50

4.3.6


Màu sắc quả và màu sắc gai quả

55

4.4.4

Đăc điểm thịt quả và chất lượng thử nếm

57

4.4.5

Một số chỉ tiêu sinh hóa của các tổ hợp lai trong vụ xuân hè và
vụ đông 2011

57

4.5

Tình sâu bệnh hại trên các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm

59

4.5.1

Tình hình sâu hại

59

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

Đề nghị

64

TÀI LIỆU THAM KHẢO

66

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐVT

: Đơn vị tính

đ

: Đồng

FAO

: Tổ chức nông lương thế giới

GAP

: Hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt

Ha

: Hécta

IPM


Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

v


DANH MỤC BẢNG
STT
2.1

Tên bảng

Trang

Sản xuất dưa chuột của 5 nước có sản lượng lớn nhất thế giới từ
năm 2004-2008

17

2.2

Sản xuất dưa chuột toàn thế giới (1991 – 2008)

18

2.3

Tình hình thương mại dưa chuột trên thế giới từ năm 2005-2007

19


43

4.5

Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp dưa
chuột trong vụ xuân hè năm 2011

4.6

Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp dưa
chuột trong vụ Đông năm 2011

4.7

51

Năng suất thực thu và năng suất lý thuyết của các tổ hợp dưa
chuột trong vụ Đông năm 2011

4.9

47

Năng suất thực thu và năng suất lý thuyết của các tổ hợp dưa
chuột trong vụ xuân hè năm 2011

4.8

46

4.17

58

Tình hình nhiễm bệnh của các tổ hợp chuột trong vụ xuân hè
năm 2011

4.16

58

Một số chỉ tiêu chất lượng của các tổ hợp dưa chuột trong vụ
Đông 2011

4.15

56

Một số chỉ tiêu chất lượng của các tổ hợp dưa chuột trong vụ
xuân hè 2011

4.14

56

Một số đặc điểm chất lượng quả của các tổ hợp dưa chuột trong
vụ Đông năm 2011

4.13


vùng trồng dưa chuột tập trung như Vĩnh Phúc, Hưng Yên và Hà Nam đạt
năng suất trên 230 tạ/ha, lớn hơn nhiều so với năng suất bình quân của cả
nước (số liệu của Tổng cục thống kê năm 2009). Những địa phương có diện
tích trồng dưa chuột tập trung càng lớn thì năng suất càng cao và ngược lại.
Với diện tích ngày càng phát triển như vậy nên nhu cầu về giống ở các
vùng trồng dưa là khá lớn. Tại các vùng trồng dưa hiện nay, giống đang được
sử dụng là một số giống địa phương, ngoài ra hầu hết là các giống nhập nội.
Các giống dưa chuột địa phương thường là các giống năng suất thấp, độ đồng
đều kém nên ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người sản xuất. Giống nhập
nội thường có giá hạt giống cao và không chủ động được nguồn giống.
Nghiên cứu chọn tạo giống dưa chuột ăn tươi là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm của Viện Nghiên cứu Rau quả và là yêu cầu bức thiết của
sản xuất hiện nay. Trong giai đoạn vừa qua Viện Nghiên cứu Rau quả đã
nghiên cứu chọn tạo được rất nhiều các dòng tự phối dưa chuột có khả năng
kết hợp cao. Các dòng dưa chuột đó được lai luân giao (Diallen) để tạo ra các
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..
1


tổ hợp lai phục vụ công tác nghiên cứu đánh giá xác định các tổ hợp lai triển
vọng nhằm giới thiệu giống mới cho sản xuất. Đề tài “So sánh một số tổ hợp
dưa chuột lai F1 ăn tươi có triển vọng trồng trong vụ xuân hè và vụ đông
2011 tại Gia Lâm- Hà Nội” mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu góp phần
giải quyết những khó khăn và nhiệm vụ nêu trên.
1.2

Mục đích và yêu cầu

- Mục đích
Xác định được các tổ hợp dưa chuột lai F1 có khả năng sinh trưởng,

2.1

Nguồn gốc, phân bố và phân loại cây dưa chuột

2.1.1 Nguồn gốc và phân bố
Dưa chuột (Cucumis sativus L.) thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae), là
cây rau ăn quả được trồng trọt từ rất lâu, nó được biết cách đây khoảng 5.000
năm (Tatlioglu, 1993) [56]. Song, hiện chưa có tài liệu nào xác minh chính
xác về nguồn gốc của cây dưa chuột và vẫn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau về
nguồn gốc của loại cây này. Phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất với
quan điểm do De Candolle đưa ra năm 1912 là dưa chuột có nguồn gốc từ
Tây Bắc Ấn Độ, nơi tồn tại các loài họ hàng hoang dại với số lượng nhiễm
sắc thể 2n = 14. Loài hoang dại, Cucumis hardwickii là dạng dưa chuột quả
nhỏ đắng có gai quả cứng và thưa được tìm thấy ở chân núi Himalaya (De
Candolle, 1984)[31]; (IBPGR, 1983) [37]; (Robinson, Decker, 1999) [48];
(Siemonsma, Kasem, 1994) [51]. Cũng có những ý kiến cho rằng dưa chuột
có nguồn gốc tại Nam Á và được trồng trọt từ rất lâu, khoảng 3000 năm. Từ
những nơi này dưa chuột được đưa đến các vùng như Tây châu Á, các nước
Bắc Phi và Nam Âu (Bose, Som, 1986) [26].
Ở Trung Quốc dưa chuột đã được trồng rất sớm, có thể trước công
nguyên. Các giống dưa chuột địa phương của Trung Quốc có nhiều tính trạng
lặn như quả dài, hình thành quả không cần qua thụ phấn (dạng parthenocarpy),
quả không chứa chất gây đắng (cucurbitaxin), gai quả màu trắng. Từ kết quả
qua các cuộc thám hiểm cùng với sự nghiên cứu của mình, nhà thực vật
Vavilốp (1926) [57]; Tatlioglu (1993) [56] cho rằng, Trung Quốc là Trung tâm
khởi nguyên thứ hai của cây dưa chuột. Nhiều tài liệu cổ của Trung Quốc cho
rằng dưa chuột được trồng tại đây từ khoảng 100 năm trước Công nguyên.
Mesherov và Kobylyanskaya (1981) [42] chứng minh rằng, dưa chuột ở Nhật
Bản và Trung Quốc có cùng nguồn gốc. Điều này cũng phù hợp với ý kiến của
3

các đột biến tự nhiên, dưa chuột đã phân hoá thành nhiều kiểu sinh học
(biotype). Việc phân loại chúng theo đặc tính sinh thái và di truyền học giúp
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..
4


cho công tác nghiên cứu giống sử dụng đúng đắn và dễ dàng các đối tượng
nghiên cứu. Các nhà phân loại đã cố gắng nhiều trong lĩnh vực này, tuy nhiên,
cho đến nay vẫn chưa có một bản phân loại thống nhất (Ram J. Singh 2007,
Cucurbit (cucurbitaceae; Cucumis spp, cucurbita spp., Citrullus spp.), In:
Genetic Resources, Chromosome Engineering, and Crop Improvement:
Vegetable).
Theo bảng phân loại của Gabaev (1932) (dẫn theo Trần Khắc Thi,
1985) [15], loài C. sativus được phân chia thành 3 loài phụ:
1. Loài phụ Đông Á - ssp - Righidus Gab
2. Loài phụ Tây Á - ssp - Graciolos Gab
3. Dưa chuột hoang dại - ssp - Agrostis Gab, Var. hardwickii (Royla)
Alef.
Theo đặc điểm quả giống và vùng phân bố, các loài phụ trên được chia
thành 14 thứ. Loài phụ Đông Á có 8 thứ, loài phụ Tây Á có 5 thứ và dưa
chuột hoang dại hardwikii.
Bảng phân loại của Gabaev về cơ bản là hợp lý, nhưng khi sử dụng bản
phân loại này thường gặp nhiều khó khăn trong chọn giống (Timofeev và cs.,
1972) (dẫn theo Trần Khắc Thi, 1985) [15].
Trên cơ sở nghiên cứu sự tiến hoá sinh thái của loài C. sativus, Filov
(1940) đã đưa ra bảng phân loại chính xác hơn. Theo bảng này, dạng hoang
dại được đưa vào nhóm phụ ssp Agrosuis Gab. Các dạng khác thuộc loài
trồng trọt và tập trung vào 6 loài phụ mang đặc trưng của sự phân hóa sinh
thái rõ rệt (Mai Thị Phương Anh và cs., 1996); (Nguyễn Văn Hiển, 2000) [1],
[4]. Các loài phụ đó bao gồm:

c. Pr. Manshuricus Fil - Nhóm Manshuri
d. Pr. Abchansicus Fil - Nhóm Abkhazi
Căn cứ vào đặc điểm hình thái và sinh học, hầu như các giống dưa
chuột Việt Nam nằm trong loài này nhưng không hoàn toàn thuộc một trong 4
nhóm sinh thái trên.
5/ ssp. Himalaicus Fil - Nhóm Himalaya
6/ ssp. Hermaphroditus Fil - Nhóm dưa chuột lưỡng tính.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

6


Ngoài ra, nhà chọn giống dưa chuột Liên Xô, tiến sĩ Tkachenco (1967)
đã phân loài C. sativus thành 3 thứ: dưa chuột thường, dưa chuột lưỡng tính
và dưa chuột hoang dại (Tạ Thu Cúc, 2007) [2].
Nhà di truyền học Ba Lan Kubicki (1969) đã chia C. sativus thành 3 thứ
(Nguyễn Văn Hiển, 2000) [4]:
1. Var. Vulgaris - dưa chuột trồng, gồm 2 nhóm sinh thái địa lý là Đông
và Tây Á.
2. Var. Hermaphroditus - dưa chuột lưỡng tính
3. Var. Hardwikii - dưa chuột hoang dại
Bảng phân loại này mặc dù chỉ dựa trên quan điểm hình thái thực vật
nhưng tương đối thuận lợi khi sử dụng trong công tác nghiên cứu giống.
Theo Libner Nonneck (1989), C. sativus L. là dưa chuột trồng, là cây rau
thương mại quan trọng. Một số cây khác cũng được gọi là dưa chuột như: C.
flexucosu và C. melo (dưa chuột rắn); dưa chuột Tây Ấn Độ (Gherkin): C.
anguria L.; dưa chuột tròn C. prophetarum; dưa chuột trắng Trung Quốc Var.
conomon hoặc dưa chuột sao: Sicyos angulatus (Tạ Thu Cúc, 2007) [2].
Gần đây, Jeffrey (1990) [37] đã đưa ra bảng phân loại mới, theo ông, họ
Bầu bí (Cucurbitaceae) bao gồm 118 chi, 825 loài (species). Theo bảng phân

ngoại cảnh cũng chính là nghiên cứu đặc điểm sinh học của cây là hết sức
quan trọng là cơ sở để xây dựng quy trình canh tác phù hợp với yêu cầu ngoại
cảnh của cây.
2.2.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những yếu tố môi trường ảnh hưởng rất lớn
đến quá trình sinh trưởng, phát triển của các cây trong học bầu bí cũng
như cây dưa chuột.
Dưa chuột cũng có thể sinh trưởng tốt hơn trong điều kiện nhiệt độ
lạnh so với dưa thơm và dưa hấu. Theo Benett và cs. (2002), cây dưa chuột
sinh trưởng tốt nhất trong điều kiện nhiệt độ thích hợp dao động từ 18-240C,
nhiệt độ tối thấp là 150C và nhiệt độ tối cao là 330C. Nhiều kết quả nghiên
cứu cho thấy khi nhiệt độ vượt khỏi ngưỡng cho phép các quá trình trao đổi
chất trong cây bị ngừng trệ, nếu giai đoạn này kéo dài cây sẽ chết khi nhiệt độ
trên 400C (Mai Phương Anh, 1999) [1]. Cũng tương tự khi nhiệt độ dưới
150C, quá trình đồng hóa và dị hóa bị rối loạn, cây sinh trưởng còi cọc, đốt
ngắn lại, lá hoa bị nhỏ lại…(Tạ Thu Cúc, 2007) [2].
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

8


Đối với mỗi giai đoạn sinh trưởng, phát triển, cây dưa chuột phản ứng
rất khác nhau đối với nhiệt độ. Khi nhiệt độ 250C, dưa chuột có thể nảy mầm
trong thời gian 3 ngày sau gieo và khi nhiệt độ 200C phải mất 6-7 ngày [51].
Theo nghiên cứu của Tạ Thu Cúc (2007), cây dưa chuột yêu cầu khí hậu ấm
áp để nảy mầm, nhiệt độ tối thiểu cho sự nảy mầm của hạt từ 15,50C, nhiệt độ
tối đa là 40,50C và nhiệt độ thích hợp nhất là 16-350C [2].
Bose và cs, (1986) cho rằng nhiệt độ đất là nhân tố quan trọng quyết
định thời gian nảy mầm nhanh hay chậm hạt, thời gian cho thu hoạch sớm
hay muộn và tổng thời gian sinh trưởng của cây. Nhiệt độ đất thích hợp nhất

tố. Trong trường hợp bị lạnh kéo dài, số lượng độc tố tăng làm chết các tế bào
(Ivanov, 1975). Đó chính là nguyên nhân làm cây bị tổn thương vì lạnh, đó
cũng là sự phá vỡ quá trình trao đổi chất thông thường [15].
Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh tác động rất lớn đến quá trình sinh trưởng phát
triển của cây dưa chuột. Từ các nghiên cứu phản ứng của cây đối với điều kiện
nhiệt độ không khí và nhiệt độ đất cho thấy cây dưa chuột có thể sinh trưởng phù
hợp trong điều kiện vụ xuân hè và vụ đông vùng Đồng bằng sông Hồng.
2.2.2 Ánh sáng
Trong các yếu tố ngoại cảnh, ngoài yếu tố về nhiệt độ thì ánh sáng như
độ dài chiếu sáng, cường độ ánh sáng và chất lượng ánh sáng có ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây dưa chuột. Dưa chuột là
cây ưa sáng, sinh trưởng thích hợp trong những vùng nhiều ánh sáng, ánh
sáng nhiều cũng là yếu tố thúc đẩy quá trình hình thành nhiều hoa cái. Ngoài
ra, dưa chuột thuộc nhóm cây ưa sáng ngày ngắn, hoa cái ra sớm, ở vị trí thấp
và quả phát triển thuận lợi. Độ dài chiếu sáng thích hợp cho cây sinh trưởng
và phát dục là 10 - 12 giờ/ngày. Nắng nhiều có tác dụng tới hiệu suất quang
hợp, làm tăng năng suất, chất lượng quả, rút ngắn thời gian lớn của quả.
Cường độ ánh sáng thích hợp cho dưa chuột trong phạm vi 15 -17 klux. Tuy
nhiên, phản ứng của dưa chuột đối với ánh sáng còn phụ vào giống và thời vụ
gieo trồng. Yếu tố nhiệt độ và thời gian chiếu sáng có ảnh hưởng lớn đến quá
trình sinh trưởng, phát triển của cây. Khi thời gian chiếu sáng dài, nhiệt độ
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..
10


cao (>300C) sẽ thúc đẩy sự sinh trưởng thân lá, hoa cái xuất hiện muộn (Mai
Thị Phương Anh, 1996); (Tạ Thu Cúc, 2007) [1], [2]. Kết quả nghiên cứu của
Tarakanov G. (1975) cho thấy: các giống dưa chuột ở gần các Trung tâm phát
sinh thứ nhất (Việt Nam và Ấn Độ) khi trồng trong điều kiện mùa hè ở
Maxcova hầu như không ra hoa và hoàn toàn không tạo quả (Trần Khắc Thi,

thiện màu sắc quả xanh và thời gian bảo quản dài hơn của quả dưa chuột
trong trong nhà lưới thì phải đảm bảo mật độ, khoảng cách trồng thích hợp và
cần phải chú ý tới tầm quan trọng của cường độ ánh sáng và chất lượng ánh
sáng (Lin., Jolliffe, 2008) [41].
Theo các tác giả hiệp hội khoa học trồng trọt Mỹ (1997) việc tỉa thưa và
che bóng đã ảnh hưởng đến động thái tăng chiều dài quả, màu sắc quả lúc thu
hoạch và phổ diệp lục của vỏ quả.
Trong thí nghiệm về phản ứng ánh sáng của cây dưa chuột với độ dài
ngày đã xếp giống Quế Võ của Việt Nam là giống điển hình của giống
ngày ngắn. Cây trồng trong điều kiện chiếu sáng 16 giờ trong suốt thời
gian thí nghiệm (2,5 tháng) không hình thành hoa cái, còn hoa đực chỉ xuất
hiện 1 tháng sau khi tất cả các công thức khác (chiếu 8,12,14 giờ) hoa đực
bắt đầu tàn. Các tác giả cũng cho rằng sự phản ứng với chu kỳ chiếu sáng
của giống này mang tính chất lượng. Cũng giống này, chiếu sáng bằng đèn
neon với cường độ 2,4 w/m2 đến 8,8 w/m2 phản ứng của cây cũng khác
nhau, ở lượng bức xạ lớn sự hình thành hoa cái bị ức chế, cây xuất hiện
phản ứng ngày dài [15].
Cây dưa chuột sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện cường độ
ánh sáng dao động trong khoảng 15.000 - 17.000 lux (Mai Thị Phương
Anh và cs,1996); (Nguyễn Văn Thắng và cs,1999); (Trần Khắc Thi và cs,
1995); (Trần Khắc Thi, 1999); (Trần Khắc Thi, 2003) [1], [12], [16],
[17], [18], [19].
Mức độ phản ứng của cây với thời gian chiếu sáng trong quá trình sinh
trưởng cá thể cũng khác nhau. Qua các kết quả nghiên cứu, Box (1957) đã kết
luận: ở tuổi cây 20 - 25 ngày sau nảy mầm có phản ứng thuận với độ dài chiếu
sáng dưới 12 giờ. Theo Saito (1981) thì cây con dưa chuột có mức độ mẫn cảm
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

12


13


không thể phục hồi được khi chuyển sang trồng trong điều kiện có cường độ
ánh sáng đầy đủ (Torakanov và cs, 1977).
Thời gian chiếu sáng ngày ngắn ảnh hưởng đến giới tính cây dưa chuột.
Như kết quả nghiên cứu cho thấy trong điều kiện chiếu sáng dài (16 giờ)
trong thời gian 2,5 tháng thì cây dưa chuột sẽ không hình thành hoa cái và do
đó không cho thu hoạch. Vì vậy xác định thời vụ thích hợp để cây dưa chuột
sinh trưởng trong giai đoạn có thời gian chiếu sáng ngày ngắn mới có khả
năng cho thu hoạch cao.
2.2.3 Độ ẩm đất và không khí
Do có nguồn gốc nơi ẩm ướt ven rừng, đất đai nơi nguyên sản màu mỡ
nên bộ rễ của dưa chuột kém phát triển, khả năng chịu hạn và chịu úng kém
hơn các cây khác trong họ (cây bí ngô, dưa hấu, dưa thơm). Hai yếu tố ngoại
cảnh lượng mưa và độ ẩm cùng với nhiệt độ cao là những nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến nhiều cây trong họ bầu bí nhiễm bệnh ở lá và thân cành (Tạ Thu
Cúc, 2007) [2]. Kết quả nghiên cứu của Sakiyama Hajime và cs. (2002) cũng
phù hợp với các nghiên cứu của Sanden P.A., và cs, (1985) độ ẩm không khí
có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng, sự thoát hơi nước, sự hấp thu dinh
dưỡng, sự hình thành chất khô ở cây dưa chuột còn non trong điều kiện nhiệt độ
cao [49], [50].
Trong quả dưa chuột chứa tới 95% nước, nên yêu cầu về độ ẩm của
cây rất lớn. Do có bộ lá lớn, hệ số thoát nước cao cho nên dưa chuột được coi
là cây có nhu cầu nước nhiều nhất trong các cây thuộc họ bầu bí. Độ ẩm đất
thích hợp cho dưa chuột là 85 - 95%, không khí là 90 - 95%. Khi bị thiếu
nước nghiêm trọng sẽ xuất hiện quả dị hình (quả bị thắt ở giữa), quả đắng,
cây rất dễ bị nhiễm bệnh virus (Tạ Thu Cúc, 2007). Khi hạt nảy mầm yêu cầu
lượng nước bằng 50% khối lượng hạt. Thời kỳ thân lá sinh trưởng mạnh đến
ra hoa cái đầu yêu cầu độ ẩm đất là 70-80%. Thời kỳ ra quả rộ và quả phát

dưỡng từ đất ít hơn rất nhiều so với cây rau khác. Ví dụ tăng năng suất dưa
chuột lên 30 tấn/ha thì lượng NPK cây lấy đi từ đất là 170 kg/ha, trong khi đó
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

15


nếu tăng bắp cải lên 70 tấn/ha thì nó phải lấy đi từ đất là 630kg NPK (Tạ Thu
Cúc (2007); Siemonsma và cs (1994) [2], [51].
Kết luận của Aidy và Moustafa: tỷ lệ bón 1N: 1P2O5: 2K2O có hiệu quả tốt
nhất đến sinh trưởng và năng suất dưa chuột. Tuy nhiên sự chênh lệch về năng
suất là không khác nhau ở mức ý nghĩa, cũng theo 2 nhà khoa học thì ngoài phân
bón, mật độ cũng ảnh hưởng tới sinh trưởng và năng suất dưa chuột. Ở mật độ 40
(cm) (cây x cây) năng suất đạt cao hơn ở mật độ khác. Dưa chuột không chịu
được nồng độ phân cao nhưng lại rất nhạy cảm với sự thiếu dinh dưỡng đặc biệt
phân hữu cơ có tác dụng làm tăng năng suất dưa chuột rõ rệt. Theo Giurbixki
(1954), cây phát triển thân lá mạnh nếu tăng liều lượng đạm, do vậy làm hạn chế
quá trình tạo quả dưa chuột. Ngoài ra, các nghiên cứu khác của tác giả cho thấy:
khi cây đạt 10-15 ngày tuổi nên bón tăng lượng đạm, thời kỳ sau đó nên tăng
lượng lân, thời kỳ ra hoa, tạo quả nên bón nhiều kali. Kali thích hợp cho ra hoa cái
trong khi phân đạm có tác dụng ngược lại (Trần Khắc Thi, 1985) [15].
2.3

Sản xuất và tiêu thụ dưa chuột trên Thế giới và Việt Nam

2.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ dưa chuột trên Thế giới
Dưa chuột là loại rau ăn quả thương mại quan trọng, được trồng lâu đời
trên thế giới và trở thành thực phẩm của nhiều nước và được xếp thứ 4 trong
số các cây rau trồng phổ biến trên thế giới. Những nước dẫn đầu về diện tích
gieo trồng và năng suất là: Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Mỹ, Hà Lan, Thổ Nhĩ


Trung Quốc 1.503.343 1.553.341 1.603.600 1.652.755

2008
1.702.777

Diện

Iran

78.197

75.438

77.000

78.000

82.000

tích

Thổ Nhĩ Kỳ

60.000

60.000

60.000


Trung Quốc 25.564.516 26.558.493 27.357.000 28.049.900 28.247.373
Sản

Iran

1.715.024 1.720.690 1.721.000 1.720.000

1.800.000

lượng Thổ Nhĩ Kỳ 1.725.000 1.745.000 1.799.613 1.674.580

1.678.770

(tấn)

1.000.000

Nga
Mỹ

1.321.870 1.414.010 1.423.210 1.386.810
994.660

929.520

908.170

930.970

963.000


283,8

284,5

(tạ/ha) Nga

148,7

156,7

154,5

165,7

136,9

Mỹ

144,4

138,6

142,1

150,9

161,9

Trung Quốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status