Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh trở thành một quy luật tất yếu
và là động lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Mỗi doanh nghiệp đều phải tự
nâng cao khả năng cạnh tranh của mình để có thể tồn tại và phát triển, thực
hiện các mục tiêu của mình.
Trong quá trình thực tập và nghiên cứu tại công ty TNHH một thành
viên giấy Tân Trung Đức tôi đã chọn đề tài “Đẩy mạnh khả năng cạnh tranh
của sản phẩm bao bì của công ty TNHH một thành viên giấy Tân Trung
Đức”. Bài viết này tôi đã phân tích các khía cạnh nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh cho công ty TNHH một thành viên giấy Tân Trung Đức, nơi mà
tôi đã được các anh chị cán bộ giúp đỡ trong quá trình thực tập. Trong bài
chuyên đề thực tập này gồm các nội dung sau :
Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và cạnh tranh trong doanh
nghiệp.
Chương 2 : Đánh giá thực trạng cạnh tranh của công ty TNHH
một thành viên giấy Tân Trung Đức.
Chương 3 : Mốt số biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh
của công ty TNHH một thành viên giấy Tân Trung Đức.
Nguyễn Văn Khỏe Lớp: QTKDTM 47C
1
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ CẠNH TRANH
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh trong doanh nghiệp.
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm về cạnh tranh nhưng chúng ta có thể
hiểu cạnh tranh là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên
ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm hàng hóa dịch vụ hấp dẫn với người tiêu
dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và nâng cao vị
móc, công nghệ ...
Cạnh tranh là động lực thay đổi những cái cũ lạc hậu bằng những công
nghệ mới, phương thức mới có trình độ và hiệu quả cao hơn. Khi đó nền kinh
tế trở nên năng động hơn, hàng hóa được lưu thông nhanh hơn, chất lượng tốt
hơn phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng.
Nhưng mọi vấn đề đều có 2 mặt, cạnh tranh chỉ có thể phát huy hiệu
quả của nó khi mà được sự quản lý vĩ mô của nhà nước và tuân theo quy luật
của thị trường. Tức là nhà nước phải tạo ra khung pháp lý quản lý nền kinh tế
để tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh để phát triển, hỗ trợ
các doanh nghiệp có thể sử dụng tối đa nguồn lực bên trong và bên ngoài để
nâng cao năng lực cạnh tranh.
1.1.2.2 Vai trò của cạnh tranh đối với người tiêu dùng.
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ giúp người tiêu dùng được thỏa
mãn nhu cầu bằng hàng hóa, dịch vụ có chất lượng tốt hơn, giá thành hạ hơn
và thái độ phục vụ chu đáo hơn. Người tiêu dùng có khả năng nâng cao vai trò
của mình trong việc lựa chọn nhà cung ứng, loại sản phẩm dịch vụ... Khi mà
yêu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao thì càng làm cho cạnh tranh giữa
Nguyễn Văn Khỏe Lớp: QTKDTM 47C
3
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt, doanh nghiệp nào thỏa mãn
được những yêu cầu của khách hàng thì sẽ vươn nên chiếm lĩnh thị trường.
1.1.2.3 Vai trò của cạnh tranh đối với doanh nghiệp.
Cạnh tranh là con đường đi duy nhất để doanh nghiệp có thể tồn tại và
phát triển trên thị trường. Cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp năng động hơn
trong việc lựa chọn các chiến lược kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, phải
tìm ra các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, tiết kiệm chi phí,
hạ giá thành sản phẩm để có thể tạo ra ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt và nó sẽ loại bỏ những doanh nghiệp
yếu kém, không thay đổi và chỉ giữ lại những doanh nghiệp có năng lực cạnh
kỳ quan trọng.
Trong quá trình cạnh tranh các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả các
nguồn lực của mình, xây dựng chiến lược cạnh tranh đúng đắn đảm bảo thực
hiện theo đúng mục tiêu đã đề ra. Những doanh nghiệp thất bại sẽ phải rời
khỏi thị trường nhường lại đường đi cho các doanh nghiệp chiến thắng.
1.2.2. Căn cứ theo phạm vi kinh tế.
1.2.2.1 Cạnh tranh trong nội bộ ngành.
Cạnh tranh nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản
xuất hoặc kinh doanh một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó. Các doanh nghiệp
đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo ra sức ép trở
lại nên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh.
Trong một ngành, cấu trúc của ngành gồm 2 loại : Ngành tập trung
hoặc ngành phân tán. Ngành phân tán là ngành có rất nhiều doanh nghiệp
cạnh tranh với nhau nhưng không có doanh nghiệp nào có đủ khả năng chi
phối các doanh nghiệp còn lại. Ngành tập trung là ngành chỉ có một hoặc một
vài doanh nghiệp nắm giữ vai trò chi phối ( có thể coi là độc quyền).
Nguyễn Văn Khỏe Lớp: QTKDTM 47C
5
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
1.2.2.2 Cạnh tranh giữa các ngành.
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh về vốn, lao động, công nghệ,
khách hàng...của các ngành khác nhau nhằm thu được lợi nhuận cao hơn.
Ngành có tỷ suất lợi nhuận cao thì tương ứng với nó là mức độ rủi ro
cao cho nên khi các nhà đầu tư nên căn cứ vào nhiều yếu tố để có thể lựa chọn
được ngành kinh doanh phù hợp với khả năng của mình.
1.2.3 Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trường
Người ta chia thành 3 loại:
1.2.3.1Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều người bán,
người mua nhưng không có ai trong số họ đủ lớn để có khả năng làm ảnh
tiêu dùng đánh giá cao.
Theo quan niệm của các nhà sản xuất: Chất lượng sản phẩm là sự hoàn hảo
và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn,
quy cách đã xác định trước.
Xuất phát từ người tiêu dùng: Chất lượng sản phẩm là sự phù hợp của sản
phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng.
Theo Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO
9000, phần thuật ngữ 9000 đã đưa ra định nghĩa: "Chất lượng sản phẩm là
mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu". Yêu
cầu có nghĩa là những nhu cầu hay mong đợi được nêu ra hay tiềm ẩn.
Theo quan điểm hiện đại nói đến chất lượng tổng hơp bao gồm: chất lượng
sản phẩm, chất lượng dịch vụ sau khi bán và chi phí bỏ ra để đạt được mức
Nguyễn Văn Khỏe Lớp: QTKDTM 47C
7
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
chất lượng đó. Quan niệm này đặt chất lượng sản phẩm trong mối quan niệm
chặt chẽ với chất lượng của dịch vụ, chất lượng các điều kiện giao hàng và
hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực.
Trong môi trường phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, cạnh tranh trở thành
một yếu tố mang tính quốc tế đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát
triển của mỗi doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm trở thành một trong những
chiến lược quan trọng nhất làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Quan tâm đến chất lượng, quản lý chất lượng chính là một trong những
phương thức tiếp cận và tìm cách đạt được những thắng lợi trong sự cạnh
tranh gay gắt trên thương trường nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp.
Chất lượng sản phẩm làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp vì chất
lượng sản phẩm tạo ra sức hấp dẫn thu hút người tiêu dùng, làm cho người
tiêu dùng tin cậy vào sản phẩm của doanh nghiệp, nâng cao vị thế và phát
triển lâu dài cho doanh nghiêp trên thị trường
- Định giá nhằm mục tiêu phát triển các phân đoạn thị trường : Mục
tiêu này giúp doanh nghiệp có khả năng đứng vững, mở rộng hoặc kiểm soát
các phân đoạn thị trường trọng điểm. Yêu cầu doanh nghiệp cần có những
phân khúc thị trường có độ nhạy cảm về giá khác nhau và cần có sự quản lý
tốt nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu.
- Định giá nhằm mục tiêu cạnh tranh đối đầu : Doanh nghiệp đưa ra
mức giá “ tốt nhất” dưới con mắt khách hàng so với đối thủ cạnh tranh của
doanh nghiệp. Ưu điểm là tạo hình ảnh tốt đối với khách hàng và làm cho cầu
của doanh nghiệp tăng cao đặc biệt đối với khách hàng nhạy cảm về giá.
Nguyễn Văn Khỏe Lớp: QTKDTM 47C
9
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
Nhược điểm là tạo ra cuộc cạnh tranh mang tính tiêu diệt gây thiêt hại cho cả
hệ thống những người bán và có thể bị vi phạm luật bán phá giá.
- Định giá nhằm mục tiêu cạnh tranh không mang tính giá cả : Mục
tiêu này được thực hiện trên cơ sở kết hợp vai trò của giá với các tham số
khác của Marketing hỗn hợp trong kinh doanh. Doanh nghiệp sẽ đưa ra các
sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt, đáp ứng đồng bộ nhu cầu của khách
hàng, đúng thời hạn, thuận tiện ... Những yếu tố này sẽ vũ khí cạnh tranh chứ
không phải chỉ bằng giá.
1.3.2.2 Các chính sách định giá
- Chính sách giá thấp: Là chính sách giá thấp hơn thị trường để thu hút
khách hàng về phía mình. Chính sách giá này áp dụng khi doanh nghiệp mới
xâm nhập thị trường để thực hiện mục tiêu lôi kéo khách hàng chú ý và dùng
thử, khi áp dụng chính sách giá này cũng tạo ra doanh số bán cao, tăng thị phần.
- Chính sách giá cao : Doanh nghiệp có thể định giá cao hơn hẳn thị
trường. Đây còn gọi là chính sách giá “ hớt váng” thường được áp dụng để
chinh phục nhóm khách hàng không nhạy cảm về giá khi có sản phẩm hoàn
toàn mới, độc đáo. Định giá cao hay còn gọi là giá uy tín, khách hàng luôn
cho rằng “tiền nào của ấy”.
của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phải lựa chọn dạng kênh phân phối phù hợp với tính chất
hàng hóa, quy mô doanh nghiệp, địa lý, nhóm khách hàng trọng điểm, lực
lượng người trung gian và phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp. Hệ thống
kênh phân phối tác động rất lớn đến khả năng tiêu thụ của hàng hóa, sức cạnh
tranh của doanh nghiệp cho nên doanh nghiệp cần phải có những nghiên cứu
cụ thể trước khi đưa ra lựa chọn dạng kênh phân phối.
Trong kênh phân phối có nhiều nhà phân phối khác nhau, doanh
nghiệp cần phải đảm bảo quyền lợi và lợi ích cho các nhà phân phối để kênh
Nguyễn Văn Khỏe Lớp: QTKDTM 47C
11
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
phân phối hoạt động theo mục tiêu chung. Để làm được như vậy doanh
nghiệp cần có những chính sách hỗ trợ, đưa ra các hoạt động quảng cáo, xúc
tiến bán hàng, hỗ trợ về tài chính, kinh nghiệm … để các nhà phân phối có thể
hoàn thành được mục tiêu bán hàng.
Thông thường kênh phân phối của doanh nghiệp được chia thành 5 loại sau:
Sơ đồ 1 : Hệ thống kênh phân phối trong các doanh nghiệp.
1.3.4 Xúc tiến thương mại
Xúc tiến thương mại là các hoạt động có chủ đích trong lĩnh vực
marketing của các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán
hàng hóa và cung ứng dịch vụ thương mại. Xúc tiến thương mại bao gồm các
hoạt động chính như : quảng cáo, khuyến mại, hội trợ, triển lãm, bán hàng
trực tiếp, quan hệ công chúng và các hoạt động khuyếch trương khác.
Xúc tiến thương mại là một công cụ cạnh tranh hữu hiệu, có tác dụng
mạnh, yêu cầu khi thực hiện các công cụ xúc tiến doanh nghiệp cần phải
nghiên cứu và xây dựng chiến lược cụ thể để hoạt động có thể thu được kết
quả như mong muốn.
Nguyễn Văn Khỏe Lớp: QTKDTM 47C
12
Cơ cấu tổ chức bộ máy phải được hoàn thiện cho phù hợp với quy trình
nghiệp vụ kinh tế phát sinh và trình độ phát triển của doanh nghiệp. Phải xác
định rõ chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa các khâu và các cấp quản
trị của doanh nghiệp.
1.3.6 Các công cụ cạnh tranh khác.
1.3.6.1 Dịch vụ sau bán hàng
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt thì các dịch vụ sau bán
hàng trở thành công cụ cạnh tranh hữu hiệu. Dịch vụ sau bán hàng là một
phần của sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng ( sản phẩm
mềm ). Khách hàng sẽ cảm nhận được sự hoàn hảo của sản phẩm, cảm thấy
thỏa mãn được nhu cầu của mình khi được doanh nghiệp quan tâm, phục vụ
Nguyễn Văn Khỏe Lớp: QTKDTM 47C
13
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
sau khi quá trình mua bán diễn ra. Dịch vụ sau bán hàng sẽ giúp doanh nghiệp
nâng cao uy tín và trách nhiệm đối với khách hàng, khách hàng cảm thấy an
tâm, tin tưởng vào sản phẩm của doanh nghiệp. Dịch vụ khách hàng sẽ tạo ra
lực lượng khách hàng trung thành với công ty ( khách hàng truyền thống).
Nội dung của hoạt động dịch vụ sau bán hàng:
- Cung cấp và đảm bảo thực hiện bảo hành hàng hóa theo đúng quy
định của công ty.
- Cam kết thu lại sản phẩm và hoàn trả tiền cho khách hàng hoặc đổi
lại hàng nếu như sản phẩm không theo đúng theo chủng loại, kích
cỡ, chất lượng hoặc không đúng với yêu cầu của khách hàng.
- Chăm sóc khách hàng, coi khách hàng như những người bạn của
doanh nghiệp.
- Xây dựng văn hóa công ty, tạo niềm tin cho khách hàng và đối tác.
1.3.6.2 Phương thức thanh toán
Phương thức thanh toán tiện lợi, an toàn, nhanh gọn sẽ làm cho khách
hàng cảm thấy quá trình mua bán diễn ra nhanh chóng hơn, thái độ phục vụ
- Công nghệ và trình độ lao động.
- Tiềm lực tài chính doanh nghiệp.
- Năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp.
- Uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp.
Trên thực tế, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy
đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế
về lĩnh vực này thì lại có hạn chế về lĩnh vực khác. Do vậy, doanh nghiệp
phải xác định được nhu cầu của khách hàng, định vị thị trường mục tiêu và
phải phân tích, khai thác triệt để những điểm mạnh và hạn chế tối đa điểm yếu
để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
Nguyễn Văn Khỏe Lớp: QTKDTM 47C
15