“Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế huyện Xuân Trường - tỉnh Nam Định đến năm 2015 - Pdf 31

LỜI MỞ ĐẦU
d TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đường lối kinh tế của Việt Nam là con đường phát triển toàn diện: tăng
trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Đó cũng là con đường đặt
ra cho một huyện địa phương như huyện Xuân Trường - tỉnh Nam Định. Tuy
vậy, vào giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu, và Việt Nam đang ở trong thời kỳ
phấn đấu để đuổi kịp kinh tế của các nước phát triển trên thế giới, thì mục tiêu
tăng trưởng kinh tế được đặt lên trước mục tiêu phát triển xã hội. Nền kinh tế
huyện Xuân Trường - tỉnh Nam Định cũng không nằm ngoài quy luật phát triển
của đất nước.
Giai đoạn vừa qua, kinh tế của huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định có
tốc độ tăng trưởng khá, tăng trưởng năm sau cao hơn cao hơn năm trước.
Nhưng do nền kinh tế của huyện có bước xuất phát điểm thấp, nên sự tăng
trưởng khá như trên chưa làm thay đổi lớn tình hình phát triển kinh tế - xã hội
của huyện, GDP bình quân đầu người của huyện chưa cao, huyện vẫn còn được
xếp là một trong những địa phương có thu nhập thấp của Việt Nam và của tỉnh
Nam Định. Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với huyện Xuân Trường hiện nay là nhanh
chóng đưa ra các giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, là một bước quan
trọng nhằm nâng cao đời sống của người dân, cũng như nâng cao vị thế của
huyện.
Đó cũng là lý do khiến em chọn đề tài: “Giải pháp thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế huyện Xuân Trường - tỉnh Nam Định đến năm 2015”.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung.
- Chương 2: Đánh giá tăng trưởng kinh tế huyện Xuân Trường - tỉnh
Nam Định giai đoạn 2005 - 2008
- Chương 3: Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế huyện Xuân
Trường
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu mà em đã sử dụng trong đề tài của mình là:

– Y
1
(

Y: Quy mô tăng trưởng của năm hiện tại
Y
0
: Sản lượng của năm liền trước
Y
1
: Sản lượng của năm hiện tại)
+ Số tương đối: thể hiện tốc độ của sự tăng trưởng
=
g
0
Y
Y

(

Y: Quy mô tăng trưởng của năm hiện tại
Y
0
: Sản lượng của năm liền trước)
Theo nghị định số 92/2006 ngày 7/9/2006 về quy hoạch phát triển kinh tế
- xã hội của Chính phủ nước Việt Nam, tại mục 4 về quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội câp huyện, quy định tốc độ tăng trưởng kinh tế của một
huyện được tính theo giá trị sản xuất GO. Tức là:

Y = GO

nghìn tỷ USD.
Như vậy, chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế là chỉ tiêu phù hợp để so sánh
giữa các nền kinh tế có quy mô tương tự nhau, ta có thể dùng chỉ tiêu này để so
sánh sự phát triển kinh tế giữa các vùng, tỉnh trong một quốc gia.
+ Hơn nữa, tốc độ tăng trưởng còn là tiền đề của phát triển kinh tế. Thật
vậy:
Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế thể hiện trình độ mở rộng quy mô
sản lượng và tiềm lực sản xuất của nền kinh tế. Nếu tốc độ tăng trưởng được
đánh giá là nhanh và ổn định (so với quy mô nền kinh tế) thì ta có thể đưa ra
nhận xét trong giai đoạn này, nền kinh tế đó có khả năng mở rộng tiềm lực sản
xuất cao, và ngược lại nếu tốc độ tăng trưởng thấp, thậm chí là giảm phát là
biểu hiện không tốt của một nền kinh tế.
Thứ hai, tăng trưởng kinh tế còn thể hiện khả năng nâng cao mức sống và
khả năng tích luỹ cho đầu tư mở rộng sản xuất. Tốc độ tăng trưởng tích cực,
nghĩa là tổng thu nhập của nền kinh tế cũng gia tăng tích cực, tương ứng là thu
nhập bình quân đầu người gia tăng, vì vậy mức sống của người dân cũng được
nâng lên theo đó. Thu nhập tăng nên các khoản tiết kiệm của nền kinh tế cũng
tăng, nâng cao khả năng tích luỹ, ảnh hưởng thuận lợi cho đầu tư mở rộng sản
xuất.
Thứ ba, tăng trưởng kinh tế còn liên quan mật thiết đến nhiều mặt của tái
sản xuất xã hội như: sản lượng, việc làm, giá cả, lạm phát, sự biến đổi cơ cấu
kinh tế, tỷ giá cũng như quan hệ kinh tế đối ngoại,…
Ví dụ: tăng trưởng có mối quan hệ chặt chẽ với lạm phát
P AD AS: Tổng cung
AS AD: Tổng cầu
P
1
Y: Sản lượng
P
0

VA: giá trị gia tăng của sản phẩm vật chất và dịch vụ)
* Trong phạm vi một huyện, giá trị sản xuất GO được tính bằng tổng giá
trị sản xuất của tất cả các ngành kinh tế quốc dân trong huyện.
GO của một huyện =

GO
i
(GO
i
: giá trị sản xuất của các ngành kinh
tế trong huyện).
Ở cấp huyện, việc tính chỉ tiêu GO gặp không ít khó khăn, đối với nhiều
ngành kinh tế, nhất là các ngành kinh tế dịch vụ, trong phạm vi một huyện rất
khó để trong việc thu thập số liệu. Đặc biệt một số lĩnh vực phải do cấp tỉnh
tính toán và phân bổ cho cấp huyện, thành phố hoặc huyện cần phải phối hợp
chặt chẽ với cấp trên để tính toán. Tuy vậy, giá trị sản xuất GO vẫn là chỉ tiêu
thiết thực trong tăng trưởng kinh tế của huyện, bởi muốn xác định tốc độ tăng
trưởng kinh tế của huyện cần dựa vào chỉ tiêu giá trị sản xuất GO này.
1.1.2.2. Tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP – Gross domestic product)
- Khái niệm: Tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP – Gross domestic
product) là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt
động kinh tế trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia tạo nên trong một thời kỳ
nhất định, thường là 1 năm.
- Cách tính:
+ Tính theo phương pháp sản xuất: GDP được xác định bằng tổng giá trị
gia tăng của tất cả các đơn vị sản xuất thường trú trong nền kinh tế.
VA =

(VA
i

)
- Thuế kinh doanh (T
i
)
GDP = W + R + I
n
+ P
r
+ D
P
+ T
I
+ Tính theo phương pháp chi tiêu: GDP là tổng chi tiêu dùng cuối cùng
của các hộ gia đình (C), chi tiêu của Chính phủ (G), đầu tư tích lũy tài sản (I) và
chi tiêu qua thương mại quốc tế, tức là giá trị kim ngạch xuất khẩu trừ kim
ngạch nhập khẩu (X-M).
GDP = W + R + I
n
+ P
r
+ D
p
+ T
t
* Trong phạm vi một huyện, giá trị gia tăng VA được tính bằng tổng giá
trị gia tăng của tất cả các ngành kinh tế quốc dân trong huyện.
VA một huyện =

VA
i

- Cách tính:
NDI = NI + chênh lệch về chuyển nhượng hiện hành với nước ngoài.
1.1.2.6. Thu nhập bình quân đầu người (GNI/người)
Đây là chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng kinh tế có tính đến ảnh hưởng
của sự thay đổi dân số, bởi nó được xác định như sau
GNI/người =
n
GNI
(GNI: tổng thu nhập quốc dân
n: dân số của địa phương đó)
Thu nhập bình quân đầu người là tiền đề thể hiện sự nâng cao mức sống
dân cư, và nó cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức sống của người dân.
Thông qua chỉ tiêu này, ta có thể so sánh mức sống dân cư giữa các quốc gia,
vùng, địa phương với nhau. Từ đó có rút ra được kết luận về chất lượng tăng
trưởng của nền kinh tế đó.
Vì vậy có thể khẳng định, chỉ tiêu này cũng thể hiện sự tăng trưởng bền
vững của nền kinh tế.
* Huyện là một đơn vị kinh tế nhỏ, sẽ hạn chế rất lớn về mặt thu thập số
liệu, do đó trên phạm vi của một huyện không sử dụng các chỉ tiêu tổng thu
nhập quốc dân GNI, thu nhập quốc dân sử dụng NI, GNI/người, bởi các chỉ tiêu
này có sự bao quát và đòi hỏi phải tính toán ở quy mô lớn. Do đó, ở phạm vi
kinh tế huyện, chỉ tiêu tổng sản phẩm trong vùng GDP được sử dụng để xác
định tổng thu nhập của huyện.
* Trong phạm vi một huyện, thu nhập bình quân đầu người được tính trên
theo giá trị GDP, nghĩa là:
GDP bình quân đầu người =
n
GDP
(GDP: GDP của huyện
N: dân số của huyện)

Trụ sở cơ quan, trang thiết bị văn phòng
Máy móc thiết bị, phương tiện vận tải
Cơ sở hạ tầng
Tồn kho của tất cả các loại hàng hóa
- Tác động của vốn tới tăng trưởng kinh tế:
+ Vốn sản xuất là tiền đề cho các hoạt động sản xuất. Thật vậy, công
xưởng, nhà máy, cơ sở hạ tầng,… là yếu tố đầu vào đầu tiên và vô cùng quan
trọng có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế.
+ Bên cạnh đó, vốn sản xuất còn phản ánh năng lực sản xuất của một
nền kinh tế. Thông qua chất lượng và trình độ hiện đại của vốn sản xuất, ta có
thể đánh giá năng lực sản xuất của một nền kinh tế là mạnh hay thiếu sức cạnh
tranh, từ đó có thể đưa ra kết luận về tăng trưởng kinh tế là nhanh, chậm, ổn
định hay không.
+ Hơn nữa, ta thấy vốn sản xuất tác động đến đến tăng trưởng kinh tế
theo chiều rộng, nghĩa là khi yếu tố vốn sản xuất được tăng cường cả về mặt số
lượng và chất lượng, thì nền kinh tế đó cũng có sự gia tăng sản lượng.
Ở các nước đang phát triển sự đóng góp của yếu tố vốn sản xuất vào
tăng trưởng kinh tế thường chiếm tỷ trọng cao nhất, tuy nhiên, hiện nay xu
hướng này đang giảm dần, bởi sự tác động đó đã dần được thay thế bằng các
yếu tố khác. Tuy nhiên, đối với nền kinh tế trong phạm vi huyện, vốn sản xuất
vẫn đóng vai trò là yếu tố quan trọng với tăng trưởng kinh tế, vì vậy, khi đưa ra
các giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế huyện, giải pháp đầu tiên đưa ra là
giải pháp về huy động và sử dụng vốn.
* Lao động (L): được xét ở khía cạnh chất lượng và số lượng
Theo định nghĩa của giáo trình KTPT (Nhà xuất bản lao động – xã hội,
Hà Nội – 2005): Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo
quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao
động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm
việc trong các ngành kinh tế quốc dân.
Nguồn lao động được xét cả ở hai khía cạnh số lượng và chất lượng.

cường tính cạnh tranh của nền kinh tế.
Chất lượng nguồn lao động còn được gọi là yếu tố vốn nhân lực, có vai
trò ngày càng nâng lên trong tỷ trọng tác động tới tăng trưởng kinh tế, làm gia
tăng năng suất lao động, chuyển đổi cơ cấu việc làm, từ đó gia tăng sản lượng
của nền kinh tế. Các nước đang phát triển dần nhận thức được vị trí của yếu tố
vốn nhân lực. Vì vậy, vấn đề đặt ra trong việc tăng năng suất sản lượng nền
kinh tế là nâng cao chất lượng nguồn lao động. Đây cũng là vấn đề đặt ra đối
với các khu vực kinh tế nhỏ như trên địa bàn một huyện, một địa phương.
Trên địa bàn kinh tế huyện, chất lượng nguồn lao động hay yếu tố vốn
nhân lực thưòng chưa cao, ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình tăng trưỏng kinh
tế, đòi hỏi cần có các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng nguồn vốn
nhân lực này.
* Tài nguyên, đất đai (R):
- Đất đai: luôn được xác định là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong sản
xuất nông nghiệp, do đó đất đai đóng vai trò chủ chốt đối với kinh tế của các
nước đang phát triển vì ở các nước này, nông nghiệp thường chiếm một tỷ trọng
khá lớn trong GDP.
- Tài nguyên: là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Thật vậy, tài nguyên là một trong những yếu tố đầu vào tiên
quyết của nền sản xuất. Mặt khác, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển,
các nước đang phát triển thường dựa vào xuất khẩu tài nguyên để nâng cao khả
năng tích luỹ của minh, thúc đẩy sản xuất.
Xét trên phạm vi toàn thế giới, nếu không có tài nguyên, đất đai sẽ không
có sản xuất và cũng không có sự tăng trưởng, phát triển kinh tế. Vì thế, sử dụng
và khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp lý là vấn đề thách thức đặt ra đối với
mọi nền kinh tế. Đối với các huyện, thì nền kinh tế càng phụ thuộc sâu sắc vào
tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nguồn tài nguyên đất do đặc điểm ngành
nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế, do đó cần có chính
sách quan tâm đúng đắn và hợp lý với vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên
thiên nhiên.

5,8
3,4
3,8
5,0
8,8
6,3
3,3 0,8 1,5
3,4 0,4
1,5
3,1 0,6
2,0
2,1 0,5
0,8
2,3 0,5
0,9
2,7 0,4 1,8
6,1 1,4
1,3
3,6 1,3
1,4
Nguồn: Giáo trình KTPT
Nhìn chung, đối với, nền kinh tế huyện, nhân tố khoa học công nghệ
chưa được đánh giá là hiện đại và có tác động mạnh mẽ nhất đến tăng trưởng
kinh tế của huyện. Tuy vậy, tác động ngày càng lớn của nhân tố này là không
thể phủ nhận được. Vì vậy, xu hướng chung của các huyện hiện nay là tích cực
đẩy mạnh công tác nghiên cứu, triển khai, ứng dụng khoa học công nghệ cơ
bản, để tận dụng những tác động kỳ diệu của “chiếc đũa thần kỳ” này đối với sự
phát triển kinh tế.
*Phân tích tác động của các nhân tố K, L, R, T tới tổng cung
- Hàm sản xuất Cobb – Douglas

huyện.
- Mô hình Harrod – Domar
Mô hình Harrod – Domar đưa ra công thức thể hiện mối liên hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và vốn đầu tư như sau:
g =
k
s
(g: tốc độ tăng trưởng kinh tế
s: tỷ lệ tích luỹ trong GDP
k: hệ số ICOR: hệ số gia tăng vốn đầu ra)
Trong đó:
k =
Y
K




K: quy mô gia tăng vốn đầu ra


Y: quy mô gia tăng sản lượng của nền kinh tế)
Mô hình Harrod – Domar cho thấy: vốn được tạo ra bằng đầu tư là yếu tố
cơ bản của tăng trưởng. Mặt khác, cũng có thể dựa vào mô hình này để xác định
được lượng vốn đầu tư cần thiết cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, từ đó giúp
cho quá trình lập kế hoạch có những giải pháp đúng đắn cho quá trình tăng
trưởng kinh tế. Đối với phạm vi kinh tế của một huyện, đây cũng là mô hình rất
hữu hiệu. Thông qua các số liệu ở huyện, có thể tính được hệ số ICOR, từ đó
xác định được nhu cầu vốn đầu tư, xác định được năng lực sản xuất của đầu tư,
nâng cao tính hiệu quả của công tác lập kế hoạch, có tác dụng lớn đối với quá

- Khoản chi này phụ thuộc rất lớn vào tổng thu nhập và xu hướng tiêu
dùng. Thực tế cho thấy, thường khi tổng thu nhập gia tăng, thì tiêu dùng cũng
tăng lên. Vì vậy, một biện pháp thường dùng khi muốn gia tăng tổng cầu là kích
cầu tiêu dùng trong dân cư, nâng cao thu nhập hướng tới mở rộng thị trường
tiêu thụ.
* Chi tiêu của Chính phủ (G):
- Chi tiêu của Chính phủ là các khoản chi mua hàng hóa và dịch vụ của
Chính phủ.
- Nguồn chi của Chính phủ chính là ngân sách của Chính phủ, mà khoản
này lại phụ thuộc vào các nguồn thu ngân sách. Vì vậy, muốn tăng chi tiêu của
Chính phủ, cần phải gia tăng các khoản thu ngân sách, chủ yếu là thuế và lệ phí.
* Chi cho đầu tư (I)
- Khoản chi này bao gồm các khoản chi tiêu cho nhu cầu đầu tư của các
doanh nghiệp và đơn vị kinh tế, bao gồm nhu cầu đầu tư vốn cố định và đầu tư
vốn lưu động.
- Khoản chi cho đầu tư phụ thuộc rất lớn vào khả năng tiết kiệm từ các
đơn vị kinh tế. Vì thế muốn tăng khoản chi cho đầu tư, nhằm đẩy mạnh sản xuất
cần phải làm tốt công tác huy động tiết kiệm từ nền kinh tế.
* Chi tiêu qua hoạt động xuất nhập khẩu (NX = X-M)
- Chi tiêu qua hoạt động xuất nhập khẩu thực chất là khoản chi phí ròng
phải bỏ ra cho quan hệ thương mại quốc tế, hay còn gọi là xuất khẩu ròng. Nó
chính là sự chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu. Vì
vậy, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, nâng cao giá trị hàng xuất khẩu là một trong
những biện pháp cần thiết để làm gia tăng tổng cầu.
*Tác động của các nhân tố:
- Nếu các khoản chi này gia tăng, dẫn tới việc gia tăng tổng cầu, và kết
quả là làm gia tăng sản lượng của nền kinh tế, tuy nhiên có thể gây ra hiện
tượng lạm phát, vì khi đó giá cả được dẩy lên ở một mức mới.
- Tuy nhiên, nếu tổng cầu giảm sút, sản lượng bị sụt giảm, gây lãng phí
nguồn lực, vì các tiềm năng của nền kinh tế chưa được huy động tối đa.

bá sản phẩm và tìm kiếm thị trường xuất khẩu cũng là một khâu quan trọng
không thể bỏ qua. Tuy vậy, bên cạnh những lợi ích đem lại, thì xuất khẩu cũng
chứa đựng nhiều thách thức lớn đối với kinh tế huyện, đòi hỏi sự quản lý chặt
chẽ, sáng suốt của các cấp, chính quyền.
- Hình 1.3. Các nhân tố tác động trực tiếp tới tổng cầu -
Khi các khoản chi tiêu tăng lên, đường tổng cầu dịch chuyển lên trên từ
AD
0
lên AD
1
làm sản lượng cũng gia tăng từ mức Y
0
lên Y
1
. Từ đó nền kinh tế
có tăng trưởng, và ngược lại.
1.2.2. Nhân tố phi kinh tế
1.2.2.1. Đặc điểm văn hóa - xã hội
- Khái niệm văn hoá xã hội bao gồm các tri thức phổ thông; kiến thức
tích lũy, tinh hoa của nhân loại về khoa học, công nghệ, văn học; và cả lối sống,
phong tục tập quán,…
- Nhân tố đặc điểm văn hoá – xã hội ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
thông qua ảnh hưởng nhu cầu của thị trường. Thật vậy, yếu tố này có thể làm
tăng hay giảm nhu cầu tiêu dùng của người dân về một hàng hoá nào đó trong
xã hội. Ví dụ người dân có ở một địa phương có nhịp sống công nghiệp và hiện
P
Y
AS
AD
1

thúc đẩy sản xuất, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá và ngược lại, một thể chế
chính trị - kinh tế - xã hội không phù hợp có thể làm chậm, thậm chí cản trở quá
trình tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội.
- Tuy nhiên không nên dùng thể chế để áp đặt theo ý muốn chủ quan của
cộng đồng. Do môi trường kinh tế - xã hội ngày càng biến đổi nhanh chóng, nên
các thể chế này cũng phải năng động, nhạy cảm, mềm dẻo cho phù hợp với yêu
cầu của nền kinh tế thị trường và hội nhập.
Vậy để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế cần đặc biệt quan tâm tới
yếu tố thể chế chính trị - kinh tế - xã hội, tạo ra động lực kích thích mạnh mẽ tới
đầu tư phát triển kinh tế. Ở Việt Nam hiện nay, trong địa bàn kinh tế huyện,
Nhà nước vẫn là chủ thể quản lý kinh tế uy tín và có ảnh hưởng chủ đạo tới
phát triển kinh tế. Do đó, yêu cầu đặt ra là cần phải tích cực hoàn thiện nhân tố
thể chế chính trị - kinh tế - xã hội của địa phương.
1.2.2.3. Cơ cấu dân tộc
- Cơ cấu dân tộc là kết cấu của các tộc người khác nhau trên cùng một
lãnh thổ quốc gia, khác nhau về trình độ văn minh, mức sống, văn hóa, địa vị
chính trị - xã hội,…
Nhân tố cơ cấu dân tộc ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng kinh tế trên
khía cạnh sự bình đẳng trong xã hội. Điều này có nghĩa là nếu sự phát triển giữa
các dân tộc không đồng đều sẽ tạo nên sự xung đột giữa các thành phần dân tộc,
gây mâu thuẫn trong các mối quan hệ, hợp tác về kinh tế, có ảnh hưởng bất lợi
cho sự tăng trưởng. Sự phát triển không đồng đều còn ảnh hưởng không tốt đến
kinh tế dưới hình thức các thành phần kém phát triển sẽ làm trì trệ, cản trở sự
phát triển của các thành phần phát triển hơn, làm chậm lại quá trình phát triển
của cả nền kinh tế.

Trích đoạn Nhân tố chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Các quan điểm về vai trò của Chính phủ trong tăng trưởng kinh Thành tựu trong tăng trưởng kinh tế xã hội của huyện Vụ Bản Tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân địa phương Một số kiến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status