“Hình thành kỹ năng tạo lập văn bản thông qua tiết trả bài” - Pdf 31

Sáng kiến kinh nghiệm

*****

Năm học 2007 - 2008

I. Đặt vấn đề
Bắt đầu từ những năm 2002- 2003 cả nớc thực hiện chơng trình thay sách
giáo khoa, ở chơng trình THCS học sinh đợc học rất nhiều môn trong đó Ngữ Văn
chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, vừa góp phần tác động vun xới và bồi đắp tâm
hồn cao đẹp, góp phần hình thành nhân cách cao đẹp cho ngời học sinh, vừa rèn
luyện kỹ năng quan sát, phân tích, so sánh, phán đoán, suy nghĩ, xử lý ngôn từ...vừa
hình thành kỹ năng tạo lập văn bản một cách năng động theo những yêu cầu và tình
huống khác nhau.
Trong đó Tập làm văn là một bộ phận thực hành mang tính tổng hợp sáng tạo
đợc cấu trúc theo trình tự: cung cấp lý thuyết Tập làm văn nói Tập làm văn
viết trả bài. Vì vậy kết quả học làm văn của học sinh là thớc đo chính xác nhất
về kết quả giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh mà trả bài là một tiết học
vô cùng quan trọng có tác dụng nhiều mặt là cơ hội để học sinh tự đánh giá quá
trình tiếp nhận tri thức môn Ngữ Văn. Thông qua tiết học trả bài mà hình thành kỹ
năng tạo lập văn bản cho các em ở những bài tiếp theo.
Để đạt đợc điều đó ngoài việc nắm vững chơng trình, kiến thức ngời giáo
viên cần có những năng lực s phạm nhất định. Một trong những năng lực đó là năng
lực tổ chức điều khiển quá trình học tập cho học sinh đa các em vào học tập thật sự
nhằm mục đích phát triển t duy, giúp học sinh tự học tự sáng tạo.
Vì vậy công việc thiết kế bài dạy vô cùng quan trọng nó giúp ngời giáo viên
định hớng trớc hoạt động dạy học của thầy và trò nhằm đạt đợc mục tiêu yêu cầu
của tiết học.
Theo phân phối chơng trình của Bộ giáo dục cho chơng trình Ngữ Văn đang
hiện hành, ta thấy các tiết trả bài đợc phân lợng nhiều hơn so với chơng trình cũ(tiết
trả bài đợc dành cho cả kiểm tra Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn, còn chơng trình cũ

học sinh chỉ cần liếc qua con điểm rồi bỏ ngay vào cặp, dẫn đến hậu quả khiến biết
bao nhiêu giáo viên phải băn khoăn: Học sinh bây giờ thật chậm hiểu, thầy bày
mãi không chịu sửa, viết văn chẳng thấy tiến bộ chút nào và những lỗi viết ở bài trớc lại lặp lại ở bài sau. Giáo viên biết rồi cứ đến em ấy lại cứ thế mà nhận xét cứ
thế mà cho điểm.
Trong những năm học vừa qua cũng nh trong năm học 2007-2008 tôi đợc
phân công giảng dạy Ngữ Văn ở lớp 6 và lớp 9 đặc biệt ở học kỳ I môn Ngữ Văn
sau khi học sinh làm bài viết số 3 của Tập làm văn tiết 49-50 (Kể chuyện đời thờng). Với đề ra: Em hãy kết lại hình ảnh ngời thân mà em quý mến.
Tôi đã chấm và tổng hợp kết quả nh sau:
Tên
lớp
6B

Số
Chất lợng
Khá
Trung bình
Yếu
HSKS Giỏi
SL
TL% SL
TL% SL
TL% SL
TL%
33
0
0
4
12
19
58

hoạt giúp học sinh nhận ra u khuyết điểm của bài viết và khắc phục mà giáo viên
cha chủ động linh hoạt....vẫn tiếp tục tiến hành theo một lối mòn có sẵn. Vì thế tiết
trả bài cha đợc thực hiện theo đúng ý nghĩa vốn có và cần có của nó.
2. Nhận thức mới và những việc làm mới.
Từ thực tế nêu trên, là một giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ Văn ở
một trờng tả ngạn sông Lam. Tôi nghĩ rằng để tiến hành đợc một tiết trả bài sinh
động, có hiệu quả, đa học sinh vào hoạt động thật sự giáo viên phải đầu t thật công
phu vào việc thiết kế bài dạy từ khâu chuẩn bị đến tiến hành các hoạt động lên lớp.
Tôi thiết nghĩ để tiến hành tiết trả bài sinh động theo hớng tích hợp. tích cực
nhằm mục đích phát triển t duy học sinh, giúp học sinh tự học, tự sáng tạo. Trớc hết
giáo viên phải hiểu đợc bản chất của phơng pháp dạy học tích hợp, tích cực là gì?
Bồi dỡng chuyên đề đổi mới SGK và phơng pháp dạy học đã nêu rõ những điều cần
quán triệt nhất đều hàm chứa hai chữ : Chữ thứ nhất Tích hợp chữ thứ 2 là Tích
cực (SGK Ngữ Văn 6 Tập 1).
Tất cả các môn học của chơng trình giáo dục THCS đều có những cải tiến
khá mạnh mẽ theo hớng tích hợp, giảm tải lý thuyết tăng thực hành, gắn liền với đời
sống trong đó môn Ngữ Văn là môn thể hiện rõ nhất sự cải tiến đó, là theo hớng
tổng hợp.
Vậy tích hợp là gì? Theo từ điển Tiếng Việt của ngôn ngữ học xuất bản năm
2000 Tích hợp là sự lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống theo quan
điểm tạo nên hệ thống toàn bộ.
ở đây cũng có thể hiểu: Tích hợp là sự phối kết các tri thức thuộc một số
môn học có những nét tơng đồng và một lĩnh vực chung. Ví dụ: Các môn học thuộc

3


Sáng kiến kinh nghiệm

*****

học để học sinh tự tìm ra con đờng mà khám phá cái hay, cái đẹp của vật chất bằng
chính tâm hồn trong trẻo của mình.
Từ những suy nghĩ đó, tôi đã tiến hành tiết trả bài cách khác. Sau nhiều lần
suy nghĩ trăn trở vì sao các em vẫn mắc nhiều lỗi tơng tự ở bài sau nh bài trớc nh
vậy. Mà trong phần cung cấp lý thuyết về tạo lập văn bản các em tỏ ra rất am hiểu.
Vậy nguyên nhân có lẽ ở tiết trả bài cần phải đổi mơi phơng pháp trong tiết trả bài,

4


Sáng kiến kinh nghiệm

*****

Năm học 2007 - 2008

cần phải đổi mới phơng pháp trong tiết học này để học sinh đạt đợc kết quả theo
mong muốn. Điều này tôi đã áp dụng vào dạy tiết trả bài ở lớp 6B tiết 64 nh sau:
Bớc 1: Xác định mục tiêu cần đạt của tiết dạy
Giúp học sinh nhận ra những u điểm, nhợc điểm trong bài viết của mình về
nội dung và hình thức trình bày, thấy đợc phơng hớng khắc phục, sửa chữa các lỗi.
Rèn kỹ năng tạo lập văn bản sau tiết trả bài.
Luyện kỹ năng tự nhận xét, sửa lỗi bài của mình, của bạn đồng thời rèn luyện
thêm khả năng trình bày một vấn đề trớc tập thể.
Tích hợp kiến thức văn ở văn bản Mẹ hiền dạy con và Thầy thuốc gỏi cốt
nhất ở tấm lòng.
Bớc 2: Công việc chuẩn bị của thầy và trò
1)Giáo viên:
*Chấm bài:
Đây là công việc thầm lặng song đòi hỏi hoạt động giáo viên rất cao, yêu cầu

phê quá nặng nề. Giáo viên cần nhớ rằng: Mỗi kém cỏi và sai sót của trò có một
phần trách nhiệm của chính mình.
* Sau khi chấm bài:
Giáo viên cần tiến hành phân nhóm các bài làm đợc và cha làm đợc cũng nh
các loại lỗi học sinh thờng gặp.
- Lỗi về mặt hình thức: có các loại lỗi cơ bản sau:
+ Lỗi về đặc trng thể loại tức là phơng pháp làm bài văn đúng theo kiểu văn
bản đã học(văn tự sự).
+ Lỗi về bố cục trình bày, thông thờng bài viết bố cục phải có 3 phần : Mở
bài Thân bài Kết bài, mỗi phần triển khai một nhiệm vụ theo một trình tự, chữ
viết, cách phân dòng.
+ Lỗi về ngôn ngữ : Đây là yếu tố quan trọng nhất bởi ngôn ngữ là chất liệu làm
nên văn bản, ngôn ngữ các em thờng mắc lỗi sau:
- Dùng từ ngữ cha chính xác, cha phù hợp...
- Cách đặt câu cha đúng ngữ cảnh, cha đúng mục đích nói....
- Ngôn ngữ viết cha hấp dẫn(cha có chất văn, thậm chí có em còn viết nh
nói.
- Diễn đạt còn lủng củng, vụng, hành văn cha mạch lạc trong sáng.
- Viết sai chính tả.
+ Lỗi về nội dung có các lỗi cơ bản
Triển khai nội dung đề (Tức chủ đề của bài viết) mức độ triển khai các ý chính lệch
lạc sai đề hay còn nông cạn.
+ ý kiến vận dụng : Tức mức độ vận dụng các kiến thức đã học từ phần đọc
hiểu văn bản, phần học Tiếng Việt và Tập làm văn.
+ Mức độ thể hiện các kiến thức trong bài viết (Kiến thức trong sách vở, kiến
thức trong thực tế).
Lu ý: Có thể từ bài viết giáo viên thấy những lỗ hổng về kiến thức của học
sinh để bồi dỡng bổ cứu kịp thời trong việc dạy học- hiểu văn bản và Tiếng việt.
+ T tởng thái độ tình cảm thể hiện trong bài làm tức mức độ thể hiện tình
cảm t tởng hớng tới ý nghĩa sâu xa qua bài viết.

thuận lợi lớn đối với giáo viên trong quá trình tổ chức các hoạt động lên lớp.
* Giao bài cho học sinh:
- Giáo viên giao bài trớc cho học sinh ít nhất 1-2 buổi (có thể tranh thủ 5 phút
cuối giờ cho lớp trởng phát bài cho các bạn).
- Yêu cầu học sinh về nhà đọc lại Sáng tác nhỏ của mình tự nhận xét,
đánh giá, tự chữa các lỗi trong bài: Yêu cầu các em thống kê các lỗi của mình và hớng khắc phục ngay phần sau bài làm.
2) Học sinh:
- Đợc nhận bài trớc 1- 2 buổi.
- Đọc lại bài văn của mình trên cơ sở những nhận xét đánh gia schung của
giáo viên. Tự đánh giá những u khuyết điểm trong bài viết của mình, hớng khắc
phục chữa lỗi, có những ý kiến đề xuất sẽ trình bày trong tiết trả bài lên lớp.
Bớc 3: Tiến hành các hoạt động lên lớp
Hoạt động của thầy và trò

Kết quả đạt đợc

Hoạt động 1: ổn định tổ chức, chuẩn bị tiết học 2-3 phút
Giáo viên yêu cầu học sinh đa vở TLV đặt
lên bàn. học sinh đa vở chuẩn bị tâm thế
Hoạt động 2: Hớng dẫn chữa đề bài ( Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn bài)
( 15-18 phút)
G iáo viên gọi học sinh đọc lại đề.
Đề bài: Em hãy kể lại hình ảnh ngời
Học sinh đọc to đề bài trớc lớp
thân mà em quý mến
Thao tác đầu tiên khi tìm hiểu đề là gì
Bớc 1: Tìm hiểu đề, tìm ý.
Học sinh đọc to đề bài, xác định kiểu

7

HS: bộc lộ suy nghĩ cá nhân
? Em hãy nhắc lại dàn bài của văn kể
chuyện đời thờng.
- Mở bài: Giới thiệu ngời đợc kể.
- Kể chi tiết ngoại hình, cử chỉ, hành
động, lời nói...
- Kết bài: Nhận xét, nêu cảm nghĩ
?Trên cơ sở dàn bài của em nh thế nào?
GV: Ghi tóm tắt phần mở bài lên bảng
HS: Đọc phần mở bài của mình
Học sinh khác nhận xét, góp ý.

8

- Kiểu loại : Kể chuyện đời thờng
- Nội dung: Kể lại hình ảnh ngời thân.

- Phạm vi : Rộng

- Kỹ năng : Tự sự +Miêu tả

*Tìm ý:
- Giới thiệu về ngời thân
- Kể vẻ bề ngoài
- Kể về tính cách
- Nêu kỷ niệm sở thích

Bớc 2: Lập dàn bài

- Mở bài : Giới thiệu (Bố, mẹ, anh chị)

-Chuyển ý bằng liên kết từ ngữ:
ví dụ: Ông em không những đẹp về ngoại
hình mà tâm hồn còn trong sáng nh pha
lê.
- Chuyển ý bằng cách xây dựng cuộc trò
chuỵện:
Em bảo: Ông chỉ yêu mến loài hoa cây
cảnh thôi!
Ông trả lởi: Cháu nói sai rồi ông yêu cả
gia đình, yêu các cháu...

9

Năm học 2007 - 2008


Sáng kiến kinh nghiệm

*****

Năm học 2007 - 2008

? Trong các ý đó, cách đó, cách nào để
chuyển ý Trong các ý em triển khai ý
nào em biểu cảm rõ nhất.
Học sinh suy nghĩ trả lời...
? Phần kết bài em trình bày nh thế nào?
HS đọc kết bài.
Hoạt động 3:Dành cho học sinh nhận xét (16-17 phút)
Chỉ định lần lợt học sinh theo các đối t- Học sinh nhận biết đợc những u


Sáng kiến kinh nghiệm

*****

Năm học 2007 - 2008

Học sinh viết lại bài, đối chiếu với bài
làm trớc.

III. Kết luận:

Tóm lại phơng pháp hớng dẫn một gìơ trả bài chủ yếu là tổ chức, giao việc
làm để học sinh nhận ra đợc yêu cầu của bài viết ( Nội dung, kiến thức, kỹ năng)
những lỗi mà mình mắc phải cần tránh, cần sửa chữa và những u điểm trong bài mà
mình đã đạt đợc.
Nhng để đạt đợc điều đó ngời giáo viên phải có những phẩm chất nghệ sĩ:
Nghệ sĩ trong tâm hồn và nghệ sĩ trong lúc lên lớp, phẩm chất của nhà s phạm. Có
nghĩa là ngời giáo viên phải có năng lực thẩm định những Tác phẩm nhỏ đó là
những cố gắng tâm huyết mà trò đã gửi gắm. Giáo viên phải kiên trì từ công việc
chấm bài kỹ lỡng đến việc quan tâm, chăm sóc đến từng học sinh theo dõi uốn nắn
từng lỗi lầm trong quá trình học văn. Biết xử lý các tình huống diễn ra trên lớp tạo
sự gần gũi giữ thầy và trò, khéo léo tế nhị trớc những yếu kém của trò, cần biểu dơng khen ngợi kịp thời sự tiến bộ dù rất nhỏ để từ đó các em tự tin phấn khởi và
ngày càng thích đợc làm văn: Mặt khác giáo viên phải mạnh dạn, sáng tạo không
phụ thuộc tài liệu tuỳ vào từng điều kiện cụ thể để tổ chức. Hớng dẫn đa học sinh
vào hoạt động thật sự.
Với mong muốn góp phần tích cực nâng cao chất lợng dạy học Ngữ Văn ở trờng THCS, tôi viết bài này mong muốn rằng đợc trao đổi kỹ lỡng hơn với các bạn
bè đồng nghiệp. Đó cũng chỉ là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân còn mang tính
chủ quan vì vậy rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô, đồng nghiệp để cho việc
dạy học môn Ngữ Văn ngày càng hấp dẫn hơn đạt hiệu quả cao hơn, học sinh ngày


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status