các tổ chức xã hội tự nguyện ở nông thôn đồng bằng sông hồng liên kết và chao đổi xã hội - Pdf 31

X· héi häc thùc nghiÖm

Xã hội học, số 4 (116), 2011

31

CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở NÔNG THÔN
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG: LIÊN KẾT VÀ TRAO ĐỔI XÃ HỘI
ĐẶNG THỊ VIỆT PHƯƠNG*
BÙI QUANG DŨNG**

Các tổ chức xã hội là một chủ đề nghiên cứu quan trọng trong truyền thống
khoa học xã hội. Về mặt thực tiễn, đó cũng là điểm nóng của các thảo luận về
chính sách, do vai trò ngày càng lớn của các tổ chức này đối với việc phát triển
các quan hệ “dân sự” hiện nay.
Dữ liệu từ một vài nghiên cứu cho thấy Việt Nam có số lượng các tổ chức xã hội nhiều nhất
trong khu vực1. Một số nghiên cứu khác nhấn mạnh tới thực tế rằng các hình thức hội và
đoàn thể tự nguyện chủ yếu xuất hiện cùng với đổi mới kinh tế xã hội ở Việt Nam
(Wischermann and Nguyen Quang Vinh, 2003) và cho đó là một phần của tính đa dạng
trong đời sống xã hội hiện nay. Bài viết này dựa trên dữ liệu của một chương trình nghiên
cứu về các mạng lưới xã hội tại xã Đồng Quang (nay đã tách thành phường Đồng Kỵ và
phường Trang Hạ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)2. Bài viết cố gắng nhận diện các tổ chức
xã hội tự nguyện, các hình thức liên kết và trao đổi xã hội ở nông thôn. Từ đó, các tác giả
cũng nêu ra một vài giả thuyết làm việc, nhằm định hướng cho những tìm tòi tiếp theo, về
khả năng hình thành cũng như đặc điểm của “khu vực dân sự” tại nông thôn, trong bối cảnh
một xã hội nông thôn đang chuyển đổi, hướng tới hiện đại hóa và công nghiệp hóa.
1. Tên tổ chức và thời gian thành lập
Các tổ chức tự nguyện thường xuất hiện dưới các tên: hội, câu lạc bộ và phường.
Trong khi phường là một từ dùng cổ, để chỉ sự tập hợp thành nhóm của các cá nhân; thì
câu lạc bộ (CLB) lại là một từ dùng mới. Các tổ chức tương ứng với hai tên gọi này cũng
thể hiện sự khác biệt rõ rệt về thời gian thành lập cũng như tính chất hoạt động của chúng.

dân gian phục vụ lễ hội (phường gà, phường vật, phường trâu, v.v.). Còn các CLB lại là
những tổ chức mới ra đời từ sau Đổi mới (1986), chủ yếu liên quan đến các sinh hoạt thể
thao, văn hóa, văn nghệ (CLB bóng bàn, CLB cầu lông, CLB văn nghệ, v.v.). Hội là từ
dùng phổ biến nhất, là tên gọi chung cho tất cả các tổ chức xã hội.
Các tổ chức xã hội tự nguyện được nói đến trong bài viết này là những tổ chức tự
nguyện của công dân Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, hoặc cùng chia sẻ những
đặc trưng chung nào đó, có hoạt động định kì và không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Các tổ
chức này hầu hết đều hoạt động ở cấp xã, có hoặc không có đăng kí hoạt động với chính
quyền địa phương, và hoàn toàn độc lập về kinh phí. Xét về loại hình tổ chức, chúng tôi
thống kê được 22 loại hình tổ chức xã hội tự nguyện khác nhau ở Đồng Quang:
Bảng: Danh sách các loại hình tổ chức xã hội tự nguyện ở Đồng Quang
TT Tên tổ chức

TT Tên tổ chức

1

Phường trâu

12

CLB cựu quân nhân

2

Phường gà

13

CLB quan họ


CLB bóng bàn

7

Hội đồng học

18

CLB cầu lông

8

Hội đồng bạn

19

CLB dưỡng sinh

9

Hội đồng ngũ

20

CLB cây cảnh nghệ thuật

10

Hội bạn chiến đấu



Đặng Thị Việt Phương & Bùi Quang Dũng

33

chức không đăng kí với chính quyền.
Nhóm các tổ chức có đăng kí bao gồm chủ yếu các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực
thể thao, văn hóa, văn nghệ. Các tổ chức này thường được hình thành từ sau Đổi mới, tập
trung phần lớn vào đầu những năm 2000, chủ yếu dưới hình thức CLB. Tìm hiểu các tổ
chức này, chúng tôi nhận thấy một độ trễ nhất định giữa thời điểm tổ chức bắt đầu hoạt
động và thời gian thành lập chính thức. Các tổ chức này thường đã có thời gian hoạt động
từ trước; sau này được chính quyền xã vận động đăng kí thành lập3. Hầu như không có sự
thay đổi nào trong hoạt động của các tổ chức này ở thời điểm trước và sau khi có quyết
định thành lập.
Nhóm thứ hai được xét đến ở đây là những tổ chức không đăng kí với chính quyền
địa phương. Việc không đăng kí tư cách pháp nhân không có nghĩa là các tổ chức này
không sinh hoạt công khai. Ngược lại, trong nhiều trường hợp (hội đồng niên/đồng canh
chẳng hạn), các sinh hoạt của tổ chức còn có phần đình đám, phô trương hơn các tổ chức
đăng kí chính thức. Tiêu biểu cho kiểu tổ chức này có thể kể đến: hội đồng niên, hội
đồng học, hội đồng ngũ, các phường cờ, phường trâu, v.v.
Các tổ chức này đều có bộ máy điều hành, nhưng nhỏ gọn và khá lỏng lẻo. Người
đại diện có thể được phân công lần lượt hàng năm; hoặc cũng có thể giữ cương vị đại diện
từ khi thành lập, tùy thuộc vào tính chất của từng tổ chức. Cách gọi tên các tổ chức cũng
khá tùy tiện. Ngay cả người đại diện nhiều khi cũng không thể gọi một cái tên duy nhất
cho tổ chức mình trong suốt cuộc phỏng vấn. Cùng nói về hội đồng bạn chẳng hạn, người
ta có thể gọi nó bằng những cái tên rất khác nhau: hội, hội bạn, phường bọn, nhóm chơi.
Trong cái nhìn của chính quyền địa phương, các tổ chức này thực sự là “tự
nguyện”, phần nào đó là “vô hại”, theo nghĩa là họ hoạt động tự do, không có sự quản lí
hay can thiệp từ phía chính quyền. Trên thực tế, nhiều đại diện chính quyền cũng tham

chức mình. Chúng tôi thường được người đại diện tổ chức giới thiệu đến gặp thư kí (kiêm
kế toán và nhiều khi là cả thủ quỹ) của tổ chức để tìm hiểu những số liệu cụ thể. Các kì
họp theo quy định của điều lệ cũng được tổ chức rất hình thức. Như một CLB Cựu quân
nhân thôn chẳng hạn, mặc dù không có nhiều hoạt động nhưng hàng năm họ vẫn tổ chức
sơ kết hoạt động 6 tháng và tổng kết cuối năm. Ông chủ nhiệm CLB này nói rằng tổ chức
như vậy vì trong bản điều lệ do xã phê duyệt đã có quy định, nên họ làm theo, dù rằng
hoạt động không có gì đáng phải báo cáo.
Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội tự nguyện ở Đồng
Quang cũng cho thấy tính chất “phi văn bản” trong hoạt động của các tổ chức này, kể cả
các tổ chức có và không có tư cách pháp nhân. Các tổ chức thường không có trụ sở riêng,
mà tổ chức sinh hoạt tại nhà người đứng đầu, hoặc tổ chức luân phiên tại nhà các thành
viên, hoặc tại nhà một thành viên bất kì, miễn là có mặt bằng đủ rộng. Người phụ trách
việc ghi chép sổ sách, thu chi, giấy tờ của một tổ chức thường phải là người hay chữ, thạo
chuyện giấy tờ và biết tính toán. Những người như thế ở nông thôn không nhiều4. Do đó,
người này thường cũng kiêm luôn việc ghi chép đối với một vài tổ chức khác mà anh ta
tham gia. Với một quyển vở học sinh làm sổ ghi chép, anh ta có thể ghi lại hoạt động của
tất cả các tổ chức mà anh ta phụ trách. Theo dõi thu-chi là phần ghi chép quan trọng nhất
trong cuốn sổ. Tuy vậy, ngoài việc đọc được các con số, cuốn sổ thực sự là một “mật mã”
đối với người ngoài, bởi nó không tách biệt giữa việc của hội này và hội kia, của việc
công và việc tư. (Trong một cuốn sổ ghi chép các hoạt động của hội, người ta còn ghi lại
cả tiền thuê công thợ và các chi phí cho việc sửa chái bếp của gia đình!) Chỉ có người giữ
sổ mới hiểu được trật tự của sổ sách, và anh ta có trách nhiệm trình bày các khoản thu-chi
và hoạt động của tổ chức mình trong một năm, căn cứ trên những ghi chép mà anh ta thực
hiện trong năm đó. Khi chúng tôi ngỏ ý nhờ mượn xem cuốn sổ ghi chép của tổ chức,
người chủ nhiệm một CLB cựu quân nhân nói rằng không muốn can thiệp vào việc ghi
chép này. Anh ta ngại sẽ làm người thư kí kia tự ái vì cho rằng anh ta không tin tưởng và
có ý soi mói.
Ở những tổ chức không đăng kí hoạt động, việc quản lí các hoạt động của tổ chức
còn linh hoạt hơn. Người ta không biết nguồn gốc hình thành của tổ chức mình, không có
biên bản thành lập, không có điều lệ, không có trụ sở, thậm chí còn không có cả danh

của cùng một bản tuổi có thể tham gia sinh hoạt cùng nhau. Ngoài ra, phụ nữ cũng tham gia
vào các tổ chức tự nguyện khác như: hội đồng học, hội đồng bạn, CLB dưỡng sinh, v.v.
Người tham gia phường hội cũng đa dạng về độ tuổi, từ thanh niên cho đến người
cao tuổi. Có những tổ chức sinh hoạt theo lứa tuổi (đồng niên, đồng học, đồng bạn, v.v.),
có những tổ chức không giới hạn độ tuổi (CLB bóng bàn, CLB cầu lông, phường gà,
phường cờ, v.v.) Trước đây ngồi đồng niên (tham gia hội đồng niên) từ 18 tuổi (tính theo
tuổi âm lịch) được xem là sớm, còn hiện nay, đời sống kinh tế khá lên, các hội nhóm còn
quy tụ sớm hơn nữa. Nhiều hội đồng học ở Đồng Quang bây giờ được lập ra từ khi các
thành viên còn ngồi trên ghế nhà trường, cũng có phân ngôi thứ và hàng năm đều có tổ
chức ăn uống. Nhiều tổ chức có sự góp mặt của các cụ cao niên trong làng, như một
phường cờ ở thôn hiện có gần một nửa số thành viên tuổi từ 70 đến 80. Một CLB xe đạp
thôn có 87 thành viên hầu hết đều là người cao tuổi, có cụ 83 tuổi vẫn tham gia CLB.
Lí do tham gia các phường hội cũng rất đa dạng. Một hội sinh vật cảnh chẳng hạn,
có 100 thành viên, nhưng chỉ có khoảng 1/3 số thành viên biết về cây cảnh và chơi cây
cảnh. Như thế, trở thành thành viên một hội cũng không nhất thiết đòi hỏi người ta phải
chia sẻ một đặc trưng chung, có cùng một mối quan tâm hay cùng sở thích. Mà vấn đề là
“tham gia cho nó có hội. (…). Đa số vào hội cho vui. Một năm mở hội hoa xuân [một
lần] thì ra đấy thăm, chơi hội, rồi liên hoan (...) chủ yếu là liên hoan.” (Nam, 1962, Đồng
Kỵ). Hay như người ta vào phường tuồng “hát thì không biết hát, nhưng đến bữa ăn thì
tôi đi, [khi] đóng quỹ thì tôi đóng quỹ” (Nam, 1958, Đồng Kỵ). Rồi có những trường hợp
tham gia phường hội vì cha truyền con nối. Có nhà hai bố con, thậm chí là ba bố con cùng
vào một phường. Có người vào phường vì bố mình trước kia cũng vào, rồi trước khi qua
đời thì dặn con tiếp tục tham gia phường đó.
Những quan sát ban đầu cho thấy ở Đồng Quang, những người không tham gia bất
kì một tổ chức xã hội nào rất ít. Chân dung những người này được mô tả không mấy tích
cực: “Người nghèo tỉnh dậy đã lo đi làm đi ăn, người ta không có thời gian vào hội cây
cảnh với hội xe đạp du lịch” (Nam, 1942, Đồng Kỵ). Cũng có trường hợp có người
“không muốn tham gia chỗ đông đúc, đông người. Nguời ta chỉ muốn về sớm với gia

Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn

tổ chức và thậm chí cả tên gọi cũng có nhiều nét khác biệt. Cùng là tổ chức của những
người sinh cùng năm, nhưng ở Đồng Kỵ, người ta gọi là đồng canh; còn ở Trang Liệt và
Bính Hạ, người ta lại gọi là đồng niên. Khác biệt về tên gọi, các tổ chức này cũng khác cả
về cách thức tổ chức, các quy định và hình thức sinh hoạt.
Ngay trong phạm vi một làng, cùng một loại hình tổ chức cũng lại có những cấp độ
hoạt động khác nhau. Như một hội đồng canh ở Đồng Kỵ chẳng hạn, người ta có thể đồng
thời sinh hoạt ở cả cấp làng và cấp xóm, có đồng canh thôn, đồng thời cũng có cả đồng
canh xóm. Đồng canh thôn là một kiểu sinh hoạt hội nhóm có nguồn gốc từ lâu đời (cho
đến nay không ai biết nó xuất xứ từ bao giờ); nhưng đồng canh xóm thì chỉ mới xuất hiện
những năm gần đây. Người ta phân biệt giữa đồng canh thôn và đồng canh xóm thế này:
“Đồng canh xóm nó là một cái hội, còn đồng canh thôn là để gánh vác việc toàn dân, nó
là bắt buộc!” (Nam, 1967, Đồng Kỵ). Ngoài ra, nhiều người còn là thành viên của các tổ
chức có phạm vi sinh hoạt lớn hơn, cấp tỉnh hoặc liên tỉnh, ví dụ như Hội Bạn chiến đấu
5

Hàng xóm là chỉ những hộ gia đình sống liền kề nhau (khoảng 15-20 hộ), cùng chung nhau một đường đi
hay chia sẻ một mốc địa giới chung (như khoảnh tre- do đó người ta cũng còn gọi là “xóm khoảnh tre”).
Trong khi xóm để chỉ các khu dân cư dưới cấp độ làng, trong một xóm có nhiều hàng xóm. Trong một làng
có thể có nhiều xóm, như Trang Liệt có 5 xóm, Đồng Kỵ có 5 xóm.

Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn


Đặng Thị Việt Phương & Bùi Quang Dũng

37

cùng sư đoàn. Tuy nhiên, bao giờ người ta cũng cố gắng để thu hẹp phạm vi sinh hoạt của
hội trong phạm vi làng xã. Chẳng hạn cùng là hội bạn chiến đấu cùng sư đoàn ở tỉnh,
nhưng người ta có thể quy tụ những người cùng xã hoặc cùng huyện thành một nhóm

văn hoá văn nghệ thì vào CLB quan họ, CLB tuồng, CLB thơ, CLB chèo; ai thích chơi
6

Theo nghị định 88/2003, hội được coi là tổ chức tự nguyện và không vụ lợi, do đó một hội không cần phải
có kinh phí hoạt động mới có thể thành lập tổ chức. Sau khi thành lập, hội có thể gây dựng nguồn kinh phí
thường xuyên từ nguồn đóng góp của hội viên và các hoạt động tạo thu nhập khác.
7
Lưu ý rằng các hoạt động kinh doanh, buôn bán ở Đồng Kỵ rất sôi động, và do đó, người ta cần tiền mặt
cho các giao dịch thương mại. Do nhiều hộ sản xuất không đăng kí kinh doanh nên khả năng vay tiền từ
ngân hàng thấp, chưa kể đến những ngần ngại cố hữu về các thủ tục, giấy tờ, hồ sơ vay tiền vốn vẫn được
cho là phức tạp. Họ tìm đến các nguồn quỹ của các tổ chức phường/hội và sẵn sàng trả mức lãi suất cao
hơn lãi suất ngân hàng để có được các khoản vay khi cần.

Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn


38

Các tổ chức xã hội tự nguyện ở nông thôn đồng bằng …...

cây cảnh thì tham gia hội sinh vật cảnh... Trong làng ngoài xã hình như có đủ các loại
hình phường hội đáp ứng hết các sở thích đa dạng của người dân8.
Liên kết và trao đổi xã hội cũng là một trong những động cơ tham gia các hội và
đoàn thể tự nguyện. Người ta tham gia vì đó là nơi có thể chia xẻ chuyện xã hội. Sân chơi
là một môi trường cung cấp thông tin nhanh hàng ngày, nhất là trong bối cảnh nông thôn.
Chính là theo tinh thần này mà vị chủ nhiệm một CLB cầu lông, đồng thời là một doanh
nhân, nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc thu hút các nhân vật biết làm ăn, có uy tín
trong xã hội tham gia sinh hoạt CLB. “Đến sân cầu lông là biết hết chuyện xã hội, những
thông tin thị trường, thời buổi như thế nào. Người ta tụ hội với nhau chứ không phải đi
chơi không đâu”. (Nam, 1962, Đồng Kỵ). Tham gia vào một sân chơi, các thành viên

Tuy nhiên, không phải ai thích cũng theo được các sinh hoạt phường hội. Thích là một chuyện, người ta
cũng cần phải “có kinh tế” nữa.

Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn


Đặng Thị Việt Phương & Bùi Quang Dũng

39

ngay từ đầu, mà bổ sung dần dần cùng với quy mô và thâm niên hoạt động của tổ chức.
Không có sự khác biệt về độ gắn kết, tính chặt chẽ trong hoạt động của các tổ chức này.
Việc có hay không có giấy tờ không liên quan tới tính nghiêm ngặt của tổ chức. Và giấy tờ
cũng không làm tăng giá trị tư cách thành viên của người tham gia hội này hay hội khác.
Hoạt động “chức năng”
Dạng hoạt động này thể hiện rõ nhất ở các tổ chức hoạt động theo sở thích, dưới
hình thức các CLB, trong đó nổi bật hơn cả là CLB thể thao. Do tính chất thể thao phục
vụ sức khỏe mà các CLB này sinh hoạt hàng ngày. Một CLB cầu lông thôn thành lập từ
năm 1994, lúc đầu có 90 thành viên, tới năm 1999 tăng lên thành 183 thành viên. Thời kỳ
đầu CLB hoạt động cũng yếu, về sau mạnh lên do nhiều người nhận thấy môn thể thao
này “có lợi nhiều mặt, nhất là sức khoẻ bản thân và giao lưu quan hệ.” (Nam, 1962,
Đồng Kỵ). Ngoài các buổi tập hàng ngày, vào dịp hội làng thì CLB tổ chức giải cầu lông,
mời các CLB ở các làng, xã lân cận tới thi đấu.
Một CLB bóng bàn thôn cũng tổ chức các hoạt động tập luyện hàng ngày. CLB có
khoảng 30 hội viên; nhưng hoạt động thường xuyên, theo nghĩa là đến chơi tại địa điểm của
CLB thì có khoảng 15 người, vì địa điểm của CLB chỉ kê được 2 bàn bóng thôi. Nếu hội
viên ra chơi đông quá, người nọ phải chờ người kia thì họ lại tỏa vào các bàn bóng của các
cá nhân trong làng. Một CLB Dưỡng sinh thôn cũng tổ chức tập dưỡng sinh buổi tối, nhưng
không phải ai cũng tham gia đầy đủ các buổi tập đó. Hoạt động dưỡng sinh như một hình
thức tập thể dục tự do. Họ chỉ quy định về giờ giấc và địa điểm tập, các thành viên ai có thể

lỏng lẻo hơn: Phường vật, phường gà hay phường chim hầu như chỉ có các hoạt động này
vào các ngày lễ hội. Họ đứng ra tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí phục vụ nhân dân.
Bản thân thành viên phường gà không hẳn phải chơi gà; người ở phường chim không có
nghĩa là anh ta phải nuôi chim. Họ chỉ cần bày tỏ một chút quan tâm là có thể trở thành
thành viên. Với những tiêu chí hoạt động lỏng lẻo như thế, bất cứ ai cũng có thể tham gia
các phường hội. Và dường như người ta không chọn vào một phường vì những ưu thế của
chính phường đó, mà vì đó đơn giản là nơi dành cho các sinh hoạt hội nhóm.
Thăm hỏi thành viên và gia quyến
Các hoạt động thăm hỏi thành viên và gia đình của họ (vợ/chồng, con và tứ thân
phụ mẫu) là một hoạt động phổ biến ở hầu hết các tổ chức tự nguyện.
Một CLB Cựu quân nhân thôn cũng tổ chức thăm hỏi anh em hội viên, vợ và con
của họ khi ốm đau phải nằm viện và bố mẹ thân sinh (không bao gồm bố mẹ vợ) khi họ
qua đời. Trường hợp ốm đau, người ta tổ chức đến thăm với 1 kg đường và 1 hộp sữa, trị
giá khoảng 20 nghìn đồng. Việc thăm hỏi bằng hiện vật chỉ được các tổ chức thực hiện
một lần duy nhất cho một người ốm10, ngay cả khi hội viên đau ốm nằm viện nhiều lần
(các lần khác thì chỉ đến thăm hỏi mà không có quà). Khi bố mẹ hội viên qua đời, CLB
cũng tổ chức viếng bằng hiện vật gồm vòng hoa, hương, nến, trị giá 70-80 ngàn đồng.
Hoạt động thăm hỏi và phúng viếng này, cùng với những quy định về quà thăm viếng là
khá thống nhất giữa các hội tự nguyện khác trong thôn.
Hội hưu trí cùng cơ quan hoạt động trên phạm vi cả tỉnh, nhưng 20 người ở cùng
huyện Từ Sơn lại tập hợp với nhau thành một hội riêng, tổ chức các hoạt động riêng bên
ngoài các sinh hoạt chung với hội của tỉnh. Trong năm khi nhà thành viên nào có tứ thân
phụ mẫu qua đời hoặc cưới con thì lại gọi nhau. Tính tổng các hoạt động thăm hỏi, phúng
viếng, chúc mừng gắn với các các sinh hoạt hội nhóm của mình, một hội viên (tham gia 3
tổ chức tự nguyện) cho biết mỗi tháng đi dự vài đám cưới, đám hiếu hoặc thăm người ốm.
Anh ta nói có tháng một người (vợ hoặc chồng) đi gần chục đám. Mỗi đám cưới hay đám
ma trung bình mừng hoặc viếng 100 ngàn. Có tháng vợ chồng anh chi khoảng 1 triệu
đồng cho đám cưới. Để tham gia vào các sinh hoạt hội nhóm thế này, người ta phải trù
tính đến một khoản tiền dự trữ nhất định để chi dùng vào những sinh hoạt của tổ chức.
Chuyện xúc thóc dự trữ đi bán để mừng đám cưới hay phúng đám ma không phải là

đó, phải đi lại, thăm hỏi, bàn bạc (về đám tang, đám cưới, làm nhà v.v.).
Việc cá nhân tham gia vào nhiều tổ chức, đoàn thể, nhiều sinh hoạt hội nhóm là một
sự đảm bảo cho uy tín của cá nhân và của gia đình trong con mắt người làng. Khi nhà có
công có việc mà có nhiều người đến thăm hỏi, động viên, chúc mừng thì người ta coi đó
là niềm vinh dự cho cả gia đình. Người ngoài nhìn vào cũng đánh giá rằng gia đình này
quan hệ rộng. Đặc biệt là khi gia đình có người ốm, càng nhiều tổ chức, đoàn thể tới thăm
càng thể hiện uy tín của gia đình. “Có việc mà có các cụ đến, có phường đến là quý chứ,
là vinh dự cho mình” (Nam, 1955, Trang Liệt). Nhiều người cung cấp tin ở thôn Trang
Liệt đã kể câu chuyện về một người sống thiếu hòa nhập đã bị người làng tẩy chay, thậm
chí còn không được công nhận là hàng xóm. Ông này học hết trung cấp, trước thoát li làm
cán bộ, giờ về nghỉ hưu. Ông cậy có bạn là các ông to trên huyện, trên tỉnh, về làng không
thèm tham gia phường hội gì. Tổ liên gia tổ chức lát đường bê tông cho sạch ngõ xóm,
ông lại lấy cớ nhà ông ở đầu xóm ông không cần lát đường. Như thế nghĩa là ông “đối
kháng” với hàng xóm rồi và sẽ bị cô lập!
Các hoạt động thăm hỏi người ốm, viếng đám tang, mừng đám cưới, mừng tân gia,
mừng đầy tháng, v.v., là cách người dân tham gia vào và/hoặc duy trì các quan hệ xã hội
ở làng. Việc tham gia vào các hội tự nguyện, và cùng với nó là tiến hành các hoạt động
thăm hỏi có thể cũng là một hình thức thay thế cho các quan hệ bạn bè mà phải nhờ có
giao thiệp rộng họ mới có. Dường như có sự phân biệt khá rõ giữa “bạn bè” với “hàng
xóm” và “người làng”. Hàng xóm và người làng gắn liền với nơi người ta cư trú. Trong
khi đó, bạn bè là thứ quan hệ có thể tách rời khỏi nơi ở. Ở đây, việc một người nào đó có
bạn đồng nghĩa với việc anh ta có quan hệ, giao thiệp rộng, ra ngoài nhiều và mở mang.
Ăn uống
Bao giờ cũng thế, sinh hoạt của các hội tự nguyện hầu như đều đi kèm với ăn uống.
Người ta coi ăn uống là hoạt động quan trọng để duy trì các sinh hoạt hội nhóm, thiếu nó
khó có thể thành hội.
“Chẳng hội nào là không ăn uống” (Nữ, 1970, Đồng Kỵ). Phường chim ăn vào
ngày thả chim, phường gà ăn vào dịp kết thúc hội xuân. Phường cờ, Hội sinh vật cảnh,
CLB cầu lông, CLB bóng bàn, bóng chuyền, cờ tướng… đều ăn từ một đến hai lần,
thường vào dịp đầu xuân và cuối năm. Ăn uống quan trọng đến mức người ta còn gắn nó

mang tiếng với anh em là keo kiệt hoặc kém cỏi. Sau này để tránh tình trạng ganh đua
nhau, nhiều tổ chức đã có những quy định về mức đóng góp ngay từ khi thành lập hội
hoặc tiến hành bàn bạc thống nhất trước khi tổ chức ăn. Hiện nay, trước một bữa ăn
phường hội, bao giờ người đăng cai cũng tổ chức một buổi họp mặt trước đó vài ba
ngày để bàn bạc thống nhất hình thức ăn và đóng góp. Người ta thống nhất việc ăn
món gì, làm bao nhiêu bát, bao nhiêu đĩa13 và tiền định mức cho mỗi suất ăn. Tiền ăn
chủ yếu là các thành viên đóng góp dựa trên giá trị thực của bữa ăn. Giá trị trung bình
của một mâm cỗ cho bốn đến năm người ăn thời điểm năm 2008 ở Đồng Quang là
khoảng từ 100-150 nghìn đồng.
Đối với một số tổ chức, nếu nhà chứa khá giả, họ có thể làm cỗ quá số tiền quy định
cho một suất ăn (chẳng hạn suất ăn quy định là 30.000đ/người, họ có thể làm đến
50.000đ/người) mà vẫn chỉ nhận số tiền như đã thống nhất từ trước. Hành động này nhiều
khi không được khuyến khích, vì phường, hội muốn tạo sự bình đẳng giữa các thành viên,
họ không muốn “ăn không” của gia chủ, mà muốn ăn bằng tiền của mình. Ở một số tổ
chức khác, hành động này được cho là tùy tâm gia chủ, theo nghĩa nếu gia chủ bày tỏ
thành ý muốn mời anh em thì sẽ được khuyến khích. Tuy nhiên, ngay cả khi có ý mời thì
12

13

Đồng Kỵ trước kia vốn nổi tiếng là nơi có nhiều lái trâu. Lái trâu thời kì đó được coi là một nghề đòi hỏi
vốn liếng lớn, và người làm lái trâu phải là người rất sắc sảo, đi lại nhiều và giao thiệp rộng. Nhà nào có
người làm lái trâu là coi như được đảm bảo về sự no đủ cho cả gia đình.
Bát là dành cho những món nước, và đĩa là dành cho các món khô. Chỉ cần biết số bát số đĩa trên mâm
người ta có thể biết được đây là cỗ to hay cỗ nhỏ, mà không cần phải nhìn tận mắt mâm cỗ đó. Một mâm
cỗ trung bình khi có 3 bát, 4 đĩa.

Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn



cỗ mặn và ngọt, thường bao gồm miếng thịt lợn/con gà luộc, xôi và hoa quả. Tùy từng
đồng canh có thể tiến lễ to hay nhỏ. Lễ được chủ nhà chứa, người già (cha, chú hoặc
người trong họ của chủ nhà) và một số thành viên gánh ra đình làm lễ từ sáng. Tại đình,
mâm lễ được đưa lên bàn thờ Thánh, cụ Từ đền và người già của gia chủ sẽ tiến hành làm
lễ15, những người đi theo sẽ đứng khấn cùng. Làm lễ xong, một phần lễ được chia cho cụ
Từ đền, phần còn lại sẽ được đem về. Khi đó, đồng canh mới tiến hành ăn uống.
Sự kiện này là quan trọng nếu ta nhớ lại rằng một trong những chức năng quan
trọng của hệ thống nghi lễ làng xã (không thuộc số các nghi lễ của Phật giáo hay Công
giáo) là bảo vệ và kiểm soát xã hội đối với cư dân làng xã. Mặt khác, nhìn từ phía người
dân thì tuân thủ các nguyên tắc của hệ thống nghi lễ này là một cách xác nhận mình thuộc
14

15

“Có lời” nghĩa là nói chuyện một cách chính thức. Người ta cũng phải học cách “có lời” với phường hội,
phải học thuộc một khuôn mẫu chuẩn, chứ không phải tùy tiện thích gì nói đấy. Trong nhiều trường hợp,
việc gia chủ “có lời” thiếu lễ độ, không gãy gọn, hay đơn giản là ‘không thuộc bài mẫu’ thôi cũng khiến
phường hội từ chối những thành ý của gia chủ.
Ở Đồng Kỵ, dưới tuổi các cụ (51 tuổi) thì không được làm lễ.

Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn


44

Các tổ chức xã hội tự nguyện ở nông thôn đồng bằng …...

về cộng đồng làng.
7. "Xã hội tính" của nông dân?
Như đã nói, bài viết không đề câp tới bất kỳ loại hình tổ chức xã hội nào, mà chỉ

Jamieson, Neil L.. 1993. Understanding Vietnam. University of California Press,
Berkeley.
Wischermann, Jörg and Nguyen Quang Vinh. 2003. “The Relationship between Civic
Organizations and Governmental Organizations in Vietnam: Selected Findings
of an Empirical Survey”, in Kerkvliet et. al. (Hrsg.), Getting organized in
Vietnam – Moving in and around the Socialist State, Singapore, pp. 185-233.

Bản quyền thuộc viện Xã hội học www.ios.org.vn




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status