1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐHKHXH&NV NGUYỄN QUANG VINH
HỘ GIA ĐÌNH NGHÈO Ở NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO Chuyên ngành : Xã hội học .Mã số: 05.01.09
Người hướng dẫn : PTS Nguyễn Cảnh Khanh
các hộ nông dân
VI. Thực trạng đời sống kinh tế - xã hội của các hộ nghèo đói ở
đồng bằng Bắc Bộ
1. Những nguyên nhân dẫn đến nghèo đói
1
2. Về các hộ nghèo đói ở đồng bằng Bắc Bộ
CHƯƠNG BA:
Các quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm giảm nghèo khổ
I. Những quan điểm cơ bản nhằm xây dựng chiến lược xoá đói
giảm nghèo
1. Đồng bộ và thống nhất trong chính sách chỉ đạo và thực
hiện công tác xoá đói giảm nghèo
2. Phát huy sức manh tổng hợp toàn dân (Nhà nước - cộng
đồng - đối tượng nghèo khổ)
3. Phát triển kinh tế là nền tảng cơ bản cho công tác xoá đói
giảm nghèo
4. Xoá đói giảm nghèo là hoạt động mang tính nhân đạo,
nhân văn sâu sắc, kết hợp những giá trị của nền văn minh
nhân loại với truyền thống của dân tộc
5. Xoá đói giảm nghèo là hoạt động tổng hợp và có quan hệ
gắn bó với các chính sách kinh tế - xã hội khác
n . Những phương hướng cơ bản của cồng tác xoá đói giảm
nghèo
1. Xây dựng chiến lược xoá đói giảm nghèo
2. Xây dựng cơ ch ế thống nhất chỉ đạo - thực hiện kiểm tra
3. Các chỉ tiêu cơ bản của công tác xoá đói giảm nghèo
in. Các giải pháp
1. Giải pháp trực tiếp
2. Giải pháp gián tỉếp (lồng ghép)
ĩ
cạnh tranh, mở cứa. Điều đó sẽ tạo ra sự phân hóa giàu nghèo hết sức gay gắt
trong xã hội, gây nên những nhức nhối về nhiều mặt .trong đời sống của đất
nước. Đánh giá thực trạng nghèo khổ của dân cư nói chung và hộ gia đình ở
4
nông thôn đồng bàng Bắc Bộ nói riêng, tìm ra những nguyẽn nhân để đề ra
những giải pháp khả thi làm giảm đi nhũng khoảng cầch của sự phân cực giàu
nghèo là một vấn đề đáng được quan tâm. Đã có một số những nghiên cứu về
chủ đề nghèo khổ của dân cư nói chung, song cũng còn quá ít những công trình
nghiên cứu đề cập tới thực trạng hô gia đình nghèo ở nông thôn đồng bằng Bác
Bộ dưới góc độ xã hội học v'ê chính sách xã hội nói riêng, tìm những giải pháp
cần thiết đối với người nghèo để vực họ dậy vượt qua cái ngưỡng của sự nghèo
khổ một cách khoa học và thực tiễn.
Vì vậy, với đề tài luận án này, chúng tôi hy vọng góp phần làm sáng tỏ
thêm những vấn đề nghèo khổ đang diễn ra ở nông thôn, để từ đó làm cơ sở cho
việc hoạch định các chính sách xã hội ở nông thôn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiẩn quá trình phát triển >/à phân hóa
giàu nghèo của các hộ nông dân vùng đồng bằng Bắc bộ trong điẽu kiên sản
xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường.
- Phân tích thực trạng hê thống hộ nông dân đồng bàng Bắc bộ írong
những năm qua, đặc biệt là từ khi tiến hành đổi mới quản lý nông nghiệp đến
nay.
- Dự báo xu hướng phân hóa giàu nghèo của nông dân đồng bàng Bắc bộ
trong nhũng năm tớỉ.Từ đó nhằm đề xuất những giải pháp về chính sách vĩ mô
ứng xử với nông dân, hướng sự phân hóa này theo chiều tích cực, có lợi cho
nông dân và toàn xã hội.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu :
Luận án được thực hiên trên cơ sở lý luận và phương pháp luân của xã hội
học Mác-Lênin và một số phương pháp tiếp cận của xã hội học hiên đại, vận
dụng các lý thuyết như: lý thuyết hiện đại kinh tế-xã hội, lý thuyết phát triển xã
1. Nghèo:
Theo cách hiểu thông thường của nhiều nhà nghiên cứu thì: "Sự nghèo là
tất nhiên, là một vấn đề túng thiếu” (deprivation) [62, tr 8]. Túng thiếu đây là
nói về tiêu chuẩn xã hội. Nghèo là sự túng thiếu tuyệt đối, phá hoại sự bảo đảm
cơ bản cuộc sống. Cũng theo àũé, có rất nhiều mức độ nghèo khác nhau, nhưng
có thể tựu trang lại ở hai mức độ cơ bản là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
a. Nghèo tuyệt đối:
Nghèo tuyệt đối là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng
thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để nhàm duy trì cuộc sống.
b. Nghèo tương đối:
Nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng tại địa phương đang xét.
Với cách hiểu như trên, chúng ta có thể nhận thấy khái niệm nghèo tương
đối thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào mức sống chung của xã hội tăng lên.
Và dường như mỗi nước, mỗi khu vực lại có một ngưỡng riêng để chỉ sự nghèo
đói.
Sự nghèo xuất hiện là do tình trạng kém phát triển, một sự phát triển
không cân đối, do chiến lược phát triển không chú ý tới các nguyên nhân gốc
của sự nghèo mà lầm tưởng rằng chỉ với sự tăng trưởng kinh tế sự nghèo sẽ
giảm bớt.
Vấn đề nghèo thường đi đôi với vấh đ'ê phân phối thu nhập. Sự phân phối
thu nhập không công bàng thường dẫn đến việc tăng nghèo. Do đấy trong khoa
học phát triển một vấn đề được thảo luận nhiêu có liên quan đến vấn đê xóa
nghèo là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và cống bàng xã hội.
Thảo luận v'ê những nhân tố tác động tới sự công bằng, Adebman và
Robinson (1989) cho ràng do những nhân tô sau quyết định:
7
- Thứ nhất, theo các ông trong giai đoạn đầu của sự phát triển việc phát
triển mạnh một số ngành có thu nhập cao đã làm tãng nhanh khoảng cách vê
năng suất giữa các ngành và do đó có thể làm giảm sự phân phối công bằng
Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế, cũng như từ điển ngôn ngữ,
khái niệm hộ và kinh tế hộ được hiểu như sau:
8
"Hộ" là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà. Nhóm người đó
bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công". Vê
phương diện thống kê, Liên Hiệp Quốc cho rằng "Hộ là những người cùng sống
chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
Tại cuộc hội thảo quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại ở Hà Lan năm
1980, các đại biểu nhất trí rằng "Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên
quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác".
Trong quá trình khảo sát "Kình tế hộ trong quá trình phát triển" ở một số
nước châu Á, giáo sư T.B.Mc Gec, Giám đốc Viên nghiên cứu Châu Á, trường
Đại học Tổng Hợp Columbia đã nêu :"ở các nước châu Á hầu hết người ta quan
niêm hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc, hay không cùng chung huyết
tộc ở chung trong một mái nhà, ăn chung môt mâm cơm và có chung một ngân
quỹ"[37,tr7].
Qua các định nghĩa có hình thức khác nhau về khái niệm "hộ" ở trên,
chúng ta có thể phân định hộ theo những điểm sau:
- Hộ là nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc.
- Họ cùng sống chung hay không cùng sống chung trong một mái nhà
- Có chung một nguồn thu nhập và ãn chung
- Cùng tiến hành sản xuất chung.
Ở Việt Nam, trong thời gian hợp tác hóa nông nghiệp " Kinh tế hộ" được
quan niệm là "kinh tế phụ gia đình" hay "kinh tế phụ xã viên", bổ sung cho
kinh tế tập thể.
Khi thực hiện Nghị quyết 10, hộ được xác đinh là một đơn vị tự chủ, một
đơn vị kinh tế xã hội. Hộ nông dân được sợ hữu về tư liệu sản xuất (ruộng đất,
công cụ sản xuất, tài sản và vốn khác), được Nhà nước đảm bảo quyền tự do
sản xuất kinh doanh: lựa chọn phương án sản phẩm, phương án đầu tư, sử dụng
sức lao động, tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở tính toán kinh tế để đem lại hiệu quả
Dưới đãy, chúng tôi xin chuyển sang phân tích về khái niệm hộ nghèo.
Trước hết, theo chúng tôi, giới hạn nghèo đói được biểu hiện dưới dạng thu
nhập bình quân tính theo đàu người. Các hô có thu nhập bình quân tính theo
đầu ngưòi nầm dưới giới hạn nghèo đói được gọi là hộ nghèo.
Qui mô sự nghèo đói của môt vùng, một quốc gia được xác định bằng tỷ
lệ số hộ nghèo đói trên tổng số hộ dân cư thuộc vùng hoặc quốc gia đó.
Theo quán niệm chung của nhiều nước, hộ nghèo có mức thu nhập dưới
1/3 mức trung bình của xã hội. Với quan niệm này hiện thế giới có 1,1 tỷ người
(20%) đang sống trong tình trạng nghèo khổ, tức là sống dưới mức 420
ƯSD/nãm, hoặc 35 USD/ tháng mà Ngân hàng thế giói đã ấn định. Cũng với
quan niệm lẩy mức thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội làm một
ngưỡng để phân định sự nghèo khổ, chúng ta thấy mỗi nước lại có một tiêu
chuẩn khác nhau cho sự nghèo. Chẳng hạn ở những nước phát triển n«ười
nghèo có thể có thu nhập còn cao hơn người giàu ở nước kém phát triển, ỏ
10
nước Mỹ, năm 1992 một gia đình 4 người có mức thu nhập bình quân năm dưới
13.680 USD là hộ nghèo khổ. Các tiêu chí vê nghèo khổ ở các nước đang phát
triển cũng có khác nhau. Chẳng hạn, xét ở khu vực nông thôn th ì:
Pakistan 6 USD/người/tháng
Inđônêsia 6 USD/người/tháng
Philippin 7 USD/người/tháng
Cũng có nước dùng tiêu chí là lấy mức calory cho mỗi người trong một
ngày cần có để đo sự nghèo khổ. Nếu người nào đó có mức tiêu dùng bình quân
trong ngày thấp hơn mức calory hấp thụ là người nghèo đói.
Năm 1985 ở Ấn Độ chuẩn này là dưới 1750 calory/ngưòi/ngày
Pakistan : dưới 1800 calory/hgười/ngày
Bănglađet: dưới 1650 calory/người/ngày{60, tr8].
Hộ nghèo ở Việt Nam
Dưới đây, chúng tôi xin chuyển sang phân tích các chỉ tiêu để đánh giá hộ
nghèo đói ở nước ta hiện nay. Đây là một vấn đ'ê còn chưa có sự thống nhất, tuy
Vì những lẽ trên đây, để đo lường mức độ nghèo đói, nhất thiết phải sử
dụng chỉ tiêu thu nhập bình quân nhân khẩu một tháng (hoặc một nãm), các chỉ
tiêu khác như ăn, mặc, sinh hoạt chỉ là làm rõ hom cho chỉ tiêu thu nhập mà
thôi.
II, SựNGHÈO KHỔ VÀ c u ộ c ĐẤU TRANH CHốNG NGHÈO KHổ TRONG LỊCH s ử XÃ HỘI.
1. Bất bình đẳng xã hội và sự nghèo khổ.
Có nhiều tranh luận xung quanh việc giải thích nguyên nhân của sự nghèo
đói. Các nghiên cứu về sự nghèo khổ, nhìn chung đều hướng tới tìm hiểu mối
quan hệ giữa sự nghèo đói với sự bất bình đẳng, đồng thời tâp trang phân tích
những mặt tích cực hoặc hạn chế trong các chính sách tăng trưởng kinh tế của
các quốc gia. Các nghiên cứu này cho đến nay vẫn thường kết luận rằng nhịp độ
phát triển kinh tế cao, dù một thòi gian dài, không thể tự bản thân nó xóa được
nghèo khổ. Những định hướng của các chính phủ coi sự đẩy mạnh tãng trưởng
kinh tế như một cứu cánh để xóa bỏ nghèo đói, là cần thiết nhưng chưa đủ. Đẩy
nhanh nhịp độ tăng trưởng cũng có thể dễ dẫn tới việc làm trầm trọng thêm sự
bất bình đẳng, gia tăng sự phân cực giàu nghèo. Bởi vậy, nếu như không có các
chính sách nhàm đièu chỉnh theo mục tiêu cụ thể để giảm đến mức thấp nhất sự
khốn khó của con người, thì dù phải làm chậm lại nhịp độ đó cũng nên coi như
một biện pháp để bù lại.
Mặt khác, nguyên nhân nghèo đói còn liên quan mật thiết đến vấn đề phân
chia công bàng sản phẩm của hệ thống kinh tế trong các tầng lớp dân cư. Tập
trung quá nhiều sản phẩm của doanh nghiệp tập thể, của xã hội vào quá ít người
là nguyên nhân sâu xa của sự nghèo đói, 20% số người có thu nhập thấp nhất ở
Hồng Kong, Malaysia, Philippin, Singapore và Srilanka chỉ nhận được khoảng
5% tổng thu nhập, trong khi đố 20% người có thu nhập cao nhất nhận được
47% ở Hồng Kồng, 51% ở Malaysia, 48% ở Philippin, 49% ở Singapore, 56% ở
Srilanka và đương nhiên số lượng người nghèo đói sẽ còn lớn trong các nước
này nếu sự bất bình đẳng trong thu nhập còn duy trì ở mức độ trên {60, tr8].
12
Cùng vói những vấn đề về bất bình đẳng xã hội, một yếu tố khác không
các nguồn vốn nhỏ bé cùng ý chí sức lực của họ.
Hộ nghèo do thiếu kinh nghiêm làm ãn, kinh nghiêm tổ chức và thiếu cá
kế hoạch chi tiêu trong gia đình.
Hộ nghèo thuộc các gia đình vô quyền. Họ là những hộ không biết gì ve
luật lệ, không được hướng dẫn về pháp luật, dễ đánh mất bản ngã của mình để
13
rơi vào tình trạng cờ bạc, rượu chè, nghiện hút hoặc trở thành người làm thuê,
làm mướn bị bóc lột một cách dễ dàng{ 12, tr 181, 182].
Những nguyên nhân trên đan xen lẫn nhau tạo thành một cái "bẫy" của sự
bần hàn nghèo khổ. Tùy thuộc mức độ của từng nguyên nhân mà có những hộ
sẽ nằm trong tình trạng nghèo khổ thường xuyên hoặc tình trạng nghèo khổ tình
thế. Các hộ nghèo đói ở mỗi quốc gia đều có thể tìm thấy những nguyên nhân
mang tính tương đồng như Robert Chambers đã chỉ ra.
2. Vấn đề chống nghèo khổ trong xã hội Việt Nam truyền thống.
Nàm ở trung tâm vùng Đông Nam Á, từ buổi bình minh của lịch sử, Việt
Nam vốn đã là nơi giao thoa của hai nền văn hóa An Độ và Trung Hoa. Trên
mảnh đất nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa này từ xa xưa đã là nơi sinh tụ của
con người.
Hơn bốn nghìn năm trước đây, trên mảnh đất này đã xuất hiện một nên
văn minh rực rỡ của nông nghiệp lúa nước và trống ẩông-N'ên văn minh Sông
Hông.
Ở bán đảo hình chữ s, các dòng sông và các dãy núi đều chạy theo hướng
Tây Bắc - Đông Nam, từ lục địa đổ ra biển cả. Đứng quay mặt ra biển Đông,
Thái Bình Dương quanh năm sóng vỗ, lãnh thổ Mệt Nam trải dài ra them lục
địa vói các quần đảo và các phần chìm dưới mặt biển. Trong dải giang sơn gấm
vóc ấy, vùng đồng bàng Sông Hồng giữ một vị trí đặc biệt. Đây là cái nôi của
dân tộc, của nên văn hóa Mệt Nam. Nhiều di chỉ vãn hóa Phùng Nguyên, Đồng
Đậu, Gò Mun tìm thấy ở Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hà Tây, Hà Nội chỉ rõ những cư
dân nông nghiệp đã sinh tụ tại đây từ sơ kỳ đến hậu kỳ thời đại đồng thau.
Người ta đã đào được những ngôi mộ cổ thời văn hóa Đông Sơn trên những nền
Với tư cách là chủ thể của cộng đồng làng xã - những người nông dân sinh
ra và lớn lên, hoạt động và giao tiếp trong những điều kiên hàng nghìn năm ít
có những thay đổi lớn lao. Dù ở trung du hay đồng bàng, miền núi hay miền
biển, đất đai canh tác thuộc sở hữu tư nhân hay đất công cũng chỉ là những thửa
ruộng, mảnh nương nhỏ nhoi và manh mún. Với thời gian, những ruộng nương
và đất đai ấy không đươc mở rộng ra, mà còn bị thu hẹp lại vì sự tăng trưởng
dân số.
Trong những điều kiên như thế, người nông dân không thể không nương
tựa vào nhau, cưu mang giúp đỡ lẫn nhau trong tinh thần cộng đồng vốn được
hình thành từ buổi đầu khi làng mới được thành lập. Có cộng đồng gia tộc, cộng
đồng huyết thống, cộng đồng phe giáp, cộng đồng làng xã Nhưng trong tất cả
các thang bậc ấy,thì tâm lý cộng đồng làng xã tồn tại tương đối lâu dài với
những đặc điểm riêng, biểu hiện trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của người
nông dân.
Hoạt động giao tiếp chủ đạo của người dân trong làng dù mang tính cá thể
hay tính cộng đồng đều chủỵếu diễn ra trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
Trong mõi làng thường có quỹ cứu tế, hay còn gọi là quỹ nghĩa thương, quỹ xã
thương (phải chăng là hình thức sơ khai của quỹ xóa đói giảm nghèo). Quỹ đó.
khi thì được phân chia, khi thì được cho vay với lãi suất nhẹ. Quỹ đó cũng được
bán đi để mua Ihuốc .cấp cho những người bị dịch bệnh. Cách thức gây quỹ
15
nghĩa thương ở các làng cũng khác nhau. Chẳng hạn, cứ một sào ruộng phải
nộp vào quỹ một đấu thóc. Cách cấp phát của từng làng cũng được xác đinh rõ:
Ơ 1Ỉ những cá nhân nào thực sự đói kém, gặp tai nạn mới được nhận. Có iàng
phân loại các hạng gia đình túng thiẽu nhiều, túng thiếu ít, tạm đủ rồi căn cứ
vào số lượng thóc hiên có để phân phát. Khi trong làng chẳng may có nhiều
người chết đói,người ta thường đem cầm cố hoặc bán đi những tài sản cố định
như ruộng công, đầm, hồ để kịp thời cứu đói. Có làng lại tìm đến những làng
kết chạ (kết bạn) kết nghĩa với mình để xin vay tập thể. Các làng có mức sống
khá hơn thữờng mang thóc gạo, ngô khoai, tiền bạc đến giúp các làng đói kém
tự túc ở nông thôn ngày xưa. Nó cho thấy con ngưòi tuy đã sống theo lối sống
cá thể nhưng chưa có thể tách rời cái cuống nhau tập thể. Nó là sợi dây rất bên,
luôn luôn củng cố ý thức gắn bó với nhau tronglàng xã, luôn luôn mở rộng
những quan hệ liên minh hợp tác ngoài họ hặng làng xã. Mặt khác, cứu tế, nhất
là tương trợ cũng phản ánh chế độ thuê mượn kém phát triển, hay nói cách khác
chính nó là một trong những nguyên nhân làm trở ngại sự phát triển của quan
hệ làm thuê, quan hệ trao đổi ngang giá có đồng tiền làm thước đo. Nó cũng
phần nào phản ánh sự phân hóa xã hội, làm cho mâu thuẫn giai cấp không đi
đến sâu sắc. "Bần phú tương tư" câu nói đó chính là một thứ khẩu hiệu nặng tư
tưởng của chủ nghĩa bình quân.
- Vê mặt thực tiễn, vãh đề cứu tế tương trợ của xã hội truyền thống được
thực hiện một cách tự phát trong phạm vi làng xã vì nó là vấn đ'ê thiết thân của
làng xã. Làng xã có khả năng giải quyết một cách tự túc và thuận lợi vấh đề bảo
vệ sản xuất và bảo vệ an ninh cho nó nói riêng và cho quốc gia nói chung.
Những lãnh nghiêm của nó về nghĩa thương, vê tổ chức đoàn luyện, đoàn kết
chẳng hạn, phải coi ià mẫu mực trong thời đại phong kiến. Nghĩa thương là kho
thóc chủ yếu có lợi cho những ngừơi nghèo nếu họ biết đấu tranh để thực hiện
quản lý dân chủ. Đoàn luyện, đoàn kết chẳng qua là tổ chức dân bình hay
hương bình. Tuy nhiên không phải bất cứ làng nào cũng thực hiện được tốt.
Vê phía nhà nước, các triều đại phong kiến cũng thường khuyến khích các
làng xã tiến hành những hoạt động trên để đỡ nhẹ cho nó trong vấn đề cứu tế xã
hội và an ninh xã hội. Không những thế, nhà nước có lúc lợi dụng và cố sức
hướng hoạt động ấy phát triển ở nông thôn để phục vụ lợi ích cho nó. Thực ra,
nếu được tổ chức và qụản lý tốt thì nghĩa thương làng xã sẽ thành một hệ thống
quỹ tiết kiệm bằng lương thực rất được việc trong vãh đề điều chỉnh giá cả thị
trường, chống đầu cơ tích trữ, và giải quyết bao nhiêu vấn đề cứu tế và phúc lợi
do địa phương tự túc, không phải làm phiền đến trung ương. Nếu được nâng cao
chất lượng thì những tổ chức đoàn luyện, đoàn kết sẽ ià một lực lượng hỗ trợ
rất mạnh của nhà nước trong vâún đề quốc phòng, trong những thời kỳ chống
ngoại xâm Tất nhiên do tính chất giai cấp của nó, mặc dù có nhiều mức độ
triển đều chú trọng đến công tác chống đói nghèo. Họ luôn phải xác định một
mức tăng trưởng hợp lý nhằm tạo điều kiên để vừa duy trì sự tăng trưởng vừa
cải thiện đời sống. Đối với họ, kết quả của sự tâng trưởng kinh tế phải tạo ra sức
manh cần thiết cho sự thay đổi về sự tạo lập các cơ sở hạ tầng vật chất, và hạ
tầng kinh tế vĩ mô, nhàm cho người nghèo có khả nâng tiếp cận với thị trường,
hòa nhập vói đời sống cộng đồng trong sự phát triển. Những kinh nghiệm của
các nước ở Đông Nam Á đã chỉ ra rằng, mặc dù tăng trưởng nhanh là cần thiết,
nhưng không thể dựa hoàn toàn vào tăng trướng để xóa nghèo đói. Thành công
của Trung Quốc trong việc giảm tỷ lê người nghèo đói chủ yếu không chỉ do
tãng trưởng kinh tế, mà còn do những biện pháp phát triển việc làm ở nông
thôn, mở rộng hệ thống dạy nghê, tăng cường kỹ thuật mới giảm nhẹ điều kiện
làm để cải thiện điêu kiện sống của người dân. Chính với định hướng trên,
hiộn là một trong các nước có tỷ lệ thấp nhất về số người sống dưới
đói. Tuy nhiên, do dân số của Trung Quốc quá đông, nãm 1991 còn
người sống dưới mức nghèo đói, trong đó 27 triệu người sống ử
mức bân cùng.
Để có những tác động trực tiếp và có hiệu quả đến bộ phận dân cư đang ử
tình trạng nghèo khổ, ngoài việc xác định mức tăng trưởng kinh tế hợp lý, các
quốc gia đều hình thành những chương trình giảm bớt nghèo đói. Chương trình
giảm bớt nghèo đói thường mang tính quốc gia nhàm thống nhất quan điểm,
đinh hướng chiến lược cho việc chỉ đạo, điều hành, thực hiện và kiểm soát việc
thực hiện các kế hoạch xóa đói giảm nghèo. Nó là một hệ thống các giải pháp
đinh rõ vai trò của Nhà nước, của các tổ chức trong xã hội và cá nhân trong
việc phố hợp hành động, tạo ra những cơ hội phát triển, cho mỗi cá nhân hoặc
nhóm đối tượng đói nghèo trong đời sống cộng đồng.
Về vai trò của Nhà nước, dường như mỗi quốc gia lại có một chuơng trình
riêng nhưng thường tập trung vào những điểm sau đây:
Thứ nhất: Đưa ra các chính sách kinh tế vĩ mô nhàm thúc đẩy phát triển
và ổn định kinh tế, làm cơ sở căn bản cho viêc thanh toán nạn nghèo khổ.
Thứ hai: Cung cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu và dịch vụ xã hội nhằm hỗ trự
chính sách phát triển để loại trừ nghèo đói ở từng vùng trọng điểm, trên cơ sở
đó xóa bỏ dần sự nghèo đói trên phạm vi rộng.
Chẳng hạn như ở mô hình của Indonesia. Trong những nãm 70 Chính phủ
Inđônêsia dùng phần lớn số tiền thu từ khai thác dầu để phát triển kinh tế và tập
trung loại trừ nghèo đói ở vùng JAVA Hiộn tại đất nước này lại hướng về giải
quyết nghèo đói ở các vùng khác. Kết quả là đã giảm số người nghèo đói từ 70
triộu người (60% số dân) trong thập kỷ 70 xuống còn 27 triệu người (15%) vào
đầu thập kỷ 90. Đó cũng là mô hình của Malaisia và giảm được tỉ lê nghèo khổ
từ 20,7% vào năm 198Ố xuống 17,1% vào năm 1990.
Nhiều nước còn kết hợp chính sách phát triển toàn quốc liền với chính
sách phát triển nông thôn thông qua việc hình thành các xí nghiệp ở làng quê
nghèo, phát triển doanh nghiệp nhỏ, mở rộng các trung tâm dạy nghẽ ở nông
thôn, nhàm giảm bớt sự nghèo khổ. Đây là mô hình của Thái Lan vào những
năm 80 và hiện tại.
Thái Lan đã tổ chức Ban phát triển nông thôn (IBIRD), tổ chức Hiệp hội
dân số và phát triển cộng đồng (PDA) đảm nhiệm các nhiệm vụ trên. Và Thái
Lan đã thành công , giảm được tỉ lê người nghèo từ khoảng 30% dân số trong
thập kỷ 80 xuống còn 23% nãm 1990 (13 triệu).
3.3. Nghèo khổ trong giai đoạn kinh tế tập trung quan liêu bao cấp.
Tnrớc đây ở nước ta, trong một thời gian dài, công bằng xã hội vẫn từng là
íiTtUC tiêu đươc nêu lên như là một lời vẫy gọi cao cả, song quá trình thực hiện
20
lại dẫn đến chủ nghĩa bình quản bao cấp, chia đều sự nghèo khổ - nông thôn
đồng bằng Bắc Bộ cũng khủng nằm ngoài quy luật dó. Mặt khác, trong khi ké
thừa và phát huy lôn một bước mới truyền thống công đồng vốn đã là một sức
mạnh chống ngoại xâm giữ nước và dựng nước, chúng ta lại không chú trọng
khắc phục mặt trái cùa truyôn thống đã có phần hòa tan cá nhân vào cộng đồng,
khổng tôn trọng cá nhăn, khổng hướng tới mục tiêu giải phóng cá nhân. Nhấn
mạnh một chiều nền kinh tế tập thể và quốc doanh, đề cao hết mức ý thức tập
thể, thậm chí dẫn đến chỗ có lúc đã đối lập tập Ihể với cá nhân, không tôn
21
duy trì quá lâu nền kinh tế tập trung quan liêu và bao cấp làm cho tình hình
thêm trầm trọng”[27, tr 3].
3.4. Sự nghèo khổ và cơ chế thị trường.
Từ Đại hội VI cùa Đảng đến nay, đất nước ta đang trong quá trình đổi mới
có tính chất cách mạng, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cáp
sang nền kinh tế thị trường. Về thực chất, đó là sự thay đổi cấu trúc kinh tế xã
hội. Mặc dù chúng ta đã đạt được những bước tiến quan trọng trong phát triển
kinh tế, song quá trình chuyển sang nền kinh tế thị tnròng cũng làm cho cơ cấu
xã hội có những biến đổi lớn, mà căn nguyên của nó là quan hệ kinh tế, quan hệ
lao đông thay đổi dẫn đến quan hộ xă hội cũng thay đổi theo. Vì vậy, vấn đề đặt
ra là phải có chính sách điều chỉnh các quan hệ xã hội như thế nào để vừa
khuyên khích phát triển sản xuất theo quy luật của nền kinh tế thị trường, vừa
điều tiết hợp lý lợi ích của các tầng lớp dân cư, đảm bảo cho cơ cấu xă hội thay
đổi phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta.
Nền kinh tế thị tnrờng với những nguyên tác tất yếu của sự cạnh tranh vì
lợi ích kinh tế, với tính thực đụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh bao
giờ cũng dãn tói sự phát triển không đêu của các nhóm dân cư. Những bộ phận
dân cư có khả nâng v'ê vốn, lao động, kỹ thuật và kiến thức kinh doanh sẽ phát
triển vượt lên, những bộ phân dân cư khác, do các điêu kiện khách quan và chù
quan nhất đinh có thể sẽ bị rơi vào những hoàn cảnh khó khăn túng thiếu, thậm
chí phá sản. Vì vậy, trong n'ỏn kỉnh tế thị trường, dù muốn dù khổng, cũng gắn
liền với xu hướng phân cực cũng diễn ra thường xuyên và không kém phần
quyết liệt, trong đó sự giàu bao giờ cũng tăng lẽn bẽn cạnh sự tăng lên của hiện
tượng nghèo đói nếu không được kiểm soát và điều tiết. Việc ngăn chặn quá
trình nghèo đói tự phát của bộ phận dân cư là đòi hỏi khách quan của nên kinh
tế thị trường. Cuộc vận động xóa đói giảm nghèo hiện đang được toàn Đảng,
toàn dân ta nỗ lực hưởng úng cũng chính nhằm vào yêu cầu đòi hỏi khách quan
đó.
4. Nghiên cứu xã hội học và chiến lược xóa đóỉ giảm nghèo.
kế hoạch lại có chính sách phân phối đất theo nhân khẩu; hay biên chế bộ máy
của chính quyên cấp xã lại phụ thuộc vào sô' dân trong xã, v.v chính nhũng
đĩêu bất cập đó đang làm giảm đi hiệu quả của công cuộc xóa đói giảm nghèo.
Vì vậy, hơn bao giờ hết, vai trò của khoa học công nghệ nói chung và xã hội
học nói riêng càng trở nên cấp thiết trong giai đoạn hiên nay. Với luận án này
chúng tồi hy vọng từ nhu cầu nhận biết hiện trạng, nguyên nhân nghèo khổ ở
nồng thôn để đi tới giải pháp hữu hiệu, làm trợ thủ đắc lực cho những chính
sấch xóa đối giảm nghèo ở nông thổn nước ta.
23
CHƯƠNG HAI
NHỮNG B Ế N ĐỔI KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG CỦA CÁC
HỘ NGHÈO Ở NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HTFN NAY
I. VỀ NHỮNG BIỂN ĐỔI KINH TẾ SAU ĐÓI MỚI
Nông thôn nước ta nói chung và đồng bầng Bắc bộ nói rìèng đang đứng
trước những biến đổi đáng kể vê cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội. Đặc biệt, sau
Đại hội VI của Đảng, một phương hướng mới đối với sự vận động và phát triển
nông nghiệp và nông thôn đã được mở ra. Tính thực tiễn của phương hướng này
là ở chỗ nó xóa bỏ sự trói buộc của cơ chế cũ, mờ ra một khả năng rộng rãi để
Khai thác tiêm lực tài nguyên, tiêm năng sức người, sức của ở nông thôn vì sự
phát triển. Chỉ trong một thởi gian ngắn, một số vùng (tông thôn đã cố nhũng
thay đổi rõ rệt. Các thành phần kinh tế bước dầu đã được mở rộng và phát triển
đa dạng. Giao lưu hàng hóa được khai thông, thị trường được mờ rộng. Một số
ngành nghề ngoài nông nghiệp được mở mang, ở một số nơi, thù công nghiệp
nông thôn và ngành nghề truyền thống vẫn phát triển. Nhiều vùng nông thôn
nghèo đói trước đây, nay đã tương đối trù phú hơn.
Tuy nhiên, sự phát triển của cơ cấu kỉnh tế cũng kéo theo những hệ quả xã
hộỉ tất yếu, mà trên thực tế việc giải quyết nố không hề đơn giản. Trong xu ỉhế
đi ỉên lành mạnh tích cực là cơ bản, các hiện tượng bất bình đẳng trong sản xuất
và phân phối thu nhập của từng nhóm dân cư nông thôn và từng khu vực bát
dầu nảy sinh và đôi khỉ đã có những biểu hiện rõ nét: Mội mặt là tình trạng