VN GIM ểI NGHẩO V PHT TRIN X HI
NễNG THễN VIT NAM TM NHèN, THC TRNG
V GII PHP
THE PROBLEM OF HUNGER AND POVERTY REDUCTION
AND SOCIAL DEVELOPMENT IN VIETNAMS RURAL AREAS
VIEWPOINT, CURRENT SITUATION, AND SOLUTIONS TRN TH NGUYT
Trng i hc Kinh t Quc dõn H Ni TểM TT
Vit Nam c nhõn loi bit n nh mt in hỡnh ca s n nh chớnh tr, xó hi; nh l
tm gng cho cỏc nc ang phỏt trin v s tng trng v phỏt trin bn vng. Tri qua
bn nm k t nm thc hin chin lc phỏt trin thp niờn u th k 21, ó n lỳc chỳng
ta cn nghiờn cu, ỏnh giỏ li tỡnh hỡnh, c bit l i vi khu vc nụng thụn.
Trờn c s cỏc lun thuyt khoa hc v tng trng v v cỏc vn xó hi, ng thi da
vo cỏc kt qu kho sỏt thc tin, phõn tớch thc trng, tỏc gi a ra cỏc kinh nghim, gii
phỏp tớch cc cho n lc gim mnh tỡnh trng úi, nghốo; xoỏ b bt bỡnh ng v nguy c
phõn hoỏ khu vc nụng thụn Vit Nam.
ABSTRACT
Vietnam is known as a typical country of political and social stability. It is also a good example
for the developing countries in terms of stable growth and development. Four years have
passed since the implementation of the development strategy at the beginning of the 21
st
century, and it is time to study and re-evaluate the situation, especially in the rural areas.
Based on the scientific theories about the growth and social issues, the results of practical
surveys, and the analysis of the current situation, the author presents experience and positive
solutions to increase the reduction of hunger and poverty, to eradicate the inequality and
từ thực tiễn cũng nh7 những thông tin công bố từ phía nhà n7ớc, chúng ta thấy đ7ợc những
thành tựu nổi bật của Việt Nam trong việc giải quyết đói nghèo và phát triển xã hội ở nông
thôn thời gian qua. Việt Nam đã có những b7ớc tiến đầy ấn t7ợng trong các lĩnh vực xã hội.
Tỷ lệ xoá đói giảm nghèo đã đ7a Việt Nam vào số những n7ớc đứng đầu về giảm đói nghèo ở
bất cứ thời kỳ nào. Việt Nam cũng đạt đ7ợc chỉ số phát triển con ng7ời ở mức trung bình mặc
dù là một n7ớc có xuất phát điểm rất thấp, khởi sự từ nền kinh tế còn nghèo. Khác với hầu hết
các n7ớc đang trong quá trình chuyển đổi, Việt Nam có khả năng tránh đ7ợc sự suy giảm
nhanh về các chỉ tiêu xã hội và phạm vi đối t7ợng của các dịch vụ mà trái lại, một số chỉ tiêu
chủ yếu - chẳng hạn tỷ lệ học sinh nhập học ở bậc tiểu học - vẫn đ7ợc duy trì ở mức rất cao so
với một số n7ớc có mức thu nhập nh7 Việt Nam. Hiện tại, Việt Nam có một cơ hội tuyệt vời
để phát huy những thành công này. Kết cấu hạ tầng cơ sở đã có ở nhiều nơi để Việt Nam giờ
đây tập trung vào việc nâng cao chất l7ợng của các dịch vụ cơ bản và sự tiếp cận của ng7ời
nghèo với các dịch vụ đó.
2. Bên cạnh đó, một số dấu hiệu đáng ngại đã trở nên ngày càng rõ nét trong vài năm
qua. Sự khác biệt giữa các vùng với sự khác biệt về mặt địa lý tính theo hầu hết các chỉ tiêu
kinh tế đang tăng lên trong khi khoảng cách về các chỉ tiêu xã hội vẫn còn lớn (dù rằng có sự
tiến bộ rõ rệt trong một vài lĩnh vực).
Một vấn đề ngày càng trở nên rõ ràng là cơ chế hiện hành nhằm đảm bảo sự tiếp cận
của ng7ời nghèo với các dịch vụ xã hội cơ bản và mạng l7ới bảo trợ xã hội hoạt động
ch7a/không có hiệu quả. Mạng l7ới bảo trợ xã hội chính thức ít nhằm trúng đối t7ợng và phạm
vi đối t7ợng (độ phủ) của nó còn hạn hẹp, hạn chế khả năng của chính phủ trong việc dịu bớt
gánh nặng đè lên những ng7ời dân nghèo khi nền kinh tế phát triển chậm lại. Và chất l7ợng
của các dịch vụ cơ bản còn thấp. Ví dụ, tỷ lệ bỏ học và l7u ban ở cấp tiểu học rất cao, vì thế
tình trạng tái mù chữ đã xuất hiện và tỷ lệ không phải là nhỏ. Từ một góc độ khác, chúng ta
thấy rằng tỷ lệ trẻ em mới sinh ra còn rất cao lại đi đôi với tỷ lệ trẻ em suy dinh d7ỡng vẫn còn
tiếp tục ở mức cao. Một thực tế phổ biến là nhiều hộ gia đình vẫn còn bấp bênh ngay trên
chuẩn đói nghèo và vì vậy có nhiều nguy cơ tái nghèo (nhất là trong điều kiện nền kinh tế suy
giảm hoặc có biến động mạnh).
Chúng ta thấy rằng, những nh7ợc điểm này ở một mức độ nào đó đã trở nên trầm trọng
hơn do những chính sách ch7a đồng bộ, thậm chí ch7a phù hợp do nóng vội. Đầu t7 công cộng
dục Cần phải đẩy nhanh tốc độ giảm đói nghèo vốn đã t7ơng đối thấp trong 5 năm vừa qua,
nếu không, đến năm 2010 có nhiều khả năng trên 50% dân số thuộc các dân tộc thiểu số ở
Việt Nam vẫn sống cuộc sống nghèo khổ.
Chiến l7ợc quan trọng nhất để giảm đói nghèo ở Việt Nam là khôi phục tốc độ cải tổ,
tiến hành cải tổ cơ cấu kinh tế nhằm tạo việc làm. Tuy vậy, chúng ta vẫn cần chú trọng ba vấn
đề cải tổ nữa, đó là:
- T7 duy lại chính sách vùng nhằm tạo điều kiện cho các vùng nghèo nhất phát triển
nhanh, nhanh hơn các vùng khác.
- Các chính sách ngành nhằm xúc tiến các ph7ơng thức tăng tr7ởng mà các hộ t7ơng
đối nghèo có thể tham gia vào.
- Tạo ra một khuôn khổ chính sách, pháp lý vì ng7ời nghèo (vốn, công nghệ, khoa học,
kỹ thuật, kỹ năng sản xuất, trợ giúp pháp lý, y tế cộng đồng, v.v )
Theo đó, chúng ta cần tiếp tục sự chuyển h7ớng chính sách phát triển nông thôn với
những hành động thực tế. Những b7ớc đi quan trọng nhất bao gồm: Cải cách tài chính công -
bằng cách tăng c7ờng phân bổ đầu t7 thông qua ch7ơng trình đầu t7 công cộng cho phát triển
nông thôn và cải cách tài chính giữa các tỉnh theo h7ớng tăng c7ờng phân phối lại cho các tỉnh
yếu kém về ngân sách. Ngoài ra, việc giảm vụ lợi kinh tế và tham nhũng sẽ hạn chế thất thoát
trong các quyết định kinh tế - chính trị cho nông thôn đặc biệt là cho nông nghiệp.
* Bên cạnh đó, chúng ta cần tăng c7ờng khuôn khổ chính sách xoá đói giảm nghèo
(XĐGN) và thực hiện ch7ơng trình mục tiêu quốc gia đối với các xã nghèo nhất. Vấn đề này
có thể thực hiện đ7ợc bằng cách:
- Lồng ghép vấn đề XĐGN vào các chính sách kinh tế vĩ mô chung và chính sách
nghành.
- Tăng c7ờng quản lý hành chính mang tính linh hoạt, thích ừngva xúc tiến các mô
hình phát triển khác nhau đối với các vùng cao;
- Thực hiện trợ cấp có chọn lọc: chuyển từ trợ cấp tín dụng sang các dịch vụ kinh tế và
xã hội.
- Cân đối các mục tiêu về công bằng, tính bền vững và hiệu quả trong khuôn khổ
XĐGN thay vì chú trọng quá mức vào riêng vấn đề công bằng;
- Chuyển từ ch7ơng trình 1715 xã nghèo trong thời kỳ 1999 - 2003 sang ch7ơng trình