LỜI NÓI ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt động vào năm
2000. Từ một thị trường èo uột với vài chục mã số giao dịch và số lượng ít ỏi
các nhà đầu tư..., cùng với sự phát triển của nền kinh tế và tác động tích cực của
việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO, đã có sự bùng nổ dữ dội, minh
chứng là hàng trăm doanh nghiệp có uy tín đã tiến hành cổ phần hoá và tham gia
niêm yết, khối lượng giao dịch từ một vài tỷ đồng đã tăng lên hàng nghìn tỷ mỗi
phiên. Đặc biệt từ con số 15, số lượng công ty chứng khoán đã nhanh chóng
tăng lên gần 70. Sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường chứng khoán là một
tín hiệu đáng mừng, báo hiệu sự khởi sắc của nền kinh tế đất nước, tuy nhiên rất
có thể nó cũng sẽ mang tới những ảnh hưởng tiêu cực cho sự phát triển vĩ mô
của đất nước. Không thể phủ nhận được chỉ số lạm phát khá cao và đáng lo ngại
những tháng cuối năm 2007 có sự ‘đóng góp” do sự tăng trưởng nóng của thị
trường chứng khoán. Để thị trường phát triển đúng hướng, an toàn và ổn đinh,
hạn chế được những rủi ro phát sinh, có rất nhiều việc phải làm: từ các nhà
hoạch định chính sách vĩ mô tạo ra khung pháp lý, cơ chế chính sách chặt chẽ để
quản lý thị trường một cách hữu hiệu, đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ kể cả
các sản phẩm phái sinh...trong đó việc nâng cao chất lượng hoạt động của các
công ty chứng khoán cũng là một yếu tố rất quan trọng nhất là trong điều kiện số
lượng các công ty tăng nhiều và nhanh như hiện nay. Một tổ chức kinh doanh
chứng khoán chuyên nghiệp thực hiện nhiều nghiệp vụ khác nhau như môi giới,
tư vấn, bảo lãnh phát hành....trong đó tự doanh có thể được xem là nghiệp vụ
phức tạp và quan trọng nhất. Hoạt động tự doanh không chỉ mang lại lợi nhuận
rất lớn cho công ty chứng khoán mà nó còn là tiền đề, tạo cơ sở cho các nghiệp
vụ khác phát triển, tuy nhiên do phức tạp và phải chịu ảnh hưởng của rất nhiều
nhân tố khác nhau nên nếu tổ chức không tốt, chỉ một khâu nào đó trục trặc có
thể dẫn đến rủi ro, thua lỗ cho công ty. Do vai trò quan trọng như vậy nên có thể
nói việc nâng cao chất lượng hoạt động của công ty chứng khoán cũng đồng
nghĩa với việc nghiên cứu nâng cao chất lượng của hoạt động tự doanh.
Xét ở góc độ đó em muốn dành thời gian của khoá luận để tập trung
Công ty TNHH Chứng khoán Ngân Hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
Việt Nam
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN
I - CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1- Khái niệm công ty chứng khoán
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một bộ phận của thị trường tài chính,
có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình huy động và sử dụng vốn cho nền
kinh tế. TTCK là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán chuyển nhượng các
loại chứng khoán. Các sản phẩm trên TTCK khác với những sản phẩm hàng hóa
thông thường ở chỗ chúng không thể cầm, nắm hay cân đo đong đếm được,
chúng là những sản phẩm tài chính. Thực ra, hình thức biểu hiện của chứng
khoán cũng giống như tiền, tức là chúng không có giá trị nội tại. Giá trị của
chứng khoán chính là các lợi ích mà tổ chức phát hành mang lại cho người sở
hữu chứng khoán với những điều kiện ràng buộc cụ thể. Chứng khoán có các
thuộc tính gắn liền với nó là tính sinh lợi, tính thanh khoản và tính rủi ro. Chính
những đặc điểm này làm chứng khoán trở thành những hàng hóa cao cấp, mà
việc xác định giá trị thật không hề đơn giản.
Trên TTCK, chứng khoán được các tổ chức phát hành bán cho các nhà
đầu tư cũng như được các nhà đầu tư mua đi bán lại với nhau, tuy vậy không
phải mọi người được mua bán, trao đổi chứng khoán trực tiếp cho nhau mà mọi
giao dịch phải qua các trung gian môi giới.
Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán trên thế giới
cho thấy, lúc ban đầu các nhà môi giới hoạt động cá nhân độc lập với nhau. Sau
này, cùng với sự tăng quy mô, khối lượng giao dịch và chức năng của các nhà
môi giới, đòi hỏi sự ra đời của các công ty chứng khoán là sự tập hợp của các
nhà môi giới riêng lẻ. Cùng với sự phát triển của TTCK, các nghiệp vụ cũng
được mở rộng, không chỉ gói gọn trong nghiệp vụ môi giới, các công ty chứng
khoán ngày càng có cơ cấu, tổ chức hoạt động phức tạp hơn, mang một vai trò
thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán. Ngoài những nghiệp vụ trên, công ty
chứng khoán được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính
khác." Luật Chứng khoán có một điểm khác so với Nghị định 144/2003/NĐ-CP
ngày 28/08/2003 đó là không cho phép công ty chứng khoán thực hiện nghiệp
vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán nữa.
Hoạt động của các công ty chứng khoán rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn
với các doanh nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì môi trường hoạt
động của chúng chính là TTCK – thị trường tài chính bậc cao của nền kinh tế thị
trường. Chính hoạt động đa dạng và phức tạp như vậy nên vấn đề xác định mô
hình tổ chức kinh doanh của công ty chứng khoán ở mỗi quốc gia lại có những
điểm khác biệt nhất định. Nhìn chung, hai mô hình được áp dụng phổ biến hiện
nay là mô hình công ty đa năng và mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán.
Mô hình công ty đa năng được chia làm hai dạng: đa năng một phần (các
ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập các công ty con độc
lập, hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ) và đa năng hoàn toàn
(các ngân hàng thương mại được phép kinh doanh tổng hợp, bao gồm cả tiền tệ,
chứng khoán và bảo hiểm). Mô hình đa năng hoàn toàn có ưu điểm là sự kết hợp
đa năng rất cao, do đó giảm bớt được rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung
bằng việc đa dạng hóa đầu tư. Ngoài ra, mô hình này còn có ưu điểm là tăng khả
năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị trường tài chính.
Tuy nhiên ở mô hình này tính chuyên môn hóa không cao, và nếu môi trường
luật pháp không chặt chẽ sẽ dễ dẫn tới tình trạng lũng đoạn thị trường, dễ dẫn
đến khủng hoảng tài chính. Do những hạn chế như vậy, nhiều nước đã chuyển
sang áp dụng mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh, mô hình đa năng
hoàn toàn chỉ còn tồn tại ở một số ít quốc gia.
Ngược lại, theo mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán, hoạt động
kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh
vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được trực tiếp tham gia vào
kinh doanh chứng khoán. Mô hình này có ưu điểm là hạn chế được rủi ro cho hệ
thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán đi vào chuyên môn
Luật chứng khoán năm 2006 quy định: “Tự doanh chứng khoán là việc
công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình.”
Hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện thông qua cơ chế giao dịch
trên các thị trường giao dịch tập trung (sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao
dịch chứng khoán) hoặc thị trường OTC. Trên thị trường giao dich tập trung,
lệnh giao dịch của các CTCK được đưa vào hệ thống và thực hiện tương tự lệnh
giao dịch của khách hàng. Trên thị trường OTC, hoạt động này có thể thực hiện
trực tiếp giữa công ty với đối tác hay qua một hệ thống mạng thông tin.
Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm được thu lợi nhuận cho chính
công ty thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp vụ
này hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới chứng khoán, vừa phục vụ lệnh
giao dịch cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính công ty, vì vậy
trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thực hiện giao
dịch cho khách hàng và cho bản thân công ty. Do đó, luật pháp của các nước đều
yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa các nghiệp vụ môi giới chứng khoán và tự doanh
chứng khoán, CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực
hiện lệnh cho mình.
Khác với nghiệp vụ môi giới, CTCK chỉ làm trung gian thực hiện lệnh
cho khách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh CTCK kinh
doanh bằng chính nguồn vốn của công ty. Vì vậy, CTCK đòi hỏi phải có nguồn
vốn rất lớn và đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn tốt, có khả năng phân
tích và đưa ra những quyết định đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường hợp đóng
vai trò là các nhà tạo lập thị trường.
2.3. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán
Luật chứng khoán năm 2006 ghi rõ: “Bảo lãnh phát hành chứng khoán là
việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ
tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng
khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa
được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong
việc phân phối chứng khoán ra công chúng.”
nhuận lớn hoặc thua lỗ, thậm chí phá sản, còn người tư vấn vẫn thu về cho mình
phí dịch vụ tư vấn bất kể kết quả kinh doanh của khách hàng có thành công hay
không.
Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán được phân loại theo các tiêu chí
sau:
Theo hình thức của hoạt động tư vấn: Bao gồm có tư vấn trực tiếp (gặp gỡ
khách hàng trực tiếp hoặc thông qua thư từ, điện thoại) và tư vấn gián tiếp
(thông qua các ấn phẩm, sách báo) để tư vấn cho khách hàng.
Theo mức độ uỷ quyền của tư vấn: bao gồm có tư vấn gợi ý (gợi ý cho
khách hàng về phương cách đầu tư hợp lý, quyết định đầu tư là của khách hàng)
và tư vấn uỷ quyền (vừa tư vấn vừa quyết định theo sự phân cấp, uỷ quyền thực
hiện của khách hàng).
Theo đối tượng của hoạt động tư vấn: Bao gồm có tư vấn cho người phát
hành (tư vấn cho tổ chức dự kiến phát hành: cách thức, hình thức phát hành, xây
dựng hồ sơ, bản cáo bạch… và giúp tổ chức phát hành trong việc lựa chọn tổ
chức bảo lãnh, phân phối chứng khoán) và tư vấn đầu tư (tư vấn cho khách hàng
đầu tư chứng khoán trên thị trường thứ cấp về giá, thời gian, định hướng đầu tư
vào các loại chứng khoán…vv).
2.5 Các hoạt động phụ trợ
Lưu ký chứng khoán: Là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách
hàng thông qua tài khoản lưu ký chứng khoán. Đây là quy định bắt buộc trong
giao dịch chứng khoán, bởi giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung là
hình thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán
tại các CTCK (nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi sổ) hoặc ký gửi
các chứng khoán (nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức chứng chỉ vật
chất). Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho các khách hàng, CTCK sẽ
được nhận các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyển
nhượng chứng khoán.
Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức): Xuất phát từ việc lưu
ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổ tức của
thông dễ dàng, tạo ra tính thanh khoản cao , qua đó huy động được một lượng
vốn khổng lồ nhàn rỗi, nằm lẻ tẻ trong dân chúng để đưa vào những nơi sử dụng
hiệu quả hơn.
Công ty chứng khoán có các chức năng cơ bản sau :
Tạo cơ chế huy động vốn bằng cách nối những người có vốn (nhà đầu tư)
đến những người có nhu cầu sử dụng vốn, muốn huy động vốn (những người
phát hành chứng khoán) thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành.
Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán qua cung cấp cơ chế chuyển từ
chứng khoán ra tiền mặt và từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng.
Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (qua hoạt động tự doanh với vai
trò nhà tạo lập thị trường)
3.2 Vai trò của công ty chứng khoán
3.2.1 Đối với các tổ chức phát hành
Tạo cơ chế huy động vốn: Mục tiêu chính tham gia TTCK của các tổ chức
phát hành chính là huy động vốn thông qua việc phát hành các loại chứng
khoán. Một trong nguyên tắc hoạt động của TTCK là nguyên tắc trung gian,
nguyên tắc này yêu cầu các tổ chức phát hành và các nhà đầu tư không được
mua bán chứng khoán trực tiếp với nhau mà phải thông qua trung gian mua bán.
CTCK với tư cách là một định chế tài chính trung gian, hỗ trợ việc huy động
vốn của các tổ chức phát hành thông qua hoạt động bảo lãnh phát hành.
Hỗ trợ chuyên môn thông qua tư vấn: Ngoài ra, CTCK còn cung cấp cho
doanh nghiệp các giải pháp tổng hợp về tài chính công ty, cơ cấu lại, lập và đánh
giá dự án, quản lý tài sản và định hướng đầu tư.
3.2.2 Đối với các nhà đầu tư
Tăng hiệu quả đầu tư: Để tham gia đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư
phải trải qua một quá trình dài, từ tìm hiểu thông tin thị trường, thông tin về
chứng khoán muốn đầu tư, đưa ra quyết định đầu tư (thời điểm đầu tư, số vốn
đầu tư, cơ cấu danh mục đầu tư…), tiến hành đầu tư (đặt lệnh đối với chứng
khoán niêm yết hay đi tìm người muốn bán/mua đối với chứng khoán chưa
niêm yết), thực hiện các thủ tục cần thiết như thanh toán, lưu ký….Tóm lại, để
môn và uy tín của mình, cổ phiếu và trái phiếu khi được công ty chứng khoán
bảo lãnh phát hành sẽ rút ngắn thời gian phát hành và nhanh chóng được giao
dịch. Trong quá trình bảo lãnh, CTCK định giá chứng khoán cho đợt phát hành
phù hợp với thực trạng của tổ chức phát hành và tình hình thị trường, đồng thời
bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu. Điều này khiến chứng khoán được
nhà đầu tư tín nhiệm hơn. Bên cạnh đó, hoạt động môi giới và tư vấn của CTCK
trên thị trường thứ cấp tạo nên tính thanh khoản cho chứng khoán, làm cho
chúng hấp dẫn hơn trong mắt nhà đầu tư. Cũng trên thị trường này, do thực hiện
các giao dịch mua và bán các CTCK giúp người đầu tư chứng khoán chuyển đổi
chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại, làm tăng tính thanh khoản của chứng
khoán .
3.2.4 Đối với các cơ quan quản lý
Cung cấp thông tin: CTCK là một chủ thể trên thị trường và tham gia vào
hầu hết các hoạt động trên TTCK, từ bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán
mới cho đến môi giới và trực tiếp mua, bán chứng khoán trên thị trường. Có thể
nói các CTCK là một trong những chủ thể am hiểu thị trường chứng khoán nhất,
nắm được nhiều thông tin nhất. Các thông tin do CTCK cung cấp có ý nghĩ lớn
đối với các cơ quan quản lý. Thứ nhất, đối với các cơ quan hoạch định chính
sách. TTCK giống như phong vũ biểu của nền kinh tế, mọi biến động của nền
kinh tế ít nhiều được phản ảnh qua hoạt động của TTCK, nhờ những thông tin
do CTCK cung cấp, các cơ quan hoạch định chính sách có được những thông tin
cần thiết về thị trường, làm cơ sở để đưa ra những chiến lược chính sách đúng
đắn, phù hợp với tình hình thực tế. Thứ hai, đối với các cơ quan quản lý thị
trường CTCK có thể cung cấp các thông tin về các giao dịch mua, bán trên thị
trường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin về
các nhà đầu tư v.v…Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có
thể nắm được các diễn biến của thị trường, các bất ổn xảy ra, nhờ thế kiểm soát
hoạt động của TTCK và chống các hiện tượng tiêu cực như: thao túng, lũng
đoạn, bóp méo thị trường
II - HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
hình kinh tế xã hội và điểm mạnh, điểm yếu, điều kiện của công ty trong từng
giai đoạn hoạt động cụ thể, các CTCK đều đề ra những chiến lược đầu tư và các
chính sách quản lý danh mục đầu tư một cách phù hợp.
Hoạt động tự doanh của CTCK không những mang tính chuyên nghiệp
cao mà còn có quy mô rất lớn và danh mục đầu tư rất đa dạng. Phần lớn các
CTCK có tiềm lực tài chính mạnh và có thể huy động được lượng vốn lớn nên
giá trị các khoản đầu tư thường lớn. Với tính chuyên nghiệp cao, khả năng tiếp
cận, phân tích thông tin tốt nên các CTCK không chỉ tập trung vào một loại
chứng khoán ,một thị trường, một ngành nghề hay một công ty nhất định mà
thường họ đầu tư vào nhiều ngành nghề khác nhau, các loại chứng khoán khác
nhau, cả TTCK trong và ngoài nước. Dựa vào các lợi thế về nhân lực và vốn,
các CTCK còn có khả năng tìm kiếm nhiều cơ hội đầu tư, thuận lợi cho việc đa
dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro.
Mặc dù có nhiều lợi thế nhưng hoạt động đầu tư chứng khoán của các
CTCK vẫn luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, tương tự như những rủi ro các nhà đầu
tư gặp phải, thậm chí với quy mô khoản đầu tư lớn, nếu gặp phải rủi ro , hậu quả
sẽ nghiêm trọng hơn bình thường, bởi vậy trong hoạt động tự doanh của mình,
các CTCK đều sử dụng các công cụ phòng vệ để phòng tránh rủi ro. Việc sử
sụng các công cụ phòng vệ hữu hiệu đến đâu phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
nhau, cả yếu tố khách quan và chủ quan. Yếu tố khách quan thể hiện ở sự phát
triển của thị trường với việc sử dụng rộng rãi của các công cụ phòng vệ trong
hoạt động đầu tư như hợp đồng tương lai, quyền chọn ,...Yếu tố chủ quan thuộc
về công ty bao gồm các yếu tố về nhân lực, chiến lược phát triển, chính sách
quản lý danh mục đầu tư...
2- Phân loại hoạt động tự doanh chứng khoán
2.1 Hoạt động đầu tư ngân quỹ
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải dự trữ cho mình một lượng tiền
mặt nhất định để thực hiện chi trả và dự phòng cho các nhu cầu thanh toán hàng
ngày. Yêu cầu này càng đặc biệt cấp thiết đối với các doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực tài chính. Ngoài tiền mặt, các khoản dự trữ này còn được thực
chính sách đầu tư mạo hiểm mới thực hiện hoạt động này.
2.4 Hoạt động đầu tư phòng vệ
CTCK thực hiện hoạt động đầu tư phòng vệ với mục đích tự bảo vệ trước
sự biến động của giá chứng khoán. Để thực hiện được mục đích đó, các CTCK
phải sử dụng đến các công cụ phòng vệ như option, future, swap,...Đây là một
loại đầu tư được thực hiện để làm giảm hoặc loại trừ rủi ro xảy đến với một loại
đầu tư khác, trong khi vẫn đảm bảo một mức lợi nhuận khi thực hiện thương vụ.
2.5 Hoạt động tạo lập thị trường
Tạo lập thị trường là hoạt động của CTCK trong đó công ty chấp nhận rủi
ro nắm giữ một khối lượng nhất định của một loại chứng khoán nhất định để hỗ
trợ, thúc đẩy giao dịch đối với loại chứng khoán đó. Khi đã đóng vai trò nhà tạo
lập thị trường, CTCK thường xuyên yết lên các mức giá chào mua, chào bán và
thực hiện mua bán theo các mức giá đó.
2.6 Hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát
Mục đích của CTCK ở đây là thao túng và nắm quyền kiểm soát các tổ
chức phát hành do vậy CTCK sẽ sẵn sàng chấp nhận một chi phí lớn nhưng hợp
lý để nắm được quyền kiểm soát và trong tương lai kỳ vọng có thể thao túng
những tổ chức đó và thu được những nguồn lợi cao. CTCK sẽ có đầy đủ điều
kiện để thực hiện hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát khi có một tiềm lực tài
chính mạnh và đội ngũ cán bộ có trình độ cao. Với những công ty phát hành làm
ăn không hiệu quả các CTCK hoàn toàn có thể mua lại toàn bộ hoặc một phần
đủ quyền để chi phối hoặc tham gia quản lý công ty, sau đó tái cơ cấu tài chính
doanh nghiệp, tái cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý doanh
nghiệp... của các công ty phát hành để rồi có thể đưa công ty đó niêm yết trên
TTCK hoặc bán lại công ty đó cho các đối tác với giá trị cao hơn. Với xu hướng
này các CTCK ngày càng phát triển theo mô hình một tập đoàn tài chính trung
gian vừa thực hiện cung cấp dịch vụ trên TTCK, vừa đóng vai trò là những nhà
đầu tư chiến lược.
3- Mục đích tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán
Mục đích chính của tự doanh chứng khoán là thu được lợi nhuận. Thông
tự doanh. Kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực chịu sự chi phối của yếu tố
con người và thông tin. Nhân viên tự doanh phải có trình độ chuyên môn, khả
năng tự quyết cao và tính nhạy cảm trong công việc, đặc biệt khi dùng một số
vốn lớn để kinh doanh thì đồng thời cũng phải làm việc được dưới áp lực lớn, và
có tinh thần trách nhiệm cao. Tại một số nước, nhân viên tự doanh phải hội đủ
một số tiêu chuẩn nhất định như kinh nghiệm làm việc lâu năm trong ngành, có
bằng thạc sỹ và một số chứng chỉ chuyên môn nhất định.
4.2 Các yêu cầu đối với công ty chứng khoán
Hoạt động tự doanh là một hoạt động quan trọng của CTCK và có ảnh
hưởng đến các hoạt động khác cũng như phần nào tạo ra một tác động khá rõ
trên thị trường nên CTCK phải tuân thủ một số yêu cầu khi thực hiện hoạt động
tự doanh
Tách biệt quản lý: Các CTCK phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ tự doanh
và nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động.
Công ty phải có đội ngũ nhân viên riêng để thực hiện hoạt động tự doanh, hoàn
toàn tách biệt với nhân viên môi giới. Bên cạnh đó, công ty chứng khoán phải
đảm bảo quản lý riêng tài sản của khách hàng và của công ty.
Ưu tiên khách hàng: CTCK phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên khách hàng
khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh. Điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch của khách
hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của công ty. Nguyên tắc này đảm bảo
sự công bằng cho khách hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán. Do có tính
đặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trường nên các
CTCK có thể dự đoán trước được diễn biến của thị trường và sẽ mua hoặc bán
tranh của khách hàng nếu không có nguyên tắc trên.
Góp phần bình ổn thị trường: do đặc thù của TTCK đặc biệt là các TTCK
mới nổi, bao gồm chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân, thiếu chuyên nghiệp. Điều
này dễ gây ra những biến động bất thường, gây bất ổn cho TTCK. Vì thế rất cần
đến các nhà đầu tư lớn, chuyên nghiệp làm tín hiệu hướng dẫn đầu tư cho toàn
bộ thị trường, hơn nữa, với khả năng chuyên môn cao và tiềm lực tài chính dồi
dào, các CTCK có thể thông qua hoạt động tự doanh góp phần lớn trong việc
Hoạt động tự doanh góp phần tăng quy mô đầu tư trên thị trường. Tuỳ
thuộc vào quy mô và chiến lược đầu tư, mỗi CTCK có một hạn mức giao dịch
cổ phiếu, trái phiếu nhất định trên thị trường. Tuy nhiên, dù ít hay nhiều thì
lượng vốn mà các CTCK đổ vào thị trường cũng là những con số không nhỏ so
với các nhà đầu tư cá nhân riêng lẻ. Điều đó sẽ giúp tăng quy mô giao dịch trên
thị trường.
Hoạt động tự doanh góp phần nâng cao chất lượng đầu tư trên thị trường.
CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực chứng khoán, đầu tư theo
quy trình và phân tích bài bản. Do đó, càng nhiều CTCK thực hiện hoạt động tự
doanh cổ phiếu thì phong cách đầu tư theo số đông trên thị trường sẽ dần bị thay
thế bởi một cách thức đầu tư có suy tính và phân tích. Có như vậy, thị trường
mới phát triển ổn định và bền vững.
Hoạt động tự doanh góp phần bình ổn giá cả thị trường. Các CTCK hoạt
động nhằm góp phần bình ổn giá cả thị trường. Trong trường hợp này, hoạt động
tự doanh được tiến hành bắt buộc theo luật định. Luật các nước đều quy định các
CTCK phải dành một tỷ lệ % nhất định các giao dịch của mình (ở Mỹ là 60%)
cho hoạt động bình ổn thị trường. Theo đó, các CTCK có nghĩa vụ mua vào khi
giá chứng khoán bị giảm và bán ra khi giá chứng khoán lên nhằm giữ giá chứng
khoán ổn định.
III- CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH
CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1- Các nhân tố chủ quan
1.1 Chính sách phát triển của công ty
Trong mọi nhân tố chủ quan, chính sách phát triển của công ty chứng
khoán có ảnh hưởng to lớn và quyết định nhất, thay đổi trong từng giai đoạn
hoạt động, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động tự doanh. Chính sách phát triển của
công ty sẽ đưa ra các chỉ tiêu cần đạt được trong giai đoạn tiếp theo với những
chiến lược đầu tư khác nhau (nới lỏng hoặc thắt chặt), đồng thời cũng đưa ra
những thay đổi về tổng lượng vốn cho hoạt động đầu tư toàn công ty. Bên cạnh
đó, với những mục tiêu phấn đấu khác nhau sẽ quyết định đến loại hình đầu tư
nhiều công việc, chuyên môn hóa các hoạt động sẽ giúp hoạt động này được
thực hiện có hiệu quả hơn, rút ngắn thời gian triển khai nghiệp vụ, từ đó giúp
công ty phản xạ kịp thời và chính xác hơn đối với những biến động trên thị
trường.
1.3 Tiềm lực tài chính
Khả năng tài chính luôn là yếu tố hàng đầu trong hoạt động tự doanh.
Danh mục đầu tư, quy mô của danh mục cũng như chiến lược tự doanh được
quyết định phần lớn bởi quy mô nguồn vốn dành cho hoạt động này lớn đến đâu,
nguồn vốn đó là dài hạn hay ngắn hạn. CTCK khi triển khai hoạt động tự doanh
không chỉ mua một hoặc hai loại chứng khoán có triển vọng thu lời cao mà phải
xây dựng cho mình một danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu thấp nhất các rủi ro,
vì vậy mà trong danh mục này thường bao gồm khá nhiều loại chứng khoán
thuộc các ngành nghề khác nhau. Số lượng chứng khoán trong danh mục cũng
phải tương đối lớn để công ty có khả năng thu được lợi nhuận đề ra. Tuy quy mô
vốn không tỉ lệ thuận với lợi nhuận nhưng quy mô vốn lớn bao giờ cũng hứa hẹn
một mức lợi nhuận thỏa mãn. Trong trường hợp triển khai hoạt động tạo lập thị
trường, CTCK cũng cần nắm giữ một số lượng chứng khoán đủ lớn cũng như
lượng tiền mặt dồi dào để sẵn sàng mua bán nhằm điều tiết được giá cả trên thị
trường. Vì vậy khả năng tài chính tốt hoặc có một chỗ dựa tài chính vững chắc
là rất cần thiết.
Tầm quan trọng của tiềm lực tài chính cũng được minh họa phần nào qua
việc yêu cầu về vốn pháp định đối với hoạt động tự doanh luôn luôn cao gấp