PHẪU THUẬT NỘI SOI CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ HIẾM MUỘN
Nội soi ổ bụng.
Ngày nay, nội soi cần thiết trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân vô sinh. Xác định phẫu thuật như
là tính phổ biến trong chuyên sâu của nội tiết sinh sản ở nhiều nước. Đơn vị Phẫu thuật can thiệp ít
xâm lấn là chuẩn cao của mỗi trung tâm điều trị vô sinh hiện đại.
Nội soi chẩn đoán, nội soi bóc tách-cắt bỏ u cơ tử cung, đốt điểm buồng trứng, đánh giá lưu thông
vòi trứng, điều trị dính trong ổ phúc mạc, cắt bỏ thương tổn lạc nội mạc tử cung, nội soi buồng tử
cung.
Nội soi chẩn đoán.
Là một phương pháp chẩn đoán thường qui cho bệnh nhân vô sinh chưa có nghiên cứu thử
nghiệm ngẫu nhiên cung cấp rằng nội soi chẩn đoán giá trị hơn khám phụ khoa, siêu âm qua ngả
âm đạo, chụp tử cung vòi trứng, hoặc kết hợp các quá trình này. Tuy vậy mỗi một trung tâm có sự
đánh giá hệ thống tự chủ của họ về tests chẩn đoán và vị trí của nội soi chẩn đoán.
Nội soi chẩn đoán rất giá trị, nhưng phải cân nhắc, vì qui trình phẫu thuật có thể liên quan tới tử
vong, nội soi chẩn đoán dính ổ bụng, lạc nội mạc tử cung và nó cũng chỉ có khả năng với qui trình
này. Ngoài ra nhiễm khuẩn ổ bụng như nhiễm chlamidia mãn, nội soi chẩn đoán với độ nhạy cao
khi sử dụng mẫu trong ổ phúc mạc.
Đốt điểm buồng trứng trong PCOS- Hội chứng buồng trứng đa nang.
LOD (Laparoscopic ovarian drilling)
là phẫu thuật tái tạo phóng noãn/ được sử dụng đơn thuần hoặc kết hợp thuốc kích noãn.
Đây là lựa chọn số 1 cho PCOS, từ những năm 1930s đến khi sử dụng phẫu thuật nội soi, cắt bỏ 2-
1/3 buồng trứng theo thuật ngữ cắt góc buồng trứng, chỉ là phương pháp có khả năng giảm trọng
lượng có hiệu quả điều trị cho phụ nữ. “wedge resection – cắt hình nêm-cắt góc ” buồng trứng
hiệu quả 50%. LOD sử dụng điện hoặc laser cùng một nguyên lý là “Cắt góc buồng trứng”, được
đánh giá là phương pháp chuẩn trong điều trị PCOS. LOD hủy hoại androgen – do tế bào vỏ
buồng trứng sản xuất ra, làm giảm nồng độ androgen đến 40%, giảm khổi lượng ban đầu của
buồng trứng, làm giảm nồng độ LH và tăng FSH trong máu. Một số theo dõi lâu dài đến 10 năm
sau thủ thuật, thấy tỷ lệ thành công đến 70% sau 10 năm. Đây chính là sự khác biệt của kích thích
buồng trứng bằng thuốc.
Vai trò của lựa chọn phương pháp điều trị này trong bậc thang lựa chọn điều trị, tuy vậy
viện ngắn hơn, phục hồi nhanh hơn, ít dính và ít chảy máu hơn so với mở bụng cổ điển, được tiến
hành bởi PTV có kỹ năng Kỹ thuật và dụng cụ mổ được cải tiến, cho phép cắt bỏ từng mảnh khối
u hoặc nhiều khối u cơ tử cung an toàn.
Cắt bỏ khối u dưới niêm mạc, và khối u trong cơ dường như phương pháp tác động đến kết quả, tỷ
lệ có thai cao hơn ở bệnh nhân vô sinh. Tổng quan 25 nghiên cứu tỷ lệ có thai là 57% sau mổ khối
u cơ
43.,
trong số phụ nữ vô sinh không cắt nghĩa, tỷ lệ có thai là 61%. Khuyến cáo, khoảng thời gian
có thai kéo dài từ 3-12 tháng. Không có số liệu đưa ra khuyến cáo khoảng giữa khoảng giữa cắt bỏ
khối u và có thai. Ngoại suy số liệu từ thủ thuật Cesar, có thai trước 18 tháng có thể là vỡ tử cung.
Tỷ lệ mổ sinh sau bóc tách u cơ tử cung cao có ý nghĩa 70-80%
46
.
Phụ nữ vô sinh có khối u dưới niêm mạc, phẫu thuật nội soi qua ngả tử cung là phương
pháp được lựa chọn. Là phương pháp an toàn, có thể chấp nhận được kết quả có thai
47
.
Tổng kết 3 năm, khả năng mang thai là 49% ở phụ nữ u có cuống và 36% u không cuống,
33% u trong cơ. Trong một sery khác, bóc khối u dưới niêm mạc nội soi, Ferrnandez và Cs
cho thấy quy trình phẫu thuật tác động nhiều đến tỷ lệ có thai khi loại bỏ khối u, nguyên
nhân vô sinh ((41,6%); khối u≥50mm tỷ lệ có thai 57,1%
48.
.