MỞ ĐẦU
Cơ cấu kinh tế là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế hợp
lý có tính chất quyết định tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế, quyết định đến
tăng trưởng kinh tế trong hiện tại và tương lai. Sự khủng hoảng kinh tế ở một số
nước trên thế giới và trong khu vực có nhiều nguyên nhân, song có một nguyên
nhân chung khá quan trọng bắt nguồn từ chính sách cơ cấu. Do đó vấn đề chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế là hết sức cần thiết trong quá trình công nghiệp hoá- hiện
đại hoá của bất cứ quốc gia nào nếu không muốn đứng vào danh sách các nước
nghèo nhất thế giới.
Qua hơn 10 năm đổi mới, chúng ta đánh giá cao kết quả của quá trình chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt nam nói chung và của tỉnh Hà nam nói riêng, song
cũng phải thừa nhận rằng chúng ta chưa khai thác được hết các nguồn lợi thế đó vì
vậy hàng loạt các giải pháp của chính phủ được đưa ra nhằm định dạng lại cơ cấu
ngành kinh tế một cách hợp lý cho từng ngành, từng địa phương.
Với Hà nam, một tỉnh nghèo lại mới được tái lập, nguồn lực tự nhiên và kinh tế
xã hội thay đổi nên cơ cấu kinh tế cũ cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với tình
hình hiện nay, việc định hướng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là
hết sức cần thiết đối với tỉnh. Đó cũng chính là cơ sở để chúng tôi lựa chọn tỉnh Hà
nam làm đối tượng nghiên cứu.
Cơ cấu kinh tế là một phạm trù rộng, với khả năng cho phép chúng tôi chỉ tập
trung đi sâu nghiên cứu về cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam. Thông qua việc
thu thập, xử lý và phân tích số liệu thực tiễn, kết hợp với những kiến thức lý luận đã
được học và được đọc, chúng tôi mong muốn đưa ra định hướng và một số giải
pháp cho vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam. Đó cũng chính
là lý do ra đời đề tài “Định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà
Nam trong giai đoạn 2010 - 2015 “. Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung
chính sẽ được trình bầy trong 3 chương:
Chương I: Sự cần thiết khách quan của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế nước ta nói chung và tỉnh Hà Nam nói riêng.
Trong chương này chúng tôi sẽ trình bày những lý luận cơ bản về cơ cấu ngành
kinh tế, vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đối với phát triển kinh tế và từ
trình phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất thì cơ cấu kinh tế lãnh
thổ lại được hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý, cơ
cấu thành phần kinh tế hình thành dựa trên chế độ sở hữu. Trong cơ cấu kinh tế, cơ
cấu ngành kinh tế giữ vai trò quyết định, vì vậy đề tài chỉ tập trung nghiên cứu cơ
cấu ngành kinh tế mà rõ hơn là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành kinh tế được hình thành và mối
quan hệ của các ngành đó với nhau biểu thị bằng vị trí, sự tác động qua lại và tỷ
trọng của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân.
Từ các góc độ kác nhau cơ cấu ngành kinh tế được đánh giá thông qua các chỉ
tiêu như: Cơ cấu ngành theo giá trị sản lượng, cơ cấu ngành theo sản phẩm cuối
cùng, cơ cấu ngành theo quy mô vốn đầu tư và cơ cấu ngành theo lao động. Các chỉ
tiêu phản ánh cơ cấu ngành chỉ mang tính thời điểm vì cơ cấu ngành luôn luôn biến
đổi để phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã
hội và đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
2. Một số lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Lý thuyết phân kỳ phát triển của Rostow.
Rostow cho rằng quá trình phát triển kinh tế của bất cứ quốc gia nào cũng trải
qua năm giai đoạn: Xã hội truyền thống -> Chuẩn bị cất cánh ->Cất cánh ->Trưởng
thành -> Tiêu dùng cao. Có thể nói rằng lý thuyết phân kỳ phát triển kinh tế rất có ý
nghĩa đối với vấn đề chuyển dịch cơ cấu trong quá trình công nghiệp hoá ở những
nước đang phát triển hiện nay. Nó đặt ra nhiệm vụ mà những nước này cần phải
thực hiện để chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho việc chuyển nền kinh tế của nước
mình sang giai đoạn cất cánh.
Lý thuyết nhị nguyên.
Trong lý thuyết này, A.Lewis nhận định để có thể thúc đẩy phát triển kinh tế
của những nước chậm phát triển cần bằng mọi cách mở rộng khu vực sản xuất công
nghiệp hiện đại mà không cần quan tâm đến khu vực nông nghiệp truyền thống vì tự
nó sẽ rút lao động từ khu vực nông nghiệp sang và biến nền sản xuất xã hội từ trạng
thái nhị nguyên sang nền kinh tế công nghiệp phát triển.. Có thể nói rằng lý thuyết
nhị nguyên đã gây được ấn tượng mạnh mẽ đối với các quốc gia chậm phát triển
phát triển công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng để tận dụng được lợi
thế về nguồn tài nguyên này.
Nhóm nhân tố kinh tế, xã hội: dân số và nguồn lao động, truyền thống lịch sử,
thị trường, khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng, cơ chế chính sách
Cũng như nhân tố địa lý tự nhiên, nhóm nhân tố này cũng tác động trực tiếp tới
việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Với nguồn lao động dồi dào,
nhân công rẻ sẽ thúc đẩy phát triển các ngành thu hút được nhiều lao động, vốn đầu
tư ít; cầu và cạnh tranh trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới việc hình thành cơ
cấu ngành kinh tế; ngoài ra kết cấu hạ tầng phát triển, an ninh chính trị ổn định, cơ
chế chính sách thông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển dịch cơ
cấu ngành theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA
NƯỚC TA NÓI CHUNG VÀ TỈNH HÀ NAM NÓI RIÊNG.
1. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đối với phát triển kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một nội dung quan trọng của quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nếu xác định được phương hướng và giải
pháp chuyển dịch đúng sẽ đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội cao trong sự phát triển.
Có thể khẳng định rằng, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có một vai trò quan trọng
đối với sự phát triển kinh tế vì:
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm khai thác và sử dụng có hiệu
quả các yếu tố lợi thế của nền kinh tế, vùng hoặc địa phương. Các yếu tố đó là
nguồn lực tài nguyên, lao động... yếu tố lợi thế so sánh như chi phí sản xuất.
Thông qua quá trình tổ chức khai thác có hiệu quả các yếu tố lợi thế, trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế sẽ tìm ra các ngành mũi nhọn tạo khả năng
tăng trưởng mạnh cho đất nước, vùng hoặc địa phương đồng thời giải quyết mối
quan hệ bền vững giữa tăng trưởng kinh tế với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, với
phát triển nguồn nhân lực.
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Trước hết chuyển dịch cơ cấu ngành nhằm nâng cao vai trò và thiết lập mối
quan hệ chặt chẽ giữa các ngành với nhau, tạo đà cho các ngành cùng nhau tăng
trong đó có ba nguyên nhân chủ yếu:
Thứ nhất, khái niệm “Cơ cấu ngành” là một khái niệm “động”. Không có một
khuôn mẫu cơ cấu ngành chung, ổn định cho mọi thời kỳ phát triển. Cơ cấu ngành
được hình thành dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao
động xã hội cùng với tiến bộ khoa học công nghệ. Vì phân công lao động xã hội
luôn thay đổi, khoa học công nghệ tiến bộ không ngừng do đó cơ cấu ngành kinh tế
luôn nằm trong tình trạng phải biến đổi để có thể phù hợp với quá trình phát triển và
tạo ra được một cơ cấu ngành hợp lý. Đó là một cơ cấu ngành phải tạo ra sự ổn
định, tăng trưởng và phát triển cho nền kinh tế xã hội.
Thứ hai, kinh nghiệm thành công của một số nước trong việc lựa chọn cơ cấu
ngành hợp lý.
Nổi bật là trường hợp của Nhật Bản, là nước thành công trong việc lựa chọn
chiến lược phát triển hướng nội, vì vậy nền kinh tế đạt được sự phát triển thần kỳ và
đã trở thành một nước công nghiệp phát triển.
Một điển hình thành công nữa trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là
trường hợp của các nước NIC và ASEAN với việc thực thi chiến lược hướng ngoại.
Đài Loan thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung phát triển
nông nghiệp bằng con đường hiện đại hoá, thâm canh hoá, hoá học hoá, đồng thời
phát triển các ngành công nghiệp điện, điện tử, hàng tiêu dùng thông thường và
hàng tiêu dùng cao cấp do đó Đài Loan đã phát triển đều cả về công nghiệp và nông
nghiệp.
Singapore có sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đặc biệt mạnh dạn. Lúc đầu,
kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào thương mại quốc tế và dịch vụ. Khoảng 15 năm
trở lại đây nhà nước Singapore quyết định xây dựng những ngành sản xuất tạo nên
sức mạnh kinh tế của mình. Các ngành công nghiệp có chất lượng cao như công
nghiệp điện tử, dụng cụ y tế, hoá dầu, vận tải biển, du lịch được đưa vào cơ cấu kinh
tế. Bên cạnh đó, ngành dịch vụ cũng được đầu tư phát triển và có một vị trí quan
trọng trong cơ cấu kinh tế của Singapore.
Như vậy, từ kinh nghiệm của các nước phát triển hiện nay, kể cả những nước
láng giềng mà trước đây có điểm xuất phát tương tự đã cho ta bài học bổ ích và từ
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
CỦA TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 2004 – 2008.
I. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH HÀ NAM ẢNH
HƯỞNG ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH
KINH TẾ.
Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới cơ
cấu nền kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà Nam nói riêng.
Chính vì vậy để nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà Nam thì trước hết phải
xem xét những thuận lợi và khó khăn do đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội đem lại.
1- Điều kiện tự nhiên.
Về vị trí địa lý, Hà Nam là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ, cách thủ đô Hà
nội gần 60 km về phía nam, tương lai sẽ trở thành thành phố vệ tinh của thủ đô.
Tỉnh Hà nam có thuận lợi lớn vì nằm trên tuyến giao thông chính quốc lộ 1A và
đường sắt xuyên Bắc- Nam. Trong tương lai khi tuyến hành lang kinh tế đường 21
nối Sơn Tây- Hoà Lạc- Xuân Mai hình thành, cầu Yên Lệnh thông sang Hưng Yên,
tuyến xa lộ Bắc Nam được xây dựng sẽ càng tạo nhiều khả năng giao lưu hợp tác
giữa Hà nam và các trung tâm kinh tế lớn trong cả nước. Không chỉ có lợi thế về
tuyến đường bộ, đường sắt, tỉnh Hà nam còn có một hệ thống đường thuỷ vô cùng
tiện lợi. Các con sông lớn chảy qua tỉnh bao gồm sông Hồng, sông Đáy, sông Châu
và sông Nhuệ không những tạo thuận lợi cho giao thông đường thuỷ mà còn đắc lực
phục vụ tưới tiêu thuỷ lợi cho phát triển nông nghiệp.
Tỉnh Hà nam nằm giáp với các tỉnh Hà Tây ở phía Bắc, Hưng Yên, Thái Bình
ở phía Đông, Nam Định ỏ phía Đông Nam, Ninh Bình ở phía Nam và Hoà Bình ở
phía Tây. Nhìn chung các tỉnh này có cầu rất lớn về xi măng, đá, vật liệu xây
dựng,... mà không có điều kiện sản xuất. Hà nam có thể đáp ứng và tận dụng thị
trường rộng lớn này để đẩy mạnh phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
của tỉnh nhà.
Hà nam nằm tiếp giáp với vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Hà Nội- Hải
thuận lợi cho việc phát triển sản xuất vật liệu xây dựng, nhất là xi măng, đá, gạch.
Đá vôi có hàm lượng canxi từ 95-100% và đôlômit 0-5% dùng để sản xuất xi
măng và sản xuất bột nhẹ, còn đá vôi có hàm lượng ngược lại canxi từ 0-5% và
đôlômit từ 95-100% dùng làm đá xây dựng, vật liệu độn hoặc để sản xuất hoá chất
manhê. Ngoài ra đá vôi còn là nguyên liệu để sản xuất ra đất đèn dùng trong công
nghiệp khí hàn, công nghiệp tổng hợp hữu cơ, sản xuất sợi vinylon.
Nguồn sét Hà nam được kiến tạo từ hai nguồn gốc là gốc trầm tích và gốc
phong hoá. Sét gốc phong hoá là loại sét tốt, được dùng làm phụ liệu cho sản xuất xi
măng trong tỉnh. Sét gốc trầm tích dùng làm nguyên liệu sản xuất gạch ngói.
Như vậy, Hà nam có nguồn đá vôi và sét đủ khả năng cho công nghiệp sản
xuất xi măng với trữ lượng 3-5 triệu tấn/ năm trong nhiều năm. Chất lượng đá vôi
và sét khá tốt lại phân bố gần trục giao thông, dễ khai thác, gần nơi tiêu thụ lớn.
Ngoài ra, Hà nam còn có nguồn than bùn được phát hiện tại Tam Chúc, thuộc
huyện Kim Bảng, có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ vi sinh.
Về Tài nguyên du lịch, Hà nam là một tỉnh có tài nguyên du lịch khá phong
phú, cả về tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Hà nam có
các di vật khảo cổ như trống đồng, công cụ bằng đồng, các tác phẩm nghệ thuật,
điêu khắc mang dấu ấn của thời đại lịch sử. Hà nam có đền Trần Thương ở Lý Nhân
thờ Đức Thánh Trần, đình thờ Lê Đại Hành ở Thanh Liêm, đền Lảnh ở Duy Tiên,
chùa Bà Đanh, Ngũ Động Sơn ở Kim Bảng, chùa Tiên, Kẽm Trống ở Thanh Liêm,
đền thờ Nguyễn Khuyến ở Bình Lục, vườn tưởng niệm nhà văn Nam Cao ở Lý
Nhân,..Hơn nữa, Hà nam là một vùng quê giàu các lễ hội dân gian tuyền thống, với
56 lễ hội được tổ chức trong năm trong đó có 20 lễ hội mang di tích lịch sử, 16 lễ
hội mang tính tín ngưỡng và 20 lễ hội mang tính lễ tục dân gian.
Các nguồn tài nguyên du lịch của Hà nam được phân bố tương đối tập trung lại
nằm trong khu vực nối với các vùng phụ cận như chùa Hương, Hoa Lư, Tam Cốc
Bích Động, rừng quốc gia Cúc Phương, Hải Phòng, Quảng Ninh,...đây là một điểm
thuận lợi để hình thành những cụm du lịch lớn có sức thu hút khách cao.
Tóm lại, Hà nam có một điều kiện khá thuận lợi cả về vị trí địa lý, địa hình,
thuỷ văn và tài nguyên để có thể đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
53,9% dân số toàn tỉnh. Số lao động ở khu vực nông thôn là 380.890 người, chiếm
89,27% và ở thành thị là 45.783 người, chỉ chiếm 10,73%. Là một tỉnh mà thu nhập
còn nặng về nông nghiệp, cơ sở vật chất yếu kém, với nguồn lao động như trên đang
gây sức ép về việc làm và cải thiện đời sống. Mặt khác, lao động nông nghiệp có
287.253 người chiếm xấp xỉ 70%, lao động công nghiệp và dịch vụ có 126.087
người chiếm 30%, trong đó số được đào tạo ngành nghề là 58.008 người, chiếm
13,5%, như vậy số lao động ở nông thôn thiếu việc làm đang đi đến các khu vực
khác làm dịch vụ là rất lớn, chiếm gần 20% lao động nông thôn. Ở nông thôn, thời
gian nhàn rỗi còn nhiều mà cơ hội gia tăng việc làm ở khu vực nông nghiệp hầu như
không đáng kể, có chăng chỉ là rải rác ở những nơi có ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp, với tay nghề gia truyền là chính, không được đào tạo cơ bản. Hơn nữa, lao
động trong nông nghiệp với trình độ trang bị kỹ thuật còn lạc hậu, người lao động
sử dụng cơ bắp và sức súc vật kéo là chính. Tất cả những điều đã đề cập ở trên cho
thấy trình độ lao động của tỉnh nói chung còn thấp, và thực tế Hà nam có nguồn lao
động khá dồi dào nhưng lao động phổ thông chưa được đào tạo nghề là phổ biến và
thiếu lao động được đào tạo kỹ thuật, nhất là lao động có kỹ thuật cao.
Trong thời gian tới để chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, Hà nam phải nhanh chóng đào tạo đồng bộ, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực.
Về cơ sở vật chất, trình độ khoa học công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật nhìn
chung còn yếu kém, các trang thiết bị cũ và lạc hậu do đó khả năng áp dụng kỹ
thuật tiên tiến vào sản xuất công nghiệp, nông nghiệp là rất hạn chế.
Kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ, hệ thống đường giao thông, đường sắt, đường
bộ được xây dựng từ lâu đến nay qua sử dụng lâu dài chưa được đầu tư nâng cấp
kịp thời nên chất lượng thấp, không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Hiện nay, hệ thống thuỷ lợi, đường giao thông liên huyện liên xã đang được đầu tư
nâng cấp, quá trình điện khí hoá nông thôn đang được đẩy mạnh.
II. THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA TỈNH HÀ
NAM GIAI ĐOẠN 2004 – 2008.
1- Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Hà nam giai đoạn 2004 – 2008.
an toàn lương thực và tạo cơ sở nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, phát
triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá.
Đối với dịch vụ, phát triển mạnh ngành thương mại, đẩy nhanh hoạt động xuất
khẩu của tỉnh, phát triển du lịch trên cơ sở khai thác đồng thời phát triển những loại
hình dịch vụ khác như tài chính ngân hàng, thông tin viễn thông, giao thông vận tải,..
Cải tạo và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, điện khí hoá nông thôn, thực
hiện kiên cố hoá kênh mương, nâng cấp hệ thống đường giao thông nông thôn,
những tuyến giao thông huyết mạch của tỉnh, xây dựng các trụ sở làm việc cho tỉnh
mới tách, nâng cấp hệ thống thông tin bưu điện,... nhằm thu hút đầu tư nước ngoài
vào phát triển kinh tế của tỉnh.
Xuất phát từ định hướng trên, trong thời gian qua cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh
Hà nam cũng có những chuyển biến tích cực và tiến bộ.
Thứ nhất trong cơ cấu ngành kinh tế theo GDP:
Biểu2. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo GDP
thời kỳ 2004 – 2008.
Đơn vị : %.
Ngành 2004 2005 2006 2007 2008
Tổng GDP 100 100 100 100 100
1. Công nghiệp 16,26 18,83 19,11 20,06 25,54
2. Nông nghiệp 52,64 49,58 48,29 48,04 44,03
3. Dịch vụ 31,10 31,59 32,60 31,90 30,43
Nguồn : Cục thống kê tỉnh Hà nam.
Tỷ trọng ngành công nghiệp tăng đáng kể qua các năm từ 16,26% năm 2004
lên 25,54% năm 2008 và dự kiến đạt khoảng 26,7% vào năm 2010. Như vậy có thể
thấy rằng ngành công nghiệp ngày càng phát huy hơn nữa vai trò đầu tàu của mình
để thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá của tỉnh, nổi bật lên trong công nghiệp là sự
tăng nhanh của công nghiệp vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến lương thực,
thực phẩm. Tuy nhiên, với tỷ trọng 25,54% trong cơ cấu GDP thì công nghiệp vẫn
chiếm một tỷ trọng nhỏ và cần phải được nâng lên trong thời gian tới để giữ vị trí
chủ đạo trong nền kinh tế của tỉnh.
Vốn đầu tư là yếu tố hàng đầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nó đảm bảo cho
khai thác lợi thế áp dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới thiết bị công nghệ. Đi liền với
sự chuyển dịch cơ cấu ngành thì cơ cấu vốn đầu tư cũng có sự thay đổi tương ứng.
Biểu 3. Thực trạng cơ cấu vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Hà nam
giai đoạn 2004 – 2008.
Đơn vị : %.
2004 2005 2006 2007 2008 Tỷ trọng BQ 95-99
Tổng vốn đầu tư 100 100 100 100 100 100
1.Công nghiệp 62,11 69,48 69,46 70,54 47,23 63,76
2.Nông nghiệp 4,95 4,75 6,57 10,65 21,33 9,65
3.Dịch vụ 32,94 25,77 23,97 18,81 31,44 26,59
Nguồn : Cục thống kê tỉnh Hà nam
Như vậy có thể thấy rằng trong giai đoạn 2004-2008 vốn đầu tư chủ yếu tập
trung vào lĩnh vực công nghiệp, chiếm 63,76% tổng vốn đầu tư. Đó là vì Đảng bộ
và nhân dân trong tỉnh nhận thức rõ vai trò của công nghiệp đối với sự phát triển
kinh tế xã hội của toàn tỉnh . Trong công nghiệp, ngành công nghiệp chế biến nông
sản thực phẩm và công nghiệp vật liệu xây dựng được ưu tiên đầu tư lớn nhất rồi
đến các ngành công nghiệp khác .
Tỷ trọng vốn đầu tư cho nông nghiệp có tăng qua các năm, năm 2004 là
4,95%, năm 2008 tỷ trọng này tăng lên đến 21,33% điều đó cho thấy ngành nông
nghiệp cũng được quan tâm thoả đáng vì đại bộ phận người dân Hà nam có cuộc
sống gắn bó với sản xuất nông nghiệp. Trong nông nghiệp, phần lớn vốn đầu tư tập
trung cho việc kiên cố hoá kênh mương, đầu tư cho máy móc, cây con giống.
Tỷ trọng đầu tư cho dịch vụ bình quân giai đoạn 2004-2008 chỉ đạt 26,59%,
qua các năm tỷ trọng này dao động không nhiều và trong ngành dịch vụ, vốn đầu tư
chủ yếu tập trung cho ngành vận tải và thông tin liên lạc, tiếp đến là các lĩnh vực
văn hoá giáo dục, tài chính tín dụng, khách sạn nhà hàng,...
Tóm lại, trong những năm qua , đầu tư cho công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ
trọng cao trong cơ cấu vốn đầu tư, nó cho thấy cơ cấu vốn đầu tư có sự thay đổi
đúng hướng phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, làm cho bộ mặt kinh
cơ cấu chung, từng ngành cũng có sự chuyển dịch trong nội bộ. Để nghiên cứu rõ
hơn về quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam có thể xem xét
thực trạng chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ
giai đoạn 1995-1999.
2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu một số ngành Công nghiệp, Nông nghiệp,
Dịch vụ giai đoạn 2004-2008.
a. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành Công nghiệp.
Trong giai đoạn 2004-2008, cùng với sự phát triển kinh tế chung của tỉnh, công
nghiệp Hà nam đã có bước phát triển đáng mừng. Xét từ khía cạnh phân ngành công
nghiệp thì thấy cơ cấu sản xuất công nghiệp đã có sự chuyển đổi nhất định.
Biểu 5. Cơ cấu phân ngành trong công nghiệp.
Đơn vị : %.
2004 2005 2006 2007 2008
Công nghiệp 100 100 100 100 100
1.Vật liệu xây dựng 39,66 41,73 43,73 48,35 60,7
2.Chế biến LT- TP 13,36 15,5 15,75 15,42 16,0
3.Dệt may, da giày 18,76 18,27 16,69 17,5 14,8
4.Cơ kim khí,điện tử 7,01 2,99 2,91 4,03 3,12
5.Hoá chất,phân bón 1,27 1,53 1,37 1,14 0,06
6.CN khác 19,94 19,98 19,55 13,56 5,32
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Hà nam.
Chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Hà nam
là công nghiệp Vật liệu xây dựng. Trong những năm qua Hà nam đã biết tận dụng
lợi thế về tài nguyên đa dạng và phong phú của tỉnh nhà là đất sét và đá vôi để đẩy
mạnh phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng. Vì vậy đã đưa được giá trị của
ngành này tăng liên tục qua các năm nhất là vào những năm 2007, 2008 khi mà
công ty xi măng Bút Sơn được đưa vào hoạt động và liên tục sinh lời.Vị trí của
ngành vật liệu xây dựng được khẳng định nhờ tỷ trọng của ngành này trong cơ cấu
giá trị sản xuất công nghiệp liên tục tăng từ 39,66% năm 2004 lên 60,7% vào năm
2008.
-Dịch vụ NN 1,0 1,0 1,0 0,9 0,9
Nguồn:Cục thống kê tỉnh Hà nam.
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, tỷ trọng ngành chăn nuôi tuy có giảm vào
năm 2007, nhưng về cơ bản ngành này vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng khá và có
xu hướng tăng tỷ trọng vào những năm 2008, 2009 mặc dù sự chuyển dịch là rất
chậm. Giá trị của khu vực dịch vụ tăng lên hàng năm nhưng chưa đáng kể, nhất là
chưa tăng về tỷ trọng so với ngành nông nghiệp. Ngành trồng trọt vẫn chiếm một tỷ
trọng cao trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp. Để đánh giá được toàn diện hơn
ngành nông nghiệp cần đi sâu nghiên cứu sự chuyển dịch trong từng ngành cụ thể:
Ngành trồng trọt.
Trong giai đoạn 2004-2008 ngành trồng trọt của tỉnh Hà nam đã đạt được tốc
độ tăng trưởng khá, tăng bình quân 4,96%/ năm. Đạt được tốc độ như vậy là do cơ
cấu cây trồng của Hà nam đã có sự thay đổi phù hợp, biểu hiện là sự thay đổi cơ cấu
sử dụng đất.
Biểu 7. Thực trạng cơ cấu sử dụng đất trong ngành trồng trọt
giai đoạn 2004-2008.
Đơn vị: %.
2004 2005 2006 2007 2008
Tổng số 100 100 100 100 100
Cây lương thực 86,07 85,44 87,8 85,29 85,28
Cây thực phẩm 7,18 6,71 5,58 6,75 6,1
Cây ăn quả 1,88 1,89 2,06 2,89 3,55
Cây công nghiệp 3,56 3,71 3,39 3,64 4,07
Cây khác 1,31 2,25 1,17 1,43 1,0
Nguồn : Cục thống kê tỉnh Hà nam.
Như vậy, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp đã có sự thay đổi theo hướng tăng
diện tích đất trồng cây ăn quả, cây công nghiệp và giảm diện tích trồng cây lương
thực. Cụ thể là diện tích cây ăn quả từ 1,88% năm 2004 tăng lên đến 3,55% năm
2008, diện tích cây công nghiệp tăng từ 3,56% năm 2004 lên 4,07% vào năm 2008.
Cây lương thực có diện tích giảm từ 86,07% năm 2004 xuống còn 85,28% vào năm
22.908
25,78
23.132
26,0
15.811
26,31
23.613
29,92
25.750
32,0
3. Khoai lang
Năng suất
Tấn
Tạ/ha
29.259
66,48
42.383
79,79
25.710
68,44
26.886
75,78
30.685
80,5
4. Sắn
Năng suất
Tấn
Tạ/ha
7.952
86,43
thay trâu làm đất ngày càng nhiều vì vậy trâu được chuyển dần sang mục tiêu nuôi
lấy thịt. Đàn bò có số lượng tăng không đáng kể , từ 22,9 nghìn con năm 2004 tăng
lên 24,9 nghìn con vào năm 2008, một phần là do nhu cầu thực phẩm ngày càng
tăng nên đàn bò giết thịt ngày càng lớn.
Đàn lợn có tốc độ tăng trưởng khá, từ 225,9 nghìn con năm 2004 đã tăng lên
268,2 nghìn con năm 2008, tăng bình quân 4,39%/ năm, tỷ lệ lợn nạc cao, sản lượng
thịt lợn xuất chuồng đạt 19.436 tấn vào năm 2008.
Cùng với phát triển gia súc, đàn gia cầm của tỉnh cũng được đầu tư về giống,
thay đổi phương thức nuôi thả nên có tốc độ tăng trưởng lớn, bình quân thời kỳ
2004-2008 là 4,85%/ năm và tổng đàn gia cầm đạt 2.311,6 nghìn con vào năm 2008,
trong đó chủ yếu là đàn gà.
Biểu 9. Thực trạng chăn nuôi của tỉnh Hà nam thời kỳ 2004-2008.
Đơn vị 2004 2005 2006 2007 2008 Tốc độ tăng
BQ 04-08
1. Đàn Trâu Nghìn con 10,9 10,17 8,8 7,8 6.,5 -12,04 %
2. Đàn Bò ,, 22,9 23,8 23,9 23,3 24,9 2,16 %
3.Đàn Lợn
-S/lượng lợnthịt
,,
Tấn
225,9
15.456
229,0
16.856
245,9
17.943
251,6
18.321
268,2
19.463
năm 2008. Đặc biệt khu vực thương mại tập thể chưa phục hồi được, tỷ trọng chiếm
lĩnh thị trường giảm từ 6,8% năm 2000 xuống còn 0,7% năm 2004 và đến nay gần
như không có vai trò gì trên thị trường thương mại.Thương nghiệp cá thể và các
doanh nghiệp tư nhân phát triển ngày càng mạnh mẽ, đã trở thành lực lượng quan
trọng đáp ứng cầu về hàng hoá thiết yếu.
Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ trên địa bàn có xu hướng ngày càng
tăng và tăng nhanh: 725.407 triệu đồng năm 2005, 916.925 triệu đồng năm 2006,
1.215.422 triệu đồng năm 2007 và 1.275.513 triệu đồng năm 2008.
Hoạt động xuất nhập khẩu những năm đầu thập kỷ gặp rất nhiều khó khăn do
bị mất thị trường truyền thống là các nước Đông Âu và Liên Xô (trước đây). Từ
năm 2000 đến nay, hoạt động xuất nhập khẩu đã có kết quả khá, thị trường mở rộng
cả ở các nước trong khu vực Đông Nam á và các khu vực khác trên thế giới. Giá trị
xuất khẩu tăng nhanh từ 7,397 triệu USD năm 2007 lên 16,633 triệu USD năm
2007 và 16,777 triệu USD vào năm 2008.
Biểu 10. Thực trạng xuất nhập khẩu của Hà nam năm 2004-2008.
Đơn vị : nghìn USD.
2004 2005 2006 2007 2008
Tổng kim ngạch XNK 1.769 11.870 22.631 29.282
-Xuất khẩu 1.456 1.858 7.397 16.633 16.777
-Nhập khẩu 313 4.473 5.998 12.505
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Hà nam.
Qua biểu có thể thấy rằng, những năm 2004,2005 kim ngạch nhập khẩu của Hà
nam ở quy mô rất nhỏ do yêu cầu đầu tư cho công nghiệp và công nghiệp chế biến
nông sản hầu như không có gì. Tới những năm gần đây, kim ngạch nhập khẩu bắt
đầu tăng lên, chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu hàng may.
Về xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng, từ 1.456 nghìn USD năm
2004 tăng lên 16.777 nghìn USD năm 2008. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Hà
nam là nông sản thô chưa qua chế biến hoặc là hàng gia công vì vậy giá trị kinh tế
chưa cao. Đó là những thách thức của ngành thương mại. Trong thời gian tới ngành
thương mại phải xây dựng được các mặt hàng xuất khẩu chủ lực để thúc đẩy nền
ngân sách từ kinh tế địa phương với chi ngân sách địa phương.Tài chính các doanh
nghiệp nhà nước ở địa phương đang gặp rất nhiều khó khăn, sản xuất kinh doanh
chậm phát triển, hiệu quả sản xuất thấp.
Trong lĩnh vực dịch vụ vận tải,Hà nam là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận
tiện cả về đường bộ, đường sắt và đường sông. Trong những năm qua ngành vận tải
đã có những tiến bộ nhất định, giá trị gia tăng của ngành liên tục tăng, năm 2008
ngành vận tải chiếm 2,64% GDP của toàn tỉnh. Khối lượng hành khách và hàng hoá
vận chuyển tăng qua các năm. Cụ thể:
Biểu 12. Thực trạng dịch vụ vận tải Hà nam thời kỳ 2004-2008.
Đơn vị 2004 2005 2006 2007 2008
1Vận tải hàng hoá
-KlượngHH v/chuyển
-KlượngHH l/chuyển
nghìn tấn
nghìntấnkm
593
27.200
679
38.811
1.123
50.615
1.190
53.475
1.233,6
55.105
2Vận tải hành khách
-KlượngHK v/chuyển
-KlượngHK l/chuyển
nghìn người
nghìnng. km