1
MỞ ĐẦU
Cơ cấu kinh tế là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế hợp
lý có tính chất quyết định tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế, quyết định đến
tăng trưởng kinh tế trong hiện tại và tương lai. Sự khủng hoảng kinh tế ở một số
nước trên thế giới và trong khu vực có nhiều nguyên nhân, song có một nguyên
nhân chung khá quan trọng bắt nguồn từ chính sách cơ cấu. Do đó vấn đề chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế là hết sức cần thiết trong quá trình công nghiệp hoá- hiện
đại hoá của bất cứ quốc gia nào nếu không muốn đứng vào danh sách các nước
nghèo nhất thế giới.
Qua hơn 10 năm đổi mới, chúng ta đánh giá cao kết quả của quá trình chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt nam nói chung và của tỉnh Hà nam nói riêng, song
cũng phải thừa nhận rằng chúng ta chưa khai thác được hết các nguồn lợi thế đó vì
vậy hàng loạt các giải pháp của chính phủ được đưa ra nhằm định dạng lại cơ cấu
ngành kinh tế một cách hợp lý cho từng ngành, từng địa phương.
Với Hà nam, một tỉnh nghèo lại mới được tái lập, nguồn lực tự nhiên và kinh
tế xã hội thay đổi nên cơ cấu kinh tế cũ cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với
tình hình hiện nay, việc định hướng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
là hết sức cần thiết đối với tỉnh. Đó cũng chính là cơ sở để chúng tôi lựa chọn tỉnh
Hà nam làm đối tượng nghiên cứu.
Cơ cấu kinh tế là một phạm trù rộng, với khả năng cho phép chúng tôi chỉ tập
trung đi sâu nghiên cứu về cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam. Thông qua việc
thu thập, xử lý và phân tích số liệu thực tiễn, kết hợp với những kiến thức lý luận đã
được học và được đọc, chúng tôi mong muốn đưa ra định hướng và một số giải
pháp cho vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam. Đó cũng chính
là lý do ra đời đề tài “ Định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà
Nam trong giai đoạn 2001 - 2010 “. Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung
chính sẽ được trình bầy trong 3 chương:
Chương I: Sự cần thiết khách quan của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế nước ta nói chung và tỉnh Hà Nam nói riêng.
Trong chương này chúng tôi sẽ trình bày những lý luận cơ bản về cơ cấu ngành
hai dạng cơ cấu kinh tế là cơ cấu kinh tế đóng và cơ cấu kinh tế mở trong đó cơ cấu
kinh tế mở được vận dụng rộng rãi ở các nước vì những ưu điểm của nó
Ba bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu
lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế. Nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá
trình phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất thì cơ cấu kinh tế lãnh
thổ lại được hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý, cơ
cấu thành phần kinh tế hình thành dựa trên chế độ sở hữu. Trong cơ cấu kinh tế, cơ
cấu ngành kinh tế giữ vai trò quyết định, vì vậy đề tài chỉ tập trung nghiên cứu cơ
cấu ngành kinh tế mà rõ hơn là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành kinh tế được hình thành và mối
quan hệ của các ngành đó với nhau biểu thị bằng vị trí, sự tác động qua lại và tỷ
trọng của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân.
Từ các góc độ kác nhau cơ cấu ngành kinh tế được đánh giá thông qua các chỉ
tiêu như: Cơ cấu ngành theo giá trị sản lượng, cơ cấu ngành theo sản phẩm cuối
cùng, cơ cấu ngành theo quy mô vốn đầu tư và cơ cấu ngành theo lao động. Các chỉ
tiêu phản ánh cơ cấu ngành chỉ mang tính thời điểm vì cơ cấu ngành luôn luôn biến
đổi để phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã
hội và đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
2. Một số lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Lý thuyết phân kỳ phát triển của Rostow.
Rostow cho rằng quá trình phát triển kinh tế của bất cứ quốc gia nào cũng trải
qua năm giai đoạn: Xã hội truyền thống -> Chuẩn bị cất cánh ->Cất cánh ->Trưởng
thành -> Tiêu dùng cao. Có thể nói rằng lý thuyết phân kỳ phát triển kinh tế rất có ý
4
nghĩa đối với vấn đề chuyển dịch cơ cấu trong quá trình công nghiệp hoá ở những
nước đang phát triển hiện nay. Nó đặt ra nhiệm vụ mà những nước này cần phải
thực hiện để chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho việc chuyển nền kinh tế của nước
mình sang giai đoạn cất cánh.
Lý thuyết nhị nguyên.
Trong lý thuyết này, A.Lewis nhận định để có thể thúc đẩy phát triển kinh tế
Nhóm những nhân tố trên ảnh hưởng lớn tới việc hình thành cơ cấu kinh tế.
Bởi vì nguyên tắc của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là phải tạo ra được một cơ cấu
kinh tế hợp lý trên cơ sở sử dụng được hiệu quả mọi lợi thế so sánh. Với mỗi đặc
điểm khác nhau về vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, tài nguyên thì sẽ có một cách lựa
chọn cơ cấu kinh tế khác nhau. Ví dụ như tỉnh Hà Nam có nguồn tài nguyên đá vôi
rất phong phú, vì vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Hà Nam sẽ theo hướng tập trung
phát triển công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng để tận dụng được lợi
thế về nguồn tài nguyên này.
Nhóm nhân tố kinh tế, xã hội: dân số và nguồn lao động, truyền thống lịch sử,
thị trường, khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng, cơ chế chính sách
Cũng như nhân tố địa lý tự nhiên, nhóm nhân tố này cũng tác động trực tiếp tới
việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Với nguồn lao động dồi dào,
nhân công rẻ sẽ thúc đẩy phát triển các ngành thu hút được nhiều lao động, vốn đầu
tư ít; cầu và cạnh tranh trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp tới việc hình thành cơ
cấu ngành kinh tế; ngoài ra kết cấu hạ tầng phát triển, an ninh chính trị ổn định, cơ
chế chính sách thông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển dịch cơ
cấu ngành theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA
NƯỚC TA NÓI CHUNG VÀ TỈNH HÀ NAM NÓI RIÊNG.
1. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đối với phát triển kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một nội dung quan trọng của quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nếu xác định được phương hướng và giải
pháp chuyển dịch đúng sẽ đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội cao trong sự phát triển.
Có thể khẳng định rằng, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có một vai trò quan trọng
đối với sự phát triển kinh tế vì:
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm khai thác và sử dụng có hiệu
quả các yếu tố lợi thế của nền kinh tế, vùng hoặc địa phương. Các yếu tố đó là
nguồn lực tài nguyên, lao động... yếu tố lợi thế so sánh như chi phí sản xuất.
Thông qua quá trình tổ chức khai thác có hiệu quả các yếu tố lợi thế, trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế sẽ tìm ra các ngành mũi nhọn tạo khả năng
thứ cấp.
Như vậy, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có vai trò hết sức quan trong đối
với quá trình phát triền kinh tế xã hội mỗi quốc gia.Vì vậy, vấn đề chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế là một yêu cầu bức thiết để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
7
2. Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Có nhiều nguyên nhân khiến phải đặt vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế,
trong đó có ba nguyên nhân chủ yếu:
Thứ nhất, khái niệm “Cơ cấu ngành” là một khái niệm “động”. Không có một
khuôn mẫu cơ cấu ngành chung, ổn định cho mọi thời kỳ phát triển. Cơ cấu ngành
được hình thành dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao
động xã hội cùng với tiến bộ khoa học công nghệ. Vì phân công lao động xã hội
luôn thay đổi, khoa học công nghệ tiến bộ không ngừng do đó cơ cấu ngành kinh tế
luôn nằm trong tình trạng phải biến đổi để có thể phù hợp với quá trình phát triển và
tạo ra được một cơ cấu ngành hợp lý. Đó là một cơ cấu ngành phải tạo ra sự ổn
định, tăng trưởng và phát triển cho nền kinh tế xã hội.
Thứ hai, kinh nghiệm thành công của một số nước trong việc lựa chọn cơ cấu
ngành hợp lý.
Nổi bật là trường hợp của Nhật Bản, là nước thành công trong việc lựa chọn
chiến lược phát triển hướng nội, vì vậy nền kinh tế đạt được sự phát triển thần kỳ và
đã trở thành một nước công nghiệp phát triển.
Một điển hình thành công nữa trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là
trường hợp của các nước NIC và ASEAN với việc thực thi chiến lược hướng ngoại.
Đài Loan thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung phát triển
nông nghiệp bằng con đường hiện đại hoá, thâm canh hoá, hoá học hoá, đồng thời
phát triển các ngành công nghiệp điện, điện tử, hàng tiêu dùng thông thường và
hàng tiêu dùng cao cấp do đó Đài Loan đã phát triển đều cả về công nghiệp và nông
nghiệp.
Singapore có sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đặc biệt mạnh dạn. Lúc đầu,
cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá tăng tỷ trọng ngành
Công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng Nông nghiệp trong cơ cấu GDP.
Như vậy, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là cần thiết đối với tỉnh Hà Nam.
Chỉ có chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế mới tạo ra cho Hà Nam một cơ cấu kinh tế
hợp lý, mới sử dụng hết tiềm năng về tài nguyên và nhân lực của tỉnh, đưa nền kinh
tế của tỉnh hội nhập với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
CHƯƠNG II
9
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
CỦA TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 1995- 1999
I. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH HÀ NAM ẢNH
HƯỞNG ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH
KINH TẾ.
Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới cơ
cấu nền kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà Nam nói riêng.
Chính vì vậy để nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà Nam thì trước hết phải
xem xét những thuận lợi và khó khăn do đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội đem lại.
1- Điều kiện tự nhiên.
Về vị trí địa lý, Hà Nam là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ, cách thủ đô Hà
nội gần 60 km về phía nam, tương lai sẽ trở thành thành phố vệ tinh của thủ đô.
Tỉnh Hà nam có thuận lợi lớn vì nằm trên tuyến giao thông chính quốc lộ 1A và
đường sắt xuyên Bắc- Nam. Trong tương lai khi tuyến hành lang kinh tế đường 21
nối Sơn Tây- Hoà Lạc- Xuân Mai hình thành, cầu Yên Lệnh thông sang Hưng Yên,
tuyến xa lộ Bắc Nam được xây dựng sẽ càng tạo nhiều khả năng giao lưu hợp tác
giữa Hà nam và các trung tâm kinh tế lớn trong cả nước. Không chỉ có lợi thế về
tuyến đường bộ, đường sắt, tỉnh Hà nam còn có một hệ thống đường thuỷ vô cùng
nước dồi dào cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp và phục vụ đời sống dân cư.
Như vậy, với nguồn đất có độ phì trung bình, hai loại địa hình là đồng bằng và
đồi núi tạo cho Hà nam có thể bố trí được nhiều loại cây trồng thuộc nhóm cây
lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây rừng đa tác dụng với
hệ thống canh tác có tưới hoặc không tưới. Đây là điều kiện tốt để Hà nam có thể
chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá phục vụ thị
trường trong nước nhất là khu đô thị, khu công nghiệp và xuất khẩu. Vùng đồi và
ven quốc lộ tương đối thuận lợi cho bố trí phát triển công nghiệp, nhất là công
nghiệp vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, gia công xuất khẩu.
Về Tài nguyên, tài nguyên khoáng sản đặc biệt là nguồn đá vôi, sét được phân
bố tập trung ở phía Tây sông Đáy thuộc hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm rất
thuận lợi cho việc phát triển sản xuất vật liệu xây dựng, nhất là xi măng, đá, gạch.
Đá vôi có hàm lượng canxi từ 95-100% và đôlômit 0-5% dùng để sản xuất xi
măng và sản xuất bột nhẹ, còn đá vôi có hàm lượng ngược lại canxi từ 0-5% và
đôlômit từ 95-100% dùng làm đá xây dựng, vật liệu độn hoặc để sản xuất hoá chất
manhê. Ngoài ra đá vôi còn là nguyên liệu để sản xuất ra đất đèn dùng trong công
nghiệp khí hàn, công nghiệp tổng hợp hữu cơ, sản xuất sợi vinylon.
Nguồn sét Hà nam được kiến tạo từ hai nguồn gốc là gốc trầm tích và gốc
phong hoá. Sét gốc phong hoá là loại sét tốt, được dùng làm phụ liệu cho sản xuất xi
măng trong tỉnh. Sét gốc trầm tích dùng làm nguyên liệu sản xuất gạch ngói.
11
Như vậy, Hà nam có nguồn đá vôi và sét đủ khả năng cho công nghiệp sản
xuất xi măng với trữ lượng 3-5 triệu tấn/ năm trong nhiều năm. Chất lượng đá vôi
và sét khá tốt lại phân bố gần trục giao thông, dễ khai thác, gần nơi tiêu thụ lớn.
Ngoài ra, Hà nam còn có nguồn than bùn được phát hiện tại Tam Chúc, thuộc
huyện Kim Bảng, có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ vi sinh.
Về Tài nguyên du lịch, Hà nam là một tỉnh có tài nguyên du lịch khá phong
phú, cả về tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Hà nam có
các di vật khảo cổ như trống đồng, công cụ bằng đồng, các tác phẩm nghệ thuật,
điêu khắc mang dấu ấn của thời đại lịch sử. Hà nam có đền Trần Thương ở Lý Nhân
trọng thúc đẩy các mặt hoạt động xã hội phát triển lành mạnh. Hà nam là một tỉnh
dẫn đầu về phổ cập giáo dục tiểu học, các cơ sở y tế được nâng cấp, y tá, bác sỹ
được bổ sung, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững và tăng
cường, các tệ nạn xã hội ngày càng giảm.
Tuy nhiên nền kinh tế Hà nam vẫn còn mang tính thuần nông, nông nghiệp
chiếm 44% GDP, công nghiệp địa phương nhỏ bé, thương mại dịch vụ phát triển
chậm, thu ngân sách mới đáp ứng được 40% chi, chưa có đầu tư nước ngoài. Điều
đó đặt ra cho Hà nam một thách thức đòi hỏi tỉnh phải nhanh chóng chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế để có thể phát triển ngang với các tỉnh khác trong khu vực.
Về dân số và nguồn nhân lực, nguồn nhân lực được xem như là một lợi thế
phát triển quan trọng. Quy mô và tốc độ tăng của nguồn nhân lực phụ thuộc vào quy
mô và tốc độ tăng dân số. Theo số liệu điều tra gần đây nhất, dân số Hà nam năm
1999 đã là 791.614 người, trong đó dân số ở tuổi lao động là 426.673 người, chiếm
53,9% dân số toàn tỉnh. Số lao động ở khu vực nông thôn là 380.890 người, chiếm
89,27% và ở thành thị là 45.783 người, chỉ chiếm 10,73%. Là một tỉnh mà thu nhập
còn nặng về nông nghiệp, cơ sở vật chất yếu kém, với nguồn lao động như trên
đang gây sức ép về việc làm và cải thiện đời sống. Mặt khác, lao động nông nghiệp
có 287.253 người chiếm xấp xỉ 70%, lao động công nghiệp và dịch vụ có 126.087
người chiếm 30%, trong đó số được đào tạo ngành nghề là 58.008 người, chiếm
13,5%, như vậy số lao động ở nông thôn thiếu việc làm đang đi đến các khu vực
khác làm dịch vụ là rất lớn, chiếm gần 20% lao động nông thôn. Ở nông thôn, thời
gian nhàn rỗi còn nhiều mà cơ hội gia tăng việc làm ở khu vực nông nghiệp hầu như
không đáng kể, có chăng chỉ là rải rác ở những nơi có ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp, với tay nghề gia truyền là chính, không được đào tạo cơ bản. Hơn nữa, lao
động trong nông nghiệp với trình độ trang bị kỹ thuật còn lạc hậu, người lao động
sử dụng cơ bắp và sức súc vật kéo là chính. Tất cả những điều đã đề cập ở trên cho
thấy trình độ lao động của tỉnh nói chung còn thấp, và thực tế Hà nam có nguồn lao
động khá dồi dào nhưng lao động phổ thông chưa được đào tạo nghề là phổ biến và
thiếu lao động được đào tạo kỹ thuật, nhất là lao động có kỹ thuật cao.
Trong thời gian tới để chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công
mức thấp, chỉ bằng 60% so với cả nước và 57,7% so với vùng đồng bằng sông
Hồng. Hơn nữa tốc độ tăng trưởng kinh tế những năm qua cao, chủ yếu là do nhà
nước tập trung xây dựng khu trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh mới, đồng thời từ
quý III năm 1998, công ty xi măng Bút Sơn đã đi vào sản xuất, giá trị tăng thêm của
công ty năm 1998 khoảng 24 tỷ đồng, năm 1999 khoảng 139 tỷ đồng. Nếu không
14
tính đến phần giá trị tăng thêm này thì tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1998 và 1999
cuả tỉnh chỉ đạt khoảng 7% và 3,9%.
Trong thời gian qua, sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam
theo các hướng sau:
Đối với công nghiệp, đầu tư vào những ngành nghề có hiệu quả kinh tế cao, tạo
giá trị lớn, có thị trường tiêu thụ và đặc biệt là thị trường xuất khẩu. Ưu tiên những
ngành nghề khai thác được tiềm năng tài nguyên, tạo ra nguyên liệu và sản phẩm
phong phú, giải quyết được nhiều việc làm cho dân.
Đối với nông nghiệp, phát triển nông nghiệp trong khả năng cho phép đảm bảo
an toàn lương thực và tạo cơ sở nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, phát
triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá.
Đối với dịch vụ, phát triển mạnh ngành thương mại, đẩy nhanh hoạt động xuất
khẩu của tỉnh, phát triển du lịch trên cơ sở khai thác đồng thời phát triển những loại
hình dịch vụ khác như tài chính ngân hàng, thông tin viễn thông, giao thông vận tải,..
Cải tạo và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, điện khí hoá nông thôn, thực
hiện kiên cố hoá kênh mương, nâng cấp hệ thống đường giao thông nông thôn,
những tuyến giao thông huyết mạch của tỉnh, xây dựng các trụ sở làm việc cho tỉnh
mới tách, nâng cấp hệ thống thông tin bưu điện,... nhằm thu hút đầu tư nước ngoài
vào phát triển kinh tế của tỉnh.
Xuất phát từ định hướng trên, trong thời gian qua cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh
Hà nam cũng có những chuyển biến tích cực và tiến bộ.
Thứ nhất trong cơ cấu ngành kinh tế theo GDP:
Biểu2. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo GDP
thời kỳ 1995- 1999.
theo xu hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp.
Sau 5 năm tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng 8,61% . Đây là xu hướng
tích cực cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy vậy, cơ cấu ngành kinh tế
của tỉnh Hà nam năm 1999 vẫn là cơ cấu Nông nghiệp- Công nghiệp- Dịch vụ.
Thứ hai, trong cơ cấu ngành kinh tế theo vốn đầu tư.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện trên lãnh thổ tỉnh phần lớn là nguồn vốn
tín dụng, bình quân thời kỳ 1995-1999 là 59,2% tổng vốn đầu tư. Số vốn đầu tư từ
ngân sách nhà nước chiếm tỷ trọng rất nhỏ, bình quân cả thời kỳ 1995-1999 khoảng
20,8% tổng vốn đầu tư. Phần vốn do dân đóng góp chiếm 15,7%.
Việc huy động và sử dụng vốn qua các năm tương đối phù hợp với tình hình
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Nguồn vốn từ ngân sách và nhân dân đóng góp
chủ yếu sử dụng vào việc cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới kết cấu hạ tầng, nhất là
giao thông vận tải, bưu điện thông tin, thuỷ lợi, các công trình phúc lợi công cộng,
trụ sở làm việc, các sở ban ngành...Nguồn vốn tín dụng chủ yếu đầu tư vào khu vực
sản xuất công nghiệp, xây dựng.
16
Vốn đầu tư là yếu tố hàng đầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nó đảm bảo cho
khai thác lợi thế áp dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới thiết bị công nghệ. Đi liền với
sự chuyển dịch cơ cấu ngành thì cơ cấu vốn đầu tư cũng có sự thay đổi tương ứng.
Biểu 3. Thực trạng cơ cấu vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Hà nam
giai đoạn 1995-1999.
Đơn vị : %.
1995 1996 1997 1998 1999 Tỷ trọng BQ 95-99
Tổng vốn đầu tư 100 100 100 100 100 100
1.Công nghiệp 62,11 69,48 69,46 70,54 47,23 63,76
2.Nông nghiệp 4,95 4,75 6,57 10,65 21,33 9,65
3.Dịch vụ 32,94 25,77 23,97 18,81 31,44 26,59
Nguồn : Cục thống kê tỉnh Hà nam
Như vậy có thể thấy rằng trong giai đoạn 1995- 1999 vốn đầu tư chủ yếu tập
trung vào lĩnh vực công nghiệp, chiếm 63,76% tổng vốn đầu tư. Đó là vì Đảng bộ
công nghiệp giảm thấp nhất vào những năm 1997-1998 và năm 1999 tiếp tục tăng
lên đạt 11,2%. Như vậy có thể khẳng định là công nghiệp Hà nam chưa thực sự phát
triển, tỷ lệ lao động trong công nghiệp còn rất thấp so với toàn bộ lao động làm việc
trong nền kinh tế của tỉnh.
Lao động trong ngành dịch vụ có tăng nhưng không đáng kể, từ 7,6% năm
1995 lên 8,0% vào năm 1999. Lao động trong ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ
cao là 80,8%. Điều đó cho thấy hai ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển chưa
mạnh để có thể thu hút được lực lượng lao động dư thừa trong nông nghiệp sang
hoạt động trong hai ngành này. Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra chậm
và lao động trong các ngành kinh tế chưa ổn định.
Tóm lại, trong giai đoạn 1995-1999 nền kinh tế Hà nam đã có bước chuyển
biến đáng kể, giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ đều
tăng qua các năm. Mặc dù tỷ trọng của nông nghiệp vẫn còn cao trong cơ cấu kinh
tế nhưng về cơ bản cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam đã có bước chuyển dịch
đúng hướng. Trong nội bộ các ngành thì vị trí của ngành công nghiệp và dịch vụ
ngày càng được khẳng định, tuy nhiên ngành nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng
lớn vì trước mắt nó là ngành nuôi sống phần lớn dân cư. Cùng với sự chuyển dịch
cơ cấu chung, từng ngành cũng có sự chuyển dịch trong nội bộ. Để nghiên cứu rõ
hơn về quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam có thể xem xét
thực trạng chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ
giai đoạn 1995-1999.
2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu một số ngành Công nghiệp, Nông nghiệp,
Dịch vụ giai đoạn 1995-1999.
a. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành Công nghiệp.
18
Trong giai đoạn 1995-1999, cùng với sự phát triển kinh tế chung của tỉnh,
công nghiệp Hà nam đã có bước phát triển đáng mừng. Xét từ khía cạnh phân ngành
công nghiệp thì thấy cơ cấu sản xuất công nghiệp đã có sự chuyển đổi nhất định.
Biểu 5. Cơ cấu phân ngành trong công nghiệp.
Đơn vị : %.
tỷ trọng của những ngành này giảm xuống.
b. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành Nông nghiệp.
Trong những năm qua tuy tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP giảm dần
nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn đạt nhịp độ phát triển khá. Sản xuất nông nghiệp
có bước phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng giá trị trên một
diện tích, tăng thu nhập cho hộ nông dân. giá trị sản xuất nông nghiệp liên tục tăng
qua các năm. Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1995-1999 của ngành nông nghiệp đạt
4,26%, trong đó ngành trồng trọt tăng 4,96%, ngành chăn nuôi tăng 2,45%, dịch vụ
nông nghiệp tăng0,98%..
Cùng với tăng trưởng, cơ cấu ngành nông nghiệp cũng có những chuyển biến
nhất định.
Bảng 6. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
giai đoạn 1995-1999.
Đơn vị : %.
1995 1996 1997 1998 1999
Ngành Nông nghiệp 100 100 100 100 100
-Trồng trọt 74,5 74,9 74,2 77,6 77,5
-Chăn nuôi 24,5 24,1 24,8 21,5 21,6
-Dịch vụ NN 1,0 1,0 1,0 0,9 0,9
Nguồn:Cục thống kê tỉnh Hà nam.
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, tỷ trọng ngành chăn nuôi tuy có giảm vào
năm 1998, nhưng về cơ bản ngành này vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng khá và có
xu hướng tăng tỷ trọng vào những năm 1999, 2000 mặc dù sự chuyển dịch là rất
chậm. Giá trị của khu vực dịch vụ tăng lên hàng năm nhưng chưa đáng kể, nhất là
chưa tăng về tỷ trọng so với ngành nông nghiệp. Ngành trồng trọt vẫn chiếm một tỷ
trọng cao trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp. Để đánh giá được toàn diện hơn
ngành nông nghiệp cần đi sâu nghiên cứu sự chuyển dịch trong từng ngành cụ thể:
Ngành trồng trọt.
20
Trong giai đoạn 1995-1999 ngành trồng trọt của tỉnh Hà nam đã đạt được tốc
quy thúc
Tn 354.714 325.707 371.450 399.743 424.356
1. Lỳa
Nng sut
Tn
T/ha
318.814
44,02
287.665
40,53
343.336
46,62
363.431
48,89
383.453
51,1
2. Ngụ
Nng sut
Tn
T/ha
22.908
25,78
23.132
26,0
15.811
26,31
23.613
29,92
25.750
32,0
cây ăn quả chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong diện tích đất trồng trọt, tuy vậy những năm
gần đây do nhận thức đợc hiệu quả kinh tế cao của việc trồng cây ăn quả gấp 3-4 lần
trồng lúa, gấp khoảng 2 lần trồng cây thực phẩm xét về mặt giá trị trên cùng một diện
tích đất nông nghiệp nên ngời dân đã cải tạo vờn tạp, quy hoạch các vùng trồng cây ăn
quả tập trung, khai thác vùng đất đồi, đất bãi ven sông để trồng cây ăn quả vì vậy diện
tích và sản lợng cây ăn quả tăng nhanh qua các năm, nhất là những cây nhãn, vải.
Cây công nghiệp cũng là loại cây đem lại giá trị kinh tế cao. Vì vậy trong thời
gian qua, nhân dân Hà nam đã mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp đặc biệt là
cây lạc, cây đay và cây công nghiệp dài ngày là cây chè. Do đó đời sống của nhân dân
cũng đợc cải thiện hơn
Tóm lại, trong giai đoạn 1995-1999, Ngành trồng trọt của tỉnh Hà nam đã có sự
chuyển dịch theo hớng tăng diện tích các cây ăn quả, cây công nghiệp, giảm diện tích
cây lơng thực, đó là một hớng chuyển dịch tích cực để đẩy mạnh phát triển nông
nghiệp theo hớng sản xuất hàng hoá nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
của tỉnh nói chung.
22
Ngành Chăn nuôi.
Trong giai đoạn 1995-1999, cơ cấu vật nuôi của Hà nam chuyển dịch theo hớng
tập trung phát triển những con vật nuôi chính là bò và gia cầm. Đàn trâu giảm từ 10,9
nghìn con năm 1995 xuống còn 6,5 nghìn con năm 1999, do máy cày thay trâu làm
đất ngày càng nhiều vì vậy trâu đợc chuyển dần sang mục tiêu nuôi lấy thịt. Đàn bò
có số lợng tăng không đáng kể , từ 22,9 nghìn con năm 1995 tăng lên 24,9 nghìn con
vào năm 1999, một phần là do nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng nên đàn bò giết thịt
ngày càng lớn.
Đàn lợn có tốc độ tăng trởng khá, từ 225,9 nghìn con năm 1995 đã tăng lên
268,2 nghìn con năm 1999, tăng bình quân 4,39%/ năm, tỷ lệ lợn nạc cao, sản lợng
thịt lợn xuất chuồng đạt 19.436 tấn vào năm 1999.
Cùng với phát triển gia súc, đàn gia cầm của tỉnh cũng đợc đầu t về giống, thay
đổi phơng thức nuôi thả nên có tốc độ tăng trởng lớn, bình quân thời kỳ 1995-1999 là
4,85%/ năm và tổng đàn gia cầm đạt 2.311,6 nghìn con vào năm 1999, trong đó chủ
23
Sự phát triển của khu vực dịch vụ đã tạo điều kiện thuận lợi và kích thích khu
vực sản xuất phát triển. Nhưng nhìn chung, hoạt động dịch vụ trên địa bàn còn nhỏ
bé cả về số tuyệt đối và tỷ trọng so với toàn bộ nền kinh tế địa phương. Số lượng lao
động trong khu vực dịch vụ chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 8,0% năm 1999 trong tổng số
lao động đang làm việc. Tỷ lệ lao động chưa đáp ứng được yêu cầu xã hội và đời
sống nhân dân. Cân đối lao động trên địa bàn mới có 380 lao động dịch vụ / 1 vạn
dân, trong khi đó tỷ lệ bình quân cả nước là 630 lao động dịch vụ/ 1 vạn dân, khu
vực địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc bộ là 2.300 lao động dịch vụ / 1 vạn dân.Thực tế
này cho thấy các ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hà nam chưa phát triển mạnh. Để
nghiên cứu rõ hơn về thực trạng chuyển dịch cơ cấu trong ngành dịch vụ, có thể
xem xét từng ngành cụ thể.
Ngành Thương mại.
Hoạt động thương mại bao gồm kinh doanh trong nước và xuất nhập khẩu.
Những năm gần đây, ngành thương mại cũng có nhịp độ phát triển khá nhanh. Nhịp
độ phát triển thời kỳ 1991-1995 khoảng 12,7%/ năm, thời kỳ 1996-1998 đạt 12,5%/
năm. Năm 1998, ngành thương mại đã đóng góp cho kinh tế địa phương khoảng
6,6% tổng GDP toàn tỉnh. Cơ cấu thành phần kinh tế tham gia hoạt động thương
mại đã có sự thay đổi đáng kể. Nếu trước đây quốc doanh thương mại chiếm lĩnh
hầu hết thị trường thì những năm gần đây tỷ trọng của quốc doanh thương mại đã
giảm xuống nhanh chóng từ 37,2% năm 1990 xuống còn 18,6% năm 1995 và 16,6%
năm 1998. Đặc biệt khu vực thương mại tập thể chưa phục hồi được, tỷ trọng chiếm
lĩnh thị trường giảm từ 6,8% năm 1990 xuống còn 0,7% năm 1995 và đến nay gần
như không có vai trò gì trên thị trường thương mại.Thương nghiệp cá thể và các
doanh nghiệp tư nhân phát triển ngày càng mạnh mẽ, đã trở thành lực lượng quan
trọng đáp ứng cầu về hàng hoá thiết yếu.
Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ trên địa bàn có xu hướng ngày càng
tăng và tăng nhanh: 725.407 triệu đồng năm 1996, 916.925 triệu đồng năm 1997,
1.215.422 triệu đồng năm 1998 và 1.275.513 triệu đồng năm 1999.
Hoạt động xuất nhập khẩu những năm đầu thập kỷ 90 gặp rất nhiều khó khăn
kiếm cơ hội kinh doanh, quá cảnh. Số lượng khách du lịch đến địa phương nhỏ,
ngày lưu trú ít, doanh thu ngoại tệ thấp. Khách du lịch trong nước tới địa phương là
từ Hà nội và các tỉnh lân cận như Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Hà
Tây,...và cùng với khách quá cảnh đi tham quan chùa Hương, đa số các khách trong
nước đến tham gia các lễ hội truyền thống, tham quan đền chùa, hang động,...Số
lượng khách du lịch đến dịa phương những năm gần đây tăng khoảng 20 %/ năm.
Cụ thể:
25
Biểu 11. Hiện trạng khách du lịch đến Hà Nam thời kỳ 1996-1998.
Đơn vị: nghìn lượt người
Khách du lịch đến Hà nam 1996 1997 1998
-Khách quốc tế 2,217 1,747 1,8
-Khách nội địa 9,920 11,731 12,5
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Hà nam
Trong hai năm 1997, 1998 Hình thức kinh doanh du lịch đã được mở rộng,
ngoài kinh doanh ăn uống còn các dịch vụ khác nên doanh thu tăng dần, từ 3,284 tỷ
đồng năm 1996 lên 5,5 tỷ đồng năm 1997 và đạt 6,2 tỷ đồng năm 1998.
Tóm lại, lượng khách du lịch và doanh thu tăng qua các năm cho thấy ngành
Du lịch của Hà nam đang bắt đầu đi vào thế ổn định và dần dần khởi sắc.
Các ngành Dịch vụ khác.
Trong hoạt động tài chính, ngân hàng, tỷ lệ động viên tài chính từ GDP vào
ngân sách của Hà nam thời kỳ 1996-1999 còn rất thấp, năm cao nhất là năm 1999
mới bằng 6,08%. Tình hình tài chính của tỉnh mất cân đối nghiêm trọng giữa thu
ngân sách từ kinh tế địa phương với chi ngân sách địa phương.Tài chính các doanh
nghiệp nhà nước ở địa phương đang gặp rất nhiều khó khăn, sản xuất kinh doanh
chậm phát triển, hiệu quả sản xuất thấp.
Trong lĩnh vực dịch vụ vận tải,Hà nam là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận
tiện cả về đường bộ, đường sắt và đường sông. Trong những năm qua ngành vận tải
đã có những tiến bộ nhất định, giá trị gia tăng của ngành liên tục tăng, năm 1998
ngành vận tải chiếm 2,64% GDP của toàn tỉnh. Khối lượng hành khách và hàng hoá
53.493
710
45.171
Nguồn : Cục thống kê tỉnh Hà nam.