Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
1
Mở đầu
Cơ cấu kinh tế là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế hợp lý
có tính chất quyết định tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế, quyết định đến tăng
trởng kinh tế trong hiện tại và tơng lai. Sự khủng hoảng kinh tế ở một số nớc trên thế
giới và trong khu vực có nhiều nguyên nhân, song có một nguyên nhân chung khá
quan trọng bắt nguồn từ chính sách cơ cấu. Do đó vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế là hết sức cần thiết trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá của bất cứ
quốc gia nào nếu không muốn đứng vào danh sách các nớc nghèo nhất thế giới.
Qua hơn 10 năm đổi mới, chúng ta đánh giá cao kết quả của quá trình chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt nam nói chung và của tỉnh Hà nam nói riêng, song
cũng phải thừa nhận rằng chúng ta cha khai thác đợc hết các nguồn lợi thế đó vì vậy
hàng loạt các giải pháp của chính phủ đợc đa ra nhằm định dạng lại cơ cấu ngành kinh
tế một cách hợp lý cho từng ngành, từng địa phơng.
Với Hà nam, một tỉnh nghèo lại mới đợc tái lập, nguồn lực tự nhiên và kinh tế xã
hội thay đổi nên cơ cấu kinh tế cũ cần phải đợc điều chỉnh cho phù hợp với tình hình
hiện nay, việc định hớng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là hết sức
cần thiết đối với tỉnh. Đó cũng chính là cơ sở để chúng tôi lựa chọn tỉnh Hà nam làm
đối tợng nghiên cứu.
Cơ cấu kinh tế là một phạm trù rộng, với khả năng cho phép chúng tôi chỉ tập
trung đi sâu nghiên cứu về cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam. Thông qua việc thu
thập, xử lý và phân tích số liệu thực tiễn, kết hợp với những kiến thức lý luận đã đợc
học và đợc đọc, chúng tôi mong muốn đa ra định hớng và một số giải pháp cho vấn đề
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam. Đó cũng chính là lý do ra đời đề
tài Định hớng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà Nam trong giai
đoạn 2001 - 2010 . Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính sẽ đợc trình
bầy trong 3 chơng:
Chơng I: Sự cần thiết khách quan của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
nớc ta nói chung và tỉnh Hà Nam nói riêng.
Trong chơng này chúng tôi sẽ trình bày những lý luận cơ bản về cơ cấu ngành
ngày càng hoàn thiện và việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế là một quá trình. Có hai dạng
cơ cấu kinh tế là cơ cấu kinh tế đóng và cơ cấu kinh tế mở trong đó cơ cấu kinh tế mở
đợc vận dụng rộng rãi ở các nớc vì những u điểm của nó
Ba bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu lãnh
thổ và cơ cấu thành phần kinh tế. Nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá trình
phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất thì cơ cấu kinh tế lãnh thổ lại
đợc hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý, cơ cấu thành
phần kinh tế hình thành dựa trên chế độ sở hữu. Trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành
kinh tế giữ vai trò quyết định, vì vậy đề tài chỉ tập trung nghiên cứu cơ cấu ngành kinh
tế mà rõ hơn là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành kinh tế đợc hình thành và mối quan
hệ của các ngành đó với nhau biểu thị bằng vị trí, sự tác động qua lại và tỷ trọng của
mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân.
Từ các góc độ kác nhau cơ cấu ngành kinh tế đợc đánh giá thông qua các chỉ tiêu
nh: Cơ cấu ngành theo giá trị sản lợng, cơ cấu ngành theo sản phẩm cuối cùng, cơ cấu
ngành theo quy mô vốn đầu t và cơ cấu ngành theo lao động. Các chỉ tiêu phản ánh cơ
cấu ngành chỉ mang tính thời điểm vì cơ cấu ngành luôn luôn biến đổi để phù hợp với
sự phát triển của lực lợng sản xuất và phân công lao động xã hội và đó là quá trình
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
2. Một số lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Lý thuyết phân kỳ phát triển của Rostow.
Rostow cho rằng quá trình phát triển kinh tế của bất cứ quốc gia nào cũng trải
qua năm giai đoạn: Xã hội truyền thống -> Chuẩn bị cất cánh ->Cất cánh ->Trởng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
4
thành -> Tiêu dùng cao. Có thể nói rằng lý thuyết phân kỳ phát triển kinh tế rất có ý
nghĩa đối với vấn đề chuyển dịch cơ cấu trong quá trình công nghiệp hoá ở những nớc
đang phát triển hiện nay. Nó đặt ra nhiệm vụ mà những nớc này cần phải thực hiện để
chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho việc chuyển nền kinh tế của nớc mình sang giai
đoạn cất cánh.
5
Nhóm nhân tố địa lý, tự nhiên: vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, tài nguyên.
Nhóm những nhân tố trên ảnh hởng lớn tới việc hình thành cơ cấu kinh tế. Bởi vì
nguyên tắc của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là phải tạo ra đợc một cơ cấu kinh tế hợp lý
trên cơ sở sử dụng đợc hiệu quả mọi lợi thế so sánh. Với mỗi đặc điểm khác nhau về
vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, tài nguyên thì sẽ có một cách lựa chọn cơ cấu kinh tế
khác nhau. Ví dụ nh tỉnh Hà Nam có nguồn tài nguyên đá vôi rất phong phú, vì vậy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Hà Nam sẽ theo hớng tập trung phát triển công nghiệp
khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng để tận dụng đợc lợi thế về nguồn tài nguyên
này.
Nhóm nhân tố kinh tế, xã hội: dân số và nguồn lao động, truyền thống lịch sử,
thị trờng, khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng, cơ chế chính sách
Cũng nh nhân tố địa lý tự nhiên, nhóm nhân tố này cũng tác động trực tiếp tới
việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Với nguồn lao động dồi dào,
nhân công rẻ sẽ thúc đẩy phát triển các ngành thu hút đợc nhiều lao động, vốn đầu t
ít; cầu và cạnh tranh trên thị trờng ảnh hởng trực tiếp tới việc hình thành cơ cấu
ngành kinh tế; ngoài ra kết cấu hạ tầng phát triển, an ninh chính trị ổn định, cơ chế
chính sách thông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển dịch cơ cấu
ngành theo hớng công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
II. Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của n-
ớc ta nói chung và tỉnh Hà Nam nói riêng.
1. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đối với phát triển kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một nội dung quan trọng của quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Nếu xác định đợc phơng hớng và giải pháp chuyển
dịch đúng sẽ đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội cao trong sự phát triển. Có thể khẳng
định rằng, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có một vai trò quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế vì:
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm khai thác và sử dụng có hiệu
quả các yếu tố lợi thế của nền kinh tế, vùng hoặc địa phơng. Các yếu tố đó là nguồn
lực tài nguyên, lao động... yếu tố lợi thế so sánh nh chi phí sản xuất.
này đợc cải thiện, do đó cơ cấu tiêu dùng của ngời dân cũng thay đổi. Nếu trớc đây
ngời dân chỉ tiêu dùng những hàng hoá thông thờng thì ngày nay khi thu nhập tăng lên
ngời ta sẽ chuyển sang tiêu dùng hàng hoá xa xỉ, hàng hoá thứ cấp.
Nh vậy, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có vai trò hết sức quan trong đối với
quá trình phát triền kinh tế xã hội mỗi quốc gia.Vì vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế là một yêu cầu bức thiết để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
7
2. Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Có nhiều nguyên nhân khiến phải đặt vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế,
trong đó có ba nguyên nhân chủ yếu:
Thứ nhất, khái niệm Cơ cấu ngành là một khái niệm động. Không có một
khuôn mẫu cơ cấu ngành chung, ổn định cho mọi thời kỳ phát triển. Cơ cấu ngành đợc
hình thành dựa trên sự phát triển của lực lợng sản xuất và phân công lao động xã hội
cùng với tiến bộ khoa học công nghệ. Vì phân công lao động xã hội luôn thay đổi,
khoa học công nghệ tiến bộ không ngừng do đó cơ cấu ngành kinh tế luôn nằm trong
tình trạng phải biến đổi để có thể phù hợp với quá trình phát triển và tạo ra đợc một cơ
cấu ngành hợp lý. Đó là một cơ cấu ngành phải tạo ra sự ổn định, tăng trởng và phát
triển cho nền kinh tế xã hội.
Thứ hai, kinh nghiệm thành công của một số nớc trong việc lựa chọn cơ cấu
ngành hợp lý.
Nổi bật là trờng hợp của Nhật Bản, là nớc thành công trong việc lựa chọn chiến l-
ợc phát triển hớng nội, vì vậy nền kinh tế đạt đợc sự phát triển thần kỳ và đã trở thành
một nớc công nghiệp phát triển.
Một điển hình thành công nữa trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là tr-
ờng hợp của các nớc NIC và ASEAN với việc thực thi chiến lợc hớng ngoại.
Đài Loan thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng tập trung phát triển
nông nghiệp bằng con đờng hiện đại hoá, thâm canh hoá, hoá học hoá, đồng thời phát
triển các ngành công nghiệp điện, điện tử, hàng tiêu dùng thông thờng và hàng tiêu
nghiệp của tỉnh thành ngành mũi nhọn, làm đòn bẩy cho tăng trởng và phát triển kinh
tế. Muốn vậy, tỉnh Hà Nam phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo h-
ớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá tăng tỷ trọng ngành Công nghiệp và dịch vụ, giảm
tỷ trọng Nông nghiệp trong cơ cấu GDP.
Nh vậy, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là cần thiết đối với tỉnh Hà Nam. Chỉ
có chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế mới tạo ra cho Hà Nam một cơ cấu kinh tế hợp
lý, mới sử dụng hết tiềm năng về tài nguyên và nhân lực của tỉnh, đa nền kinh tế của
tỉnh hội nhập với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Chơng II
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
9
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
của tỉnh Hà Nam giai đoạn 1995- 1999
I. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Hà Nam ảnh hởng
đến việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội là những nhân tố quan trọng ảnh hởng tới cơ
cấu nền kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà Nam nói riêng. Chính
vì vậy để nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà Nam thì trớc hết phải xem xét
những thuận lợi và khó khăn do đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội đem lại.
1- Điều kiện tự nhiên.
Về vị trí địa lý, Hà Nam là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ, cách thủ đô Hà nội
gần 60 km về phía nam, tơng lai sẽ trở thành thành phố vệ tinh của thủ đô. Tỉnh Hà
nam có thuận lợi lớn vì nằm trên tuyến giao thông chính quốc lộ 1A và đờng sắt
xuyên Bắc- Nam. Trong tơng lai khi tuyến hành lang kinh tế đờng 21 nối Sơn Tây-
Hoà Lạc- Xuân Mai hình thành, cầu Yên Lệnh thông sang Hng Yên, tuyến xa lộ Bắc
Nam đợc xây dựng sẽ càng tạo nhiều khả năng giao lu hợp tác giữa Hà nam và các
nghiệp cũng nh để mở rộng các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Với hệ
thống bốn con sông chảy qua làm cho đất đai thêm màu mỡ và tạo một nguồn nớc dồi
dào cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp và phục vụ đời sống dân c.
Nh vậy, với nguồn đất có độ phì trung bình, hai loại địa hình là đồng bằng và đồi
núi tạo cho Hà nam có thể bố trí đợc nhiều loại cây trồng thuộc nhóm cây lơng thực,
cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây rừng đa tác dụng với hệ thống canh
tác có tới hoặc không tới. Đây là điều kiện tốt để Hà nam có thể chuyển đổi cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hớng sản xuất hàng hoá phục vụ thị trờng trong nớc nhất là
khu đô thị, khu công nghiệp và xuất khẩu. Vùng đồi và ven quốc lộ tơng đối thuận lợi
cho bố trí phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp vật liệu xây dựng, chế biến thực
phẩm, gia công xuất khẩu.
Về Tài nguyên, tài nguyên khoáng sản đặc biệt là nguồn đá vôi, sét đợc phân bố
tập trung ở phía Tây sông Đáy thuộc hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm rất thuận lợi
cho việc phát triển sản xuất vật liệu xây dựng, nhất là xi măng, đá, gạch.
Đá vôi có hàm lợng canxi từ 95-100% và đôlômit 0-5% dùng để sản xuất xi
măng và sản xuất bột nhẹ, còn đá vôi có hàm lợng ngợc lại canxi từ 0-5% và đôlômit
từ 95-100% dùng làm đá xây dựng, vật liệu độn hoặc để sản xuất hoá chất manhê.
Ngoài ra đá vôi còn là nguyên liệu để sản xuất ra đất đèn dùng trong công nghiệp khí
hàn, công nghiệp tổng hợp hữu cơ, sản xuất sợi vinylon.
Nguồn sét Hà nam đợc kiến tạo từ hai nguồn gốc là gốc trầm tích và gốc phong
hoá. Sét gốc phong hoá là loại sét tốt, đợc dùng làm phụ liệu cho sản xuất xi măng
trong tỉnh. Sét gốc trầm tích dùng làm nguyên liệu sản xuất gạch ngói.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
11
Nh vậy, Hà nam có nguồn đá vôi và sét đủ khả năng cho công nghiệp sản xuất xi
măng với trữ lợng 3-5 triệu tấn/ năm trong nhiều năm. Chất lợng đá vôi và sét khá tốt
lại phân bố gần trục giao thông, dễ khai thác, gần nơi tiêu thụ lớn.
Ngoài ra, Hà nam còn có nguồn than bùn đợc phát hiện tại Tam Chúc, thuộc
huyện Kim Bảng, có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ vi sinh.
Về Tài nguyên du lịch, Hà nam là một tỉnh có tài nguyên du lịch khá phong phú,
khuyến khích cá nhân và gia đình sản xuất kinh doanh giỏi nên đời sống của các tầng
lớp dân c ngày càng đợc cải thiện. Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm chỉ còn 11% năm 1999.
Các chơng trình văn hoá, giáo dục, y tế đợc triển khai góp phần quan trọng thúc đẩy
các mặt hoạt động xã hội phát triển lành mạnh. Hà nam là một tỉnh dẫn đầu về phổ
cập giáo dục tiểu học, các cơ sở y tế đợc nâng cấp, y tá, bác sỹ đợc bổ sung, an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội đợc giữ vững và tăng cờng, các tệ nạn xã hội ngày
càng giảm.
Tuy nhiên nền kinh tế Hà nam vẫn còn mang tính thuần nông, nông nghiệp
chiếm 44% GDP, công nghiệp địa phơng nhỏ bé, thơng mại dịch vụ phát triển chậm,
thu ngân sách mới đáp ứng đợc 40% chi, cha có đầu t nớc ngoài. Điều đó đặt ra cho
Hà nam một thách thức đòi hỏi tỉnh phải nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế để có thể phát triển ngang với các tỉnh khác trong khu vực.
Về dân số và nguồn nhân lực, nguồn nhân lực đợc xem nh là một lợi thế phát
triển quan trọng. Quy mô và tốc độ tăng của nguồn nhân lực phụ thuộc vào quy mô và
tốc độ tăng dân số. Theo số liệu điều tra gần đây nhất, dân số Hà nam năm 1999 đã là
791.614 ngời, trong đó dân số ở tuổi lao động là 426.673 ngời, chiếm 53,9% dân số
toàn tỉnh. Số lao động ở khu vực nông thôn là 380.890 ngời, chiếm 89,27% và ở thành
thị là 45.783 ngời, chỉ chiếm 10,73%. Là một tỉnh mà thu nhập còn nặng về nông
nghiệp, cơ sở vật chất yếu kém, với nguồn lao động nh trên đang gây sức ép về việc
làm và cải thiện đời sống. Mặt khác, lao động nông nghiệp có 287.253 ngời chiếm
xấp xỉ 70%, lao động công nghiệp và dịch vụ có 126.087 ngời chiếm 30%, trong đó số
đợc đào tạo ngành nghề là 58.008 ngời, chiếm 13,5%, nh vậy số lao động ở nông thôn
thiếu việc làm đang đi đến các khu vực khác làm dịch vụ là rất lớn, chiếm gần 20%
lao động nông thôn. ở nông thôn, thời gian nhàn rỗi còn nhiều mà cơ hội gia tăng
việc làm ở khu vực nông nghiệp hầu nh không đáng kể, có chăng chỉ là rải rác ở
những nơi có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, với tay nghề gia truyền là chính,
không đợc đào tạo cơ bản. Hơn nữa, lao động trong nông nghiệp với trình độ trang bị
kỹ thuật còn lạc hậu, ngời lao động sử dụng cơ bắp và sức súc vật kéo là chính. Tất cả
những điều đã đề cập ở trên cho thấy trình độ lao động của tỉnh nói chung còn thấp,
và thực tế Hà nam có nguồn lao động khá dồi dào nhng lao động phổ thông cha đợc
2,77% năm 1996 7,97% năm 1997, 7,82% năm 1998 và 10,02% năm 1999, bình quân
thời kỳ 1996-1999 mỗi năm tăng 7,1%, nếu tính giá thực tế thì GDP bình quân đầu ngời
thời kỳ 1995-1999 là 2223 nghìn đồng VN/ năm tơng đơng 158,8 USD.
Tuy GDP bình quân đầu ngời của Hà nam tăng qua các năm nhng còn ở mức
thấp, chỉ bằng 60% so với cả nớc và 57,7% so với vùng đồng bằng sông Hồng. Hơn
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
14
nữa tốc độ tăng trởng kinh tế những năm qua cao, chủ yếu là do nhà nớc tập trung xây
dựng khu trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh mới, đồng thời từ quý III năm 1998,
công ty xi măng Bút Sơn đã đi vào sản xuất, giá trị tăng thêm của công ty năm 1998
khoảng 24 tỷ đồng, năm 1999 khoảng 139 tỷ đồng. Nếu không tính đến phần giá trị
tăng thêm này thì tốc độ tăng trởng kinh tế năm 1998 và 1999 cuả tỉnh chỉ đạt khoảng
7% và 3,9%.
Trong thời gian qua, sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam theo
các hớng sau:
Đối với công nghiệp, đầu t vào những ngành nghề có hiệu quả kinh tế cao, tạo
giá trị lớn, có thị trờng tiêu thụ và đặc biệt là thị trờng xuất khẩu. Ưu tiên những
ngành nghề khai thác đợc tiềm năng tài nguyên, tạo ra nguyên liệu và sản phẩm phong
phú, giải quyết đợc nhiều việc làm cho dân.
Đối với nông nghiệp, phát triển nông nghiệp trong khả năng cho phép đảm bảo
an toàn lơng thực và tạo cơ sở nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, phát triển
nông nghiệp theo hớng sản xuất hàng hoá.
Đối với dịch vụ, phát triển mạnh ngành thơng mại, đẩy nhanh hoạt động xuất khẩu
của tỉnh, phát triển du lịch trên cơ sở khai thác đồng thời phát triển những loại hình dịch
vụ khác nh tài chính ngân hàng, thông tin viễn thông, giao thông vận tải,..
Cải tạo và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, điện khí hoá nông thôn, thực hiện
kiên cố hoá kênh mơng, nâng cấp hệ thống đờng giao thông nông thôn, những tuyến
giao thông huyết mạch của tỉnh, xây dựng các trụ sở làm việc cho tỉnh mới tách, nâng
cấp hệ thống thông tin bu điện,... nhằm thu hút đầu t nớc ngoài vào phát triển kinh tế
của tỉnh.
của tỉnh.
Tỷ trọng các ngành dịch vụ trong cơ cấu GDP giai đoạn 1995-1999 có sự thay
đổi không đáng kể từ 31,1% năm 1995 xuống còn 30,43% năm 1999. Điều này không
có nghĩa là ngành này không tăng trởng, trái lại GDP của ngành này liên tục tăng
mạnh qua các năm nhất là hoạt động thơng mại và các dịch vụ vận tải, khách sạn nhà
hàng, bu chính viễn thông,...Bởi vì cùng với sự đi lên của các ngành công nghiệp thì
các ngành thuộc khối dịch vụ cũng có bớc phát triển theo và nó sẽ làm thay đổi cơ cấu
kinh tế của tỉnh.
Tóm lại, cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh thời kỳ 1995-1999 có sự chuyển dịch
theo xu hớng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Sau 5
năm tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng 8,61% . Đây là xu hớng tích cực
cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy vậy, cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh
Hà nam năm 1999 vẫn là cơ cấu Nông nghiệp- Công nghiệp- Dịch vụ.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
16
Thứ hai, trong cơ cấu ngành kinh tế theo vốn đầu t.
Vốn đầu t xây dựng cơ bản thực hiện trên lãnh thổ tỉnh phần lớn là nguồn vốn tín
dụng, bình quân thời kỳ 1995-1999 là 59,2% tổng vốn đầu t. Số vốn đầu t từ ngân
sách nhà nớc chiếm tỷ trọng rất nhỏ, bình quân cả thời kỳ 1995-1999 khoảng 20,8%
tổng vốn đầu t. Phần vốn do dân đóng góp chiếm 15,7%.
Việc huy động và sử dụng vốn qua các năm tơng đối phù hợp với tình hình phát
triển kinh tế xã hội của tỉnh. Nguồn vốn từ ngân sách và nhân dân đóng góp chủ yếu
sử dụng vào việc cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông
vận tải, bu điện thông tin, thuỷ lợi, các công trình phúc lợi công cộng, trụ sở làm việc,
các sở ban ngành...Nguồn vốn tín dụng chủ yếu đầu t vào khu vực sản xuất công
nghiệp, xây dựng.
Vốn đầu t là yếu tố hàng đầu thúc đẩy tăng trởng kinh tế, nó đảm bảo cho khai
thác lợi thế áp dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới thiết bị công nghệ. Đi liền với sự
chuyển dịch cơ cấu ngành thì cơ cấu vốn đầu t cũng có sự thay đổi tơng ứng.
Biểu 3. Thực trạng cơ cấu vốn đầu t trên địa bàn tỉnh Hà nam
Biểu 4. Chuyển dịch cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế.
Đơn vị: %.
Ngành 1995 1996 1997 1998 1999
Tổng số 100 100 100 100 100
1.Công nghiệp 12,5 12,4 10,8 10,9 11,2
2.Nông nghiệp 79,9 79,7 81,2 81,2 80,8
3.Dịch vụ 7,6 7,9 8,0 7,9 8,0
Nguồn : Cục thống kê tỉnh Hà nam.
Theo các số liệu trên đây cho thấy trong mấy năm qua số lao động làm việc
trong khu vực công nghiệp của Hà nam không đợc ổn định. Tỷ lệ lao động trong công
nghiệp giảm thấp nhất vào những năm 1997-1998 và năm 1999 tiếp tục tăng lên đạt
11,2%. Nh vậy có thể khẳng định là công nghiệp Hà nam cha thực sự phát triển, tỷ lệ
lao động trong công nghiệp còn rất thấp so với toàn bộ lao động làm việc trong nền
kinh tế của tỉnh.
Lao động trong ngành dịch vụ có tăng nhng không đáng kể, từ 7,6% năm 1995
lên 8,0% vào năm 1999. Lao động trong ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao là
80,8%. Điều đó cho thấy hai ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển cha mạnh để có
thể thu hút đợc lực lợng lao động d thừa trong nông nghiệp sang hoạt động trong hai
ngành này. Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra chậm và lao động trong các
ngành kinh tế cha ổn định.
Tóm lại, trong giai đoạn 1995-1999 nền kinh tế Hà nam đã có bớc chuyển biến
đáng kể, giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ đều tăng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
18
qua các năm. Mặc dù tỷ trọng của nông nghiệp vẫn còn cao trong cơ cấu kinh tế nhng
về cơ bản cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà nam đã có bớc chuyển dịch đúng hớng.
Trong nội bộ các ngành thì vị trí của ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng đợc
khẳng định, tuy nhiên ngành nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng lớn vì trớc mắt nó là
ngành nuôi sống phần lớn dân c. Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu chung, từng ngành
cũng có sự chuyển dịch trong nội bộ. Để nghiên cứu rõ hơn về quá trình chuyển dịch
phẩm, đồ uống cũng có giá trị tăng mạnh qua các năm, nâng tỷ trọng của ngành này
từ 13,36% năm 1995 lên 16% vào năm 1999. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hà nam có 6
đơn vị doanh nghiệp quốc doanh hoạt động trong ngành chế biến thực phẩm:Công ty
chế biến thực phẩm Vĩnh Hà, Công ty Bia nớc giải khát Phủ Lý, Xí nghiệp thực phẩm
công nghiệp Phủ Lý, Xí nghiệp bia Bình Hà, Xí nghiệp thực phẩm xuất khẩu Duy
Tiên. Trong tơng lai, những doanh nghiệp này sẽ đợc mở rộng cả về quy mô và số l-
ợng để có thể đáp ứng xu hớng phát triển chung của tỉnh cũng nh quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Các ngành công nghiệp dệt may, da giày, cơ khí điện tử, hoá chất phân bón cha
đợc mở rộng sản xuất do đó giá trị tăng không đáng kể. Trong khi đó vào những năm
1998,1999 ngành vật liệu xây dựng có giá trị tăng lớn vì vậy đã làm cho tỷ trọng của
những ngành này giảm xuống.
b. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành Nông nghiệp.
Trong những năm qua tuy tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP giảm dần nh-
ng sản xuất nông nghiệp vẫn đạt nhịp độ phát triển khá. Sản xuất nông nghiệp có bớc
phát triển toàn diện theo hớng sản xuất hàng hoá, tăng giá trị trên một diện tích, tăng
thu nhập cho hộ nông dân. giá trị sản xuất nông nghiệp liên tục tăng qua các năm. Tốc
độ tăng bình quân thời kỳ 1995-1999 của ngành nông nghiệp đạt 4,26%, trong đó
ngành trồng trọt tăng 4,96%, ngành chăn nuôi tăng 2,45%, dịch vụ nông nghiệp
tăng0,98%..
Cùng với tăng trởng, cơ cấu ngành nông nghiệp cũng có những chuyển biến nhất
định.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
20
Bảng 6. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
giai đoạn 1995-1999.
Đơn vị : %.
1995 1996 1997 1998 1999
Ngành Nông nghiệp 100 100 100 100 100
-Trồng trọt 74,5 74,9 74,2 77,6 77,5
thể là diện tích cây ăn quả từ 1,88% năm 1995 tăng lên đến 3,55% năm 1999, diện
tích cây công nghiệp tăng từ 3,56% năm 1995 lên 4,07% vào năm 1999. Cây lơng
thực có diện tích giảm từ 86,07% năm 1995 xuống còn 85,28% vào năm 1999.
Tuy diện tích cây lơng thực có giảm nhng do địa phơng tích cực đổi mới cơ cấu
giống và mùa vụ nên sản lợng và năng suất cây lơng thực tăng khá, bình quân thời kỳ
1996-1999 sản lợng lơng thực bình quân đầu ngời đạt 481 kg/ năm, tăng 33,6% so với
bình quân một năm thời kỳ 1991-1995; năng suất lúa bình quân một vụ trong năm
thời kỳ 1996-1999 là 46,1 tạ/ ha tăng 36% so với thời kỳ 1991-1995. Cụ thể:
Biểu 8. Năng suất và sản lợng các cây lơng thực thời kỳ 1995-1999
Đơn vị 1995 1996 1997 1998 1999
Tổng sản lợng LT quy
thóc
Tấn 354.714 325.707 371.450 399.743 424.356
1. Lúa
Năng suất
Tấn
Tạ/ha
318.814
44,02
287.665
40,53
343.336
46,62
363.431
48,89
383.453
51,1
2. Ngô
Năng suất
Tấn
86,43
915
30,0
9.560
104,1
8.852
100,0
12.989
136,5
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Hà nam.
Cây ăn quả của Hà nam gồm có cam, quýt, bởi, nhãn vải, xoài. Diện tích trồng
cây ăn quả chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong diện tích đất trồng trọt, tuy vậy những năm
gần đây do nhận thức đợc hiệu quả kinh tế cao của việc trồng cây ăn quả gấp 3-4 lần
trồng lúa, gấp khoảng 2 lần trồng cây thực phẩm xét về mặt giá trị trên cùng một diện
tích đất nông nghiệp nên ngời dân đã cải tạo vờn tạp, quy hoạch các vùng trồng cây ăn
quả tập trung, khai thác vùng đất đồi, đất bãi ven sông để trồng cây ăn quả vì vậy diện
tích và sản lợng cây ăn quả tăng nhanh qua các năm, nhất là những cây nhãn, vải.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
22
Cây công nghiệp cũng là loại cây đem lại giá trị kinh tế cao. Vì vậy trong thời
gian qua, nhân dân Hà nam đã mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp đặc biệt là
cây lạc, cây đay và cây công nghiệp dài ngày là cây chè. Do đó đời sống của nhân dân
cũng đợc cải thiện hơn
Tóm lại, trong giai đoạn 1995-1999, Ngành trồng trọt của tỉnh Hà nam đã có sự
chuyển dịch theo hớng tăng diện tích các cây ăn quả, cây công nghiệp, giảm diện tích
cây lơng thực, đó là một hớng chuyển dịch tích cực để đẩy mạnh phát triển nông
nghiệp theo hớng sản xuất hàng hoá nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
của tỉnh nói chung.
Ngành Chăn nuôi.
Trong giai đoạn 1995-1999, cơ cấu vật nuôi của Hà nam chuyển dịch theo hớng
268,2
19.463
4,39 %
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
23
4. Đàn gia cầm Nghìn con 1.934,5 1.788,3 1.966,7 2.033,4 2.311,6 4,85 %
Nguồn :Cục thống kê tỉnh Hà nam.
Tóm lại, ngành chăn nuôi của tỉnh Hà nam đang đợc chú trọng phát triển để
chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, góp phần vào chuyển đổi cơ cấu ngành kinh
tế chung của tỉnh .
c. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành Dịch vụ.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế địa ph-
ơng, ngành dịch vụ cũng có những bớc phát triển nhất định. Giá trị gia tăng của khu
vực dịch vụ thời kỳ 1995-1999 tăng khoảng 11%/năm.
Sự phát triển của khu vực dịch vụ đã tạo điều kiện thuận lợi và kích thích khu
vực sản xuất phát triển. Nhng nhìn chung, hoạt động dịch vụ trên địa bàn còn nhỏ bé
cả về số tuyệt đối và tỷ trọng so với toàn bộ nền kinh tế địa phơng. Số lợng lao động
trong khu vực dịch vụ chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 8,0% năm 1999 trong tổng số lao
động đang làm việc. Tỷ lệ lao động cha đáp ứng đợc yêu cầu xã hội và đời sống nhân
dân. Cân đối lao động trên địa bàn mới có 380 lao động dịch vụ / 1 vạn dân, trong khi
đó tỷ lệ bình quân cả nớc là 630 lao động dịch vụ/ 1 vạn dân, khu vực địa bàn kinh tế
trọng điểm Bắc bộ là 2.300 lao động dịch vụ / 1 vạn dân.Thực tế này cho thấy các
ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hà nam cha phát triển mạnh. Để nghiên cứu rõ hơn về
thực trạng chuyển dịch cơ cấu trong ngành dịch vụ, có thể xem xét từng ngành cụ thể.
Ngành Thơng mại.
Hoạt động thơng mại bao gồm kinh doanh trong nớc và xuất nhập khẩu. Những
năm gần đây, ngành thơng mại cũng có nhịp độ phát triển khá nhanh. Nhịp độ phát
triển thời kỳ 1991-1995 khoảng 12,7%/ năm, thời kỳ 1996-1998 đạt 12,5%/ năm.
Năm 1998, ngành thơng mại đã đóng góp cho kinh tế địa phơng khoảng 6,6% tổng
GDP toàn tỉnh. Cơ cấu thành phần kinh tế tham gia hoạt động thơng mại đã có sự thay
tăng lên 16.777 nghìn USD năm 1999. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Hà nam là
nông sản thô cha qua chế biến hoặc là hàng gia công vì vậy giá trị kinh tế cha cao. Đó
là những thách thức của ngành thơng mại. Trong thời gian tới ngành thơng mại phải
xây dựng đợc các mặt hàng xuất khẩu chủ lực để thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh phát
triển hơn.
Ngành Du lịch.
Tỉnh Hà nam có các tiềm năng du lịch tự nhiên nh các hang động (Ngũ Động
Sơn, Khả Phong, Ba Sao,...), vị trí địa lý gần khu du lịch Hơng Sơn ( Hà Tây), có khả
năng phát huy nguồn du lịch nhân văn với truyền thống anh hùng, quê hơng văn hiến
do nhiều thời kỳ lịch sử tạo nên.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
25
Hiện nay, khách du lịch quốc tế đến Hà nam chủ yếu bằng đờng bộ từ Hà nội
hoặc từ các tỉnh phía Nam ra theo tuyến xuyên Việt với mục đích tham quan, tìm
kiếm cơ hội kinh doanh, quá cảnh. Số lợng khách du lịch đến địa phơng nhỏ, ngày lu
trú ít, doanh thu ngoại tệ thấp. Khách du lịch trong nớc tới địa phơng là từ Hà nội và
các tỉnh lân cận nh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hng Yên, Hà Tây,...và cùng với
khách quá cảnh đi tham quan chùa Hơng, đa số các khách trong nớc đến tham gia các
lễ hội truyền thống, tham quan đền chùa, hang động,...Số lợng khách du lịch đến dịa
phơng những năm gần đây tăng khoảng 20 %/ năm. Cụ thể:
Biểu 11. Hiện trạng khách du lịch đến Hà Nam thời kỳ 1996-1998.
Đơn vị: nghìn lợt ngời
Khách du lịch đến Hà nam 1996 1997 1998
-Khách quốc tế 2,217 1,747 1,8
-Khách nội địa 9,920 11,731 12,5
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Hà nam
Trong hai năm 1997, 1998 Hình thức kinh doanh du lịch đã đợc mở rộng, ngoài
kinh doanh ăn uống còn các dịch vụ khác nên doanh thu tăng dần, từ 3,284 tỷ đồng
năm 1996 lên 5,5 tỷ đồng năm 1997 và đạt 6,2 tỷ đồng năm 1998.
Tóm lại, lợng khách du lịch và doanh thu tăng qua các năm cho thấy ngành Du