BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH NGUYỄN XUÂN THỦY
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH AN GIANG
THEO HƯỚNG CNH – HĐH
(GIAI ĐOẠN 2001 – 2004 ) Chuyên ngành : KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số : 60.31.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN TẤN KHUYÊN
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2006
MỤC LỤC
Trang
2.3.1. Về giá trò sản xuất nông nghiệp 20
2.3.2. Về cơ cấu sản xuất nông nghiệp 25
2.3.3. Về các mô hình canh tác 31
2.3.4. Về các dạng hình tổ chức liên kết hợp tác 40
2.3.5. Về môi trường 44
2.4. Đặc trưng nông hộ An Giang trong chuyển dòch cơ cấu sản xuất nông
nghiệp 48
2.4.1. Đặc điểm lao động và họat động chính 48
2.4.2. Đặc điểm về trang bò đất đai 50
2.4.3. Đặc điểm tổ chức sản xuất chăn nuôi và thuỷ sản trên qui mô hộ 51
2.5. Đánh giá tổng quát về chuyển dòch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An
Giang giai đọan 2001 – 2004 54
Chương 3 : Đònh hướng mục tiêu giải pháp thúc đẩy chuyển dòch cơ cấu sản
xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH 59
3.1. Cơ sở xây dựng đònh hướng mục tiêu giải pháp thúc đẩy chuyển dòch cơ
cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH – HĐH 59
3.1.1. Căn cứ điều kiện tự nhiên 59
3.1.2. Căn cứ nhu cầu thò trường 60
3.1.3. Căn cứ tiến bộ khoa học công nghệ 60
3.1.4. Căn cứ thực tiễn chuyển dòch cơ cấu sản xuất nông nghiệp giai đọan
2001 -2004 61
3.1.5. Từ kinh nghiệm chuyển dòch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của các nơi . 62
3.2. Phân tích ma trận SWOT nông nghiệp tỉnh An Giang 62
3.3. Đònh hướng mục tiêu giải pháp chuyển dòch cơ cấu sản xuất nông nghiệp
tỉnh An Giang giai đọan 2005 - 2010 64
3.3.1. Đònh hướng mục tiêu chuyển dòch sản xuất nông nghiệp An Giang 64
3.3.2. Đònh hướng giải pháp chuyển dòch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An
Giang 65
3.3.2.1. Về xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp – nông thôn 67
3.3.2.2. Về quy họach phát triển vùng nguyên liệu, tổ chức và liên kết
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Quá trình chuyển dòch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang được
tiến hành mạnh mẽ trong 5 năm qua đã thu được nhiều thành tựu khả quan
song cũng bộc lộ nhiều hạn chế cần được khắc phục. Với xu thế công nghiệp
hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH) nông nghiệp nông thôn, giá trò sản xuất nông
– lâm - ngư nghiệp An Giang đạt được mức tăng trưởng khá mạnh, giữ vò trí
quan trng trong kinh tế vùng ĐBSCL. Bên cạnh đó, kinh tế nông nghiệp tỉnh
cũng đang đối mặt với các thách thức lớn về chuyển dòch cơ cấu sản xuất, biểu
hiện ở cơ cấu cây trồng vật nuôi, quy mô, điều kiện và cách thức tổ chức sản
xuất, hiệu quả sản xuất và môi trường phát triển ổn đònh lâu dài.
Để tiếp tục đẩy mạnh quá trình chuyển dòch sản xuất nông nghiệp theo
hướng CNH – HĐH của tỉnh, việc xem xét đánh giá mức độ và hiệu quả
chuyển dòch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh giai đọan vừa qua là cần
thiết. Thông qua việc đánh giá các kết quả của quá trình chuyển dòch sản xuất
nông nghiệp tỉnh, và một số đặc trưng của nông hộ An Giang trong quá trình
chuyển dòch, đề tài tin hành làm rõ các ưu điểm và hạn chế của quá trình
chuyển dòch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh, từ đó đề xuất đònh hướng mục
tiêu giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh theo hướng CNH – HĐH và
bền vững.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát : Đánh giá kt quả quá trình chuyển dòch cơ cấu sản
dụng trong luận văn này:
+ Giá trò sản xuất và cơ cấu giá trò sản xuất nông nghiệp.
+ Tốc độ tăng trưởng giá trò sản xuất nông nghiệp.
+ Giá trò sản xuất nông nghiệp/ ha/ năm.
+ Cơ cấu diện tích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản.
+ Quy mô hộ về diện tích trồng trọt, số lượng gia súc chăn nuôi, diện
tích nuôi trồng thủy sản.
+ Phân tích thu nhập – lợi nhuận một số mô hình canh tác.
5. Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn gồm các phần chính như sau :
- Phần mở đầu
- Chương 1 : Cơ sở lý thuyết về cơ cấu và chuyển dòch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp theo hướng CNH – HĐH.
- Chương 2 : Cơ cấu và chuyển dòch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh An
Giang giai đọan 2001 – 2004.
- Chương 3 : Đònh hướng mục tiêu và giải pháp chuyển dòch cơ cấu sản
xuất nông nghiệp tỉnh An Giang theo hướng CNH-HĐH.
- Kết luận và kiến nghò
6. Những điểm mới của luận văn
- Luận văn tập trung đánh giá các mô hình sản xuất chuyên, đa canh, các
mô hình kinh tế mùa nước nổi của nông dân An Giang và các mối liên kết
trong sản xuất nông nghiệp giữa nông dân với nhau, và nông dân với doanh
nghiệp.
- Luận văn đề xuất một số đònh hướng mục tiêu giải pháp đẩy mạnh quá
trình chuyển dòch cơ cấu sản xuất nông nghiệp An Giang theo hướng CNH-
HĐH, kết hợp phát triển bền vững, hợp sinh thái, tập trung vào quy họach xây
dựng các vùng chuyên canh nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản
với việc phát triển các ngành hàng chủ yếu là lúa gạo, cá da trơn, rau màu và
chăn nuôi gia súc.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn bao gồm cơ cấu kinh tế ngành,
thành phần và cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ. Chúng có mối quan hệ, tác
động qua lại lẫn nhau. Kết hợp cơ cấu ngành với cơ cấu vùng lãnh thổ nhằm
phát huy lợi thế so sánh từng vùng trong việc phát triển ngành. Kết hợp cơ cấu
ngành với cơ cấu thành phần nhằm huy động nhiều nhất các nguồn lực của các
thành phần kinh tế trong vùng. Trong mối quan hệ này, cơ cấu kinh tế ngành
đóng vai trò cơ bản.
Trong điều kiện nông nghiệp nông thôn nước ta cũng như An Giang,
chuyển dòch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển bền vững, từng
bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực chất là chuyển dòch từ nông thôn
thuần nông sang nông thôn đa dạng hóa ngành nghề, gồm cả nông nghiệp,
công nghiệp và dòch vụ nông thôn, chuyển lao động nông nghiệp sang các
ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn nhằm đưa nông nghiệp đạt trình độ
hiện đại, nông thôn văn minh và nông thôn tri thức.
1.1.3. Sự cần thiết phải chuyển dòch cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Quá trình chuyển dòch cơ cấu các ngành sản xuất trong nông nghiệp –
lâm - ngư nghiệp là một tất yếu khách quan. Cơ cấu nông- lâm – ngư nghiệp là
một cấu trúc gắn bó hữu cơ nhiều nhân tố tác động qua lại lẫn nhau cùng tồn
tại và phát triển trong những thời gian và không gian nhất đònh.
Cơ cấu nông nghiệp trước hết là một bộ phận của cơ cấu kinh tế là một
ngành lớn một tổng thể hữu cơ của nhiều ngành nhỏ, với nhiều cấp hệ khác
nhau, không ngừng hoàn thiện và phát triển trong sự ổn đònh tương đối, trong
các mối quan hệ chằng chòt, tác động và tùy thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố,
được xác đònh bằng các quan hệ tỷ lệ về số lượng và chất lượng.
Cơ cấu nông nghiệp chòu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện tự
nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, nguồn nước và các điều kiện kinh tế xã hội
như nhu cầu thò trường, thò hiếu, sức mua dân cư… Các điều kiện này khác biệt
tùy theo không gian và thời gian, quy đònh sự hình thành và vận động biến đổi
của cơ cấu nông nghiệp.
Sản xuất nông nghiệp phát triển không ngừng, cơ cấu các ngành trong
nghiệp, nông thôn và các tổ chức cộng đồng của cư dân nông thôn trong sự liên
kết với khu vực đô thò, công nghiệp, thương mại dòch vụ.
Theo cuốn sách “Hiện đại hóa từ cấp làng xã ở Đông Nam Á”, tập hợp
tham luận của 18 tác giả khác nhau trong một hội thảo của Đại học Bristish
Columbia, Canada năm 1982, hiện đại hóa bắt đầu từ các yếu tố ngoại sinh,
nhưng thông qua các yếu tố nội sinh để có thể trở thành một quá trình làm biến
đổi các xã hội theo chiều hướng chuyển từ các xã hội truyền thống sang các xã
hội hiện đại. Nếu chấp nhận cách hiểu hiện đại hóa như kiểu phương Tây và
sự lan truyền của nó từ các nước trung tâm ra các nước ngoại vi thì tất nhiên
phải chấp nhận một quá trình tiến hóa xã hội không lảng tránh được.
Dựa trên các dữ kiện về các công xã nông thôn ở Ấn Độ, lý thuyết về
“Phương thức sản xuất Á Châu” của K. Marx đề cập đến phương thức sản xuất
mang nặng tàn dư của công xã nguyên thủy, tạo ra một hình thái xã hội đặc thù
của Châu Á, không chuyển hẳn sang chế độ nô lệ và chế độ phong kiến được.
Xét theo tiến hóa lòch sử, một xã hội kiểu đó có thể được duy trì rất lâu dài, vì
sự cân bằng tónh này không cho phép bất cứ một lực lượng sản xuất mới nào
xuất hiện và không có nhân tố xã hội nào phá vỡ nó. Như vậy, không có cuộc
cách mạng xã hội nào ngoài cuộc cách mạng qua những áp lực của tư bản
phương Tây.
Những quy luật của tiến hóa không thể chỉ dựa vào yếu tố ngoại sinh
(exogene) mà phải có yếu tố nội sinh (endogene) làm động lực quyết đònh.
Nghóa là phải có những mầm mống đủ mạnh của một phương thức sản xuất
mới, hoặc sẵn có, hoặc được nuôi dưỡng để lớn dần lên. Ngoài ra, không có
cách nào khác để tiến hóa được. Trên cơ sở đó, thuyết hiện đại hóa được phát
triển theo các hướng cụ thể sau trong điều kiện các nước chậm phát triển :
- Ưu tiên cho mục đích nâng cao sức sống của đa số dân cư nông thôn, để
phát triển động lực từ yếu tố “nội sinh” của người nông dân, cùng gia đình và cộng
đồng nông thôn của họ.
- Duy trì uy tín của nghề nông, thông qua xem xét đầy đủ về vai trò của
nông nghiệp nông thôn, về một nền nông nghiệp tự tồn với các giá trò về môi
động. Do đó không có khái niệm tiền lương và cũng không tính được đầy đủ
chính xác chi phí sản xuất và lợi nhuận. Mục tiêu của hộ nông dân là thu nhập
cao –sản lượng hàng năm trừ đi chi phí (ngoại trừ chi phí lao động gia đình)- từ
trồng trọt, chăn nuôi và cả từ hoạt động phi nông nghiệp. Đó là kết quả chung
của lao động gia đình.
Những người ủng hộ Tchayanov cũng đã phát triển học thuyết
Tchayanov theo những hướng chính là :
- Đi vào phát triển sản xuất hàng hóa, kinh tế gia đình nông dân vẫn là
đơn vò kinh tế tự chủ nhưng phải đặt trong thò trường và phải chấp nhận sự tác
động của các quy luật kinh tế thò trường – quy luật giá trò, cạnh tranh, vì lợi
nhuận … Do đó, phải hạch toán đầy đủ thông qua những quan hệ trao đổi với
bên ngoài.
- Kinh tế gia đình nông dân vẫn là đơn vò kinh tế tự chủ nhưng phải hợp
tác liên kết với nhau và với các tổ chức khác trong nền kinh tế bởi tự thân nông
hộ khép kín không đủ sức tiếp nhận hoặc tiếp nhận kém hiệu quả các yếu tố
nguồn lực hiện đại bên ngoài và tự thân nông hộ cũng không thể thực hiện trọn
vẹn đïc các yêu cầu của thò trường hàng hóa quy mô lớn.
- Sự tích tụ và tập trung nguồn lực cả về số lượng và chất lượng để nền
kinh tế phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu làm cho hộ nông dân tuy là đơn
vò kinh tế tự chủ, nhưng không thể chỉ hoạt động trong giới hạn của quỹ đất,
nguồn lao động và vốn của gia đình, mà còn phải có nguồn bổ sung tăng thêm
từ việc bổ sung thêm đất, thuê thêm lao động và vay vốn từ hệ thống tín dụng.
Như vậy, với những hướng phát triển đó đã đưa thuyết kinh tế gia đình
nông dân từ thuyết kinh tế “hộ khép kín – đóng” thành thuyết kinh tế “hộ mở”.
1.3. Các quan niệm về phát triển nông nghiệp bền vững
1.3.1. Quan niệm về nông nghiệp bền vững
Mặc dù luận giải về khái niệm bền vững còn nhiều ý kiến khác nhau,
nhưng đã có những ý tưởng mang tính phổ biến về các khía cạnh kinh tế và
phúc lợi xã hội, môi trường tự nhiên và xã hội nhân văn với việc phát triển đáp
ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm thương tổn đến năng lực đáp ứng nhu
xuất nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua đem lại nhiều thành tựu tích
cực, đem lại một số bài học kinh nghiệm như sau :
- Lấy đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn và công nghiệp chế biến
là khâu đột phá để chuyển dòch cơ cấu và phát triển sản xuất nông nghiệp.
- Chuyển dòch phải xuất phát từ nhu cầu thò trường, lấy nhu cầu thò
trường làm mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp.
- Xây dựng hệ thống chính sách khuyến khích nông dân và các thành
phần kinh tế tham gia thực hiện. Đó là các chính sách về thò trường, tiêu thụ
sản phẩm thông qua hợp đồng, thưởng xuất khẩu, công tác xúc tiến thương mại,
các chính sách đầu tư cho khoa học công nghệ và khuyến nông ….
- Tăng cường áp dụng các công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp,
đặc biệt là chương trình giống cây trồng vật nuôi và công nghệ sinh học.
- Sự chỉ đạo sâu sát của các chính quyền các cấp và quy họach sản xuất
cụ thể là rất quan trọng đối với thành công của quá trình chuyển dòch cơ cấu
sản xuất nông nghiệp.
Quá trình chuyển dòch cơ cấu sản xuất nông nghiệp đạt được kết quả tốt
ở nhiều đòa phương trong cả nước. Ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, quá trình
chuyển dòch cơ cấu sản xuất nông nghiệp gắn với việc quy họach sử dụng đất
và hướng dẫn nông dân dồn điền đổi thửa, tập trung phát triển một số sản
phẩm chủ lực, tạo tiền đề cho sản xuất hàng hóa phát triển. vùng ĐBSCL,
trong giai đọan 2001 – 2003, đã có 351.000 ha diện tích đất nông ngư nghiệp
chiếm 11,6% diện tích đất nông nghiệp được chuyển dòch, đạt và vượt trên 50
triệu đồng/ha/năm. Các mô hình canh tác đạt hiệu quả cao ở vùng ĐBSCL chủ
yếu là mô hình chuyên canh cây ăn quả ở Tiền Giang, Vónh Long, Bến Tre, mô
hình luân canh lúa – rau – màu ở An Giang, mô hình chuyên màu, rau, hoa, cây
cảnh và cây công nghiệp ngắn ngày ở Tiền Giang, Sóc Trăng, Vónh Long, Bạc
Liêu …, mô hình luân canh lúa – thủy sản, mô hình chuyên thủy sản, mô hình
VAC và mô hình khác như trồng cỏ và nuôi bò, trồng hoa huệ, tôm quảng canh
cải tiến … Về mô hình sản xuất kết hợp giữa nông nghiệp và chế biến có thể kể
đến trường hợp nông trường Sông Hậu (Cần Thơ) với mô hình RRVAC có giá
- Mở rộng và phát triển hệ thống dòch vụ ở nông thôn:Việc phát triển hệ
thống dòch vụ nông thôn, bao gồm những dòch vụ sản xuất và dòch vụ đời sống
xã hội là đòi hỏi có tính qui luật và tác động mạnh đến quá trình phát triển kinh
tế nông thôn.
- Cơ cấu kỹ thuật trong nông nghiệp nông thôn của các nước châu Á đã
gắn phương thức truyền thống với phương thức hiện đại, chuyển dòch cơ cấu sản
xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Công tác thủy
lợi ở các nước châu Á luôn được coi trọng và tăng cường. Năm 1989 tỷ lệ diện
tích trong nông nghiệp được tưới của Trung Quốc đạt 47,2%, Nhật Bản 61,9%
so với toàn thế giới là 15,8%, các khu vực châu Âu – Mỹ và Phi là 9,1%. Các
nước trong khu vực Đông Nam Á rất coi trọng công nghiệp chế biến, hạ thấp tỉ
lệ sản phẩm sơ chế, nâng tỉ lệ sản phẩm tinh chế, nhất là các mặt hàng xuất
khẩu. Thái Lan là nước khá thành công trong chế biến nông sản, đến nay đã có
25 nghìn nhà máy ở nông thôn.
- Chuyển cơ cấu kinh tế nông thôn gắn liền với việc bảo vệ môi trường sinh
thái. Nhiều nước trong khu vực đã có sự chuyển dòch cơ cấu kinh tế theo sự kết
hợp hiệu quả kinh tế xã hội với bảo vệ môi trường tự nhiên, xây dựng nền
nông nghiệp hiện đại hóa hợp sinh thái.
Chương 2
CƠ CẤU VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP TỈNH AN GIANG GIAI ĐỌAN 2001 – 2004
2.1. Những đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp tỉnh An Giang
2.1.1. Điều kiện tự nhiên :
- Vò trí đòa lý : An Giang là một tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL, giáp biên giới với
Campuchia, có nhiều dân tộc và tôn giáo, có diện tích tự nhiên 3.406 km
2
, chiếm
8,56% diện tích khu vực ĐBSCL và 1,05% diện tích cả nước. An Giang gồm thành
Mê Kông tạo nên và vùng đồi núi Tri Tôn - Tònh Biên.
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Về dân số – lao động : Theo kết quả thống kê sơ bộ năm 2004, dân số An
Giang là 2,170 triệu người, bằng 12,68% dân số của vùng ĐBSCL và chiếm 2,65%
dân của cả nước. Mật độ dân số của An Giang năm 2004 là 637 người/km
2
cao gấp
1,48 lần so với mật độ dân số trung bình ở ĐBSCL (430 người/ km
2
). Lực lượng lao
động của An Giang có 1.431.276 người chiếm 65,95% dân số. Lao động nông nghiệp
hiện vẫn chiếm 64,2% trong tổng lượng lao động làm việc trong các ngành kinh tế
quốc dân. Trình độ chuyên môn lao động còn thấp, có 12,51% số lao động là công
nhân kỹ thuật có bằng cấp và 9,31% số lao động đã tốt nghiệp phổ thông trung học,
trong khi tỷ lệ của khu vực ĐBSCL là 16,46% và 9,38% và cả nước là 30,58% và
18,37%. Theo báo cáo tại Hội nghò Giáo dục đào tạo ĐBSCL tháng 8/2005 tại Cần
Thơ, tỷ lệ học sinh trung học phổ thông /1000 dân của cả nước là 35, ĐBSCL là 26
trong khi ở An Giang là 23. Tỷ lệ số sinh viên đại học/10.000 dân, bình quân chung
toàn quốc là 140, ĐBSCL là 64, tỉnh An Giang chỉ có 50.
Về phát triển kinh tế: giai đọan 2000 – 2004, tốc độ tăng trưởng GDP bình
quân của An Giang là 108,35%/ năm, thấp hơn tốc độ của ĐBSCL là 109,53%/
năm, nhưng cao hơn tốc độ của cả nước là 107,16%/năm (theo giá so sánh 1994).
V c cu kinh t, nm 2000 t trng GDP phân theo các ngành nông nghip, công
nghiệp – xây dựng, và dòch vụ ở An Giang là 42,01%, 14,11% và 43,88%, trong
khi cả nước là 23,28%, 35,41% và 41,30%; năm 2004 các tỷ lệ này ở An Giang
là 36,57%, 15,76% và 47,67%, trong khi cả nước là 20,25%, 39,38% và 40,37%.
Giá trò sản xuất nông nghiệp bình quân/ha năm 2003 ca An Giang là 37,69 triu
đng/ ha, tốc độ tăng giá trò sản xuất nông nghiệp bình quân giai đoạn 2000-2003 của
An Giang là 4,83% năm (giá cố đònh 1994), trong khi con số này của ĐBSCL là 27,64