Sự chuyển dịch cơ cấu lao động trog địa bàn nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở việt nam hiện nay thực trạng và giải pháp - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
--------------------------

PHẠM THỊ THU HIỀN

SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG
TRONG ĐỊA BÀN NÔNG THÔN THEO HƯỚNG
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Người hướng dẫn khoa học
ThS. TRẦN THỊ HOA LÝ

HÀ NỘI - 2013


LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên của khóa luận tốt nghiệp, tôi xin chân thành cảm ơn các
thầy cô trong khoa Giáo dục chính trị đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi
trong suốt 4 năm học vừa qua để tôi có được kết quả học tập như ngày hôm
nay. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thạc sĩ Trần Thị Hoa Lý
đã tận tình chỉ bảo, đóng góp ý kiến quý báu giúp tôi trong suốt quá trình
hoàn thành khóa luận của mình.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự cổ vũ động viên và giúp đỡ của
gia đình và bạn bè trong suốt thời gian tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

NXB:

Nhà xuất bản

VAC:

Vườn - ao- chuồng

VACR:

Vườn - ao- chuồng- rừng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
LAO ĐỘNG THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ....... 4
1.1. Một số lí luận cơ bản về cơ cấu lao động ................................................. 4
1.2. Sự cần thiết phải thực hiện CNH, HĐH ở Việt Nam.............................. 11
1.3. Vai trò của sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong địa bàn nông thôn theo
hướng CNH, HĐH ....................................................................................... 13
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CỦA SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO
ĐỘNG TRONG ĐỊA BÀN NÔNG THÔN THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ..................................... 15
2.1. Thành tựu của sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong địa bàn nông thôn
theo hướng CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay .............................................. 15
2.2. Hạn chế của sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong địa bàn nông thôn theo
hướng CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay ...................................................... 19

thôn có một ý nghĩa thiết thực giải quyết việc làm cho lao động nông thôn,
thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh và hiệu quả trong thời gian tới.
Do đó, tôi đã chọn vấn đề: “ Sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong
địa bàn nông thôn theo hướng CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay- Thực
trạng và giải pháp” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay, có nhiều đề tài nghiên cứu về con người nói chung
và nguồn lao động nói riêng trong quá trình CNH, HĐH đất nước như:
TS. Trần Thị Minh Ngọc đã có nghiên cứu về sử dụng nguồn nhân lực
nông thôn trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam.

1


TS. Lê Thị Ngân với công trình nghiên cứu mang tên: nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Tác giả Phạm Đức Thành (2000), “ Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao
động theo hướng CNH, HĐH ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nước ta”, Nxb. Lao
động nhấn mạnh sự cần thiết phát triển nguồn lao động và cho rằng: hai vấn
đề then chốt liên quan tới những người lập chính sách ở các nước phát triển
lẫn các nước đang phát triển là đánh giá khả năng của nguồn nhân lực sẵn có
đối với nền kinh tế và làm thế nào để sử dụng có hiệu quả nguồn lực đó.
Ngoài ra, còn có những nghiên cứu đề cập đến những kinh nghiệm về
quản lí, phát triển nguồn nhân lực của một số nước trong khu vực, có ý nghĩa
tham khảo đối với nước ta.
Các công trình nghiên cứu trên đều có mục tiêu là khẳng định vai trò to
lớn của nguồn lực con người đặc biệt là nguồn lực con người ở nông thôn, đó
cũng chính là động lực thực hiện CNH, HĐH, thể hiện xem con người là tài
nguyên vô giá, là yếu tố trung tâm của mọi chính sách đầu tư, phát triển.
Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ tập trung khai thác nguồn nhân

dịch cơ cấu lao động trong địa bàn nông thôn giai đoạn hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, logic và lịch
sử, so sánh,… trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật.
6. Đóng góp của đề tài
Khóa luận đã bước đầu làm sáng tỏ thực trạng của sự chuyển dịch cơ
cấu lao động trong địa bàn nông thôn theo hướng CNH, HĐH ở nước ta hiện
nay. Từ đó đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm đẩy mạnh sự chuyển dịch đó.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt và danh mục tài
liệu tham khảo, khóa luận bao gồm 3 chương và 8 tiết.

3


Chương 1
MỘT SỐ LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG
THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1.1. Một số lí luận cơ bản về cơ cấu lao động
1.1.1. Nguồn lao động
Các nhà kinh tế học cho rằng hai vấn đề then chốt liên quan tới những
người lập chính sách ở các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển là
đánh giá khả năng của nguồn lao động sẵn có đối với nền kinh tế và làm thế
nào để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động đó.
Theo nghĩa rộng, nguồn lao động được hiểu như nguồn nhân lực con
người, được huy động quản lí cùng với nguồn lực khác (nguồn lực vật chất,
nguồn lực tài chính…) để thực hiện những mục tiêu phát triển đã định. Theo
định nghĩa của Liên hợp quốc: “ nguồn lao động là những người có trình độ
lành nghề, là kiến thức và kĩ năng của toàn bộ cuộc sống con người hiện có

là năng lực lao động của một con người cụ thể, là tổng hợp những khả năng
thể lực, trí lực và tâm lực mà người đó có thể sử dụng để tạo ra một giá trị sử
dụng nào đó”[17, tr. 217]. Sức lao động chịu sự chi phối của nhiều yếu tố:
nhân tố về thể lực (chiều cao, cân nặng, sức chịu đựng…); nhân tố ý thức xã
hội ( tình cảm, tập quán, truyền thống, đạo đức…
1.1.2. Cơ cấu lao động
Cơ cấu lao động là một phạm trù kinh tế, được hình thành, phát triển
trên cơ sở của cơ cấu kinh tế và phản ánh quan hệ tỉ lệ cũng như xu hướng
vận động, phát triển của các yếu tố, bộ phận tạo nên nguồn lao động. Về nội
dung, bao gồm:
 Cơ cấu lao động theo giới tính và độ tuổi
Theo tiêu thức này, người lao động sẽ được chia thành:
Lao động nam và nữ

5


Lao động trong độ tuổi và ngoài độ tuổi lao động
Riêng đối với lao động ngoài độ tuổi lao động lại có thể chia thành lao
động trên và dưới độ tuổi, có khả năng và thực tế có tham gia lao động đã
được quy đổi thành lao động tiêu chuẩn.
 Cơ cấu lao động theo ngành, nghề
Là quan hệ tỉ lệ cũng như xu hướng vận đông, phát triển của các loại
lao động có ngành nghề khác nhau ở nông thôn. Cũng như cơ cấu kinh tế
ngành, cơ cấu lao động theo ngành, nghề là kết quả của sự phát triển phân
công lao động theo ngành nghề.
Nếu phân chia theo ngành kinh tế - kĩ thuật, cơ cấu lao động sẽ bao
gồm: lao động ở ngành nông nghiệp, lao động ở ngành công nghiệp, xây
dựng; lao động ở ngành dịch vụ và lao động ở ngành nghề khác. Trong nội
bộ từng ngành, lao động lại được chia thành những ngành hẹp hơn như: trong

thành phần kinh tế tập thể, lao động làm việc trong thành phần kinh tế tư bản
nhà nước, lao động làm việc trong thành phần kinh tế tư nhân và lao động làm
việc trong thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Về mặt pháp lí, các
loại lao động này đều bình đẳng trước pháp luật và cũng có quyền, nghĩa vụ
riêng của mình.
 Cơ cấu lao động theo yếu tố sử dụng nguồn lao động
Đây là cơ cấu hình thành trên cơ sở căn cứ vào mức độ tham gia lao
động của các bộ phận hợp thành nguồn lao động. Theo đó cơ cấu lao động
theo tiêu chí này sẽ bao gồm:
Dân số hoạt động kinh tế: là những người từ 15 tuổi trở lên đang hoặc
không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc. Đây chính là lực lượng lao
động, bộ phận này thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nguồn lao động hiện
có ở thời điểm hiện tại.
“Dân số không hoạt động kinh tế, gồm những người 15 tuổi trở lên
không thuộc bộ phận có việc làm và không có việc làm vì các lí do như: đang

7


học, làm nội trong gia đình, già cả, ốm đau,tàn tật, mất sức lao động và đang
ở các tình trạng khác”[23, tr. 15].
 Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn kĩ thuật
Là quan hệ tỉ lệ cũng như xu hướng biến động giữa các loại lao động có
trình độ chuyên môn kĩ thuật khác nhau. Theo đó lao động bao gồm các cơ
cấu sau:
Cơ cấu theo trình độ văn hóa, bao gồm các loại như: lao động đã tốt
nghiệp phổ thông trung học, lao động đã tốt nghiệp cấp II, lao động có trình
độ văn hóa hết cấp I, lao động chưa biết đọc, biết viết.
Cơ cấu theo trình độ chuyên môn kĩ thuật, lao động lại được chia thành:
lao động không có chuyên môn kĩ thuật và lao động có chuyên môn kĩ thuật.

 Điều kiện tự nhiên
Nhóm này bao gồm: vị trí địa lí, địa hình, khí hậu, hệ sinh thái, tài
nguyên thiên nhiên… nhóm nhân tố này có ý nghĩa quan trọng và tác động
trực tiếp đến sự hình thành, vận động và biến đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao
động nông thôn.
 Tiến bộ khoa học - công nghệ
Đây là nhân tố cơ bản quyết định đến quy mô và trình độ chuyển dịch
cơ cấu lao động. Tiến bộ khoa học - công nghệ đã làm giảm mức chi phí lao
động cho đơn vị sản phẩm, qua đó làm tăng năng xuất lao động. Việc áp dụng
kĩ thuật mới đã làm tăng được quy mô sản lượng đầu ra trong khi quy mô đầu
vào lao động không thay đổi. Tóm lại, việc ứng dụng kĩ thuật mới vào sản
xuất sẽ tạo ra khả năng to lớn để tăng năng xuất lao động, qua đó tạo ra tiền
đề vật chất để có thể di chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các
ngành, nghề khác.
 Vốn đầu tư
Vốn đầu tư là các nguồn lực tài chính và phi tài chính của các chủ thể
kinh tế được đưa vào hoạt động đầu tư và nhằm tạo năng lực sản xuất mới

9


hoặc tăng năng lực sản xuất sản xuất sẵn có với mục đích sinh lợi. Vốn đầu tư
được chia thành các loại:
Tiền vốn dùng mua sắm tài sản cố định.
Tiền vốn dùng mua sắm tài sản lưu động và dự trữ tiền mặt để thanh
toán trả công lao động.
Tiền vốn chi phí cho việc chuẩn bị đầu tư: khảo sát, xây dựng dự án
đầu tư, làm thủ tục cấp giấy phép…trong đó riêng phần tỉ trọng vốn đầu tư
dùng cho mua sắm tài sản cố định đang ngày càng có xu hướng phát triển
trong cơ cấu vốn đầu tư.

học - công nghệ. Do đó, việc nhận thức đúng đắn khái niệm này trong từng
giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội có ý nghĩa to lớn cả về lí luận và
thực tiễn.
Kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại, rút những
kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành công nghiệp hóa và từ thực tiễn công
nghiệp hóa ở Việt Nam trong thời kì đổi mới, Hội nghị Ban chấp hành Trung
ương lần thứ 7 khóa VI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng
sản Việt Nam xác định:
“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn
diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế - xã hội từ
sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức
lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại
dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm
tạo ra năng xuất lao động xã hội cao”[3 ,tr.281 ].
Mỗi phương thức sản xuất xã hội chỉ có thể được xác lập vững chắc
trên cơ sở vật chất - kĩ thuật tương ứng. Cơ sở vật chất - kĩ thuật của một xã
hội là toàn bộ các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội phù hợp với
trình độ kĩ thuật tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất
ra của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội.
Nhiệm vụ quan trọng nhất của nước ta trong thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, là phải xây dựng cơ sở vật
chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong đó có công nghiệp và nông nghiệp

11


hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Muốn thực hiện thành công nhiệm
vụ quan trọng trên, nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hóa, tức là chuyển
nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp.
Chủ nghĩa xã hội muốn tồn tại và phát triển, cũng cần phải có một nền

xuất nào và trong thời đại ngày nay khi mà các nguồn lực trở lên khan hiếm
thì nó được xem xét là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, vai trò
của nguồn lao động nói chung và nguồn lao động nông thôn nói riêng là rất
quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước.
Trong nền kinh tế mọi yếu tố đều vận động do đó sự chuyển dịch cơ
cấu lao động trong địa bàn nông thôn là một tất yếu.
Chuyển dịch cơ cấu lao động là sự thay đổi tăng, giảm của từng bộ
phận trong tổng số lao động, theo một không gian và khoảng thời gian nào đó.
Cơ cấu lao động được chuyển dịch tùy theo sự chuyển dịch của cơ cấu
kinh tế, phục vụ và đáp ứng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay đang có sự chuyển dịch theo hướng
CNH, HĐH: tỉ trọng công nghiệp, xây dựng, dịch vụ trong GDP tăng, tỉ trọng
nông - lâm - thủy sản giảm. Do đó, cơ cấu lao động cần thiết phải có sự
chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương khóa X của
Đảng ta đã chỉ rõ: Nông nghiệp, nông thôn và nông dân có vị trí chiến lược
trong sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực
lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định
chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Các vấn đề nông nghiệp,
nông thôn, nông dân phải gắn với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của
quá trình CNH, HĐH đất nước. Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế thị trường

13


định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện từng vùng, từng lĩnh vực
để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao

TRONG ĐỊA BÀN NÔNG THÔN THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Thành tựu của sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong địa bàn nông
thôn theo hướng CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay
Trong thời gian qua, dưới tác động của nhiều nhân tố, cơ cấu lao động
nông thôn đã có những thay đổi nhất định.
Sự đổi mới của cơ chế quản lí trong nông nghiệp đã tạo ra động lực
cho sự phát triển, bởi vì nó mang lại lợi ích trực tiếp cho người nông dân, giải
quyết được phần lớn sức sản xuất ở nông thôn và phát huy tiềm năng to lớn
của người nông dân. Cùng với chủ trương thực hiện chế độ khoán sản phẩm,
chủ trương giao quyền sử dụng đất lâu dài cho nông dân với năm quyền cụ
thể, chúng ta đã kích thích nông dân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, kinh
doanh và sử dụng đất có hiệu quả. Chính cơ chế thị trường đã thiết lập một
mô hình việc làm mới, tạo nhiều cơ hội cho người lao động. Ở đây người
nông dân có quyền tiếp cận trực tiếp đến các nhu cầu của thị trường ngày
càng mở rộng. Có thể nói yếu tố quan trọng để tăng sản lượng và năng suất
trong thời gian qua là tăng cường tổng các yếu tố sản xuất mà trước hết là sự
nỗ lực của người nông dân. Điều này khẳng định tiềm năng về lao động ở
nông thôn đã được phát huy và đã mang lại những hiệu quả không nhỏ: duy
trì tốc độ tăng trưởng liên tục trên 5%, giải quyết vấn đề lương thực, trở thành
nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới, đóng góp phần quan trọng vào xuất
khẩu của đất nước. Tính chung cả năm 2009, giá trị sản xuất nông - lâm - thủy
sản đạt 219,9 nghìn tỉ đồng, tăng 3% so với năm 2008.

15


Cơ cấu lao động nông thôn đã và đang có sự chuyển dịch theo hướng
CNH, HĐH với nội dung cụ thể:

Đông Nam Bộ và tiếp theo là đồng bằng sông Hồng. Ở hai vùng này, số hộ
nông - lâm - thủy sản đều dưới 50% tổng số hộ nông thôn, đặc biệt vùng
Đông Nam Bộ chỉ chiếm chưa đến 40%.
Bên cạnh đó, cũng theo kết quả của cuộc Tổng điều tra, lao động trong
độ tuổi có khả năng lao động ở khu vực nông thôn hoạt động nông - lâm thủy sản là 59,6% giảm đáng kể so với mức 70,4% của năm 2006 và 79,6%
của năm 2001; tỉ trọng lao động công nghiêp, xây dựng lần lượt ở các năm
2011, 2006, 2001 là 18,4%, 12,5%, và 7,4%, tỉ trọng lao động dịch vụ là
20,5%, 15,9% và 11,9% ở 3 năm tương ứng. Như vậy, tỉ trọng lao động công
nghiệp, xây dựng đã tăng 11% (2001 - 2011): tỉ trọng lao động dịch vụ tăng
8,6% (2001- 2011) còn tỉ trọng lao động nông - lâm - thủy sản đã giảm đáng
kể 20 % (2011- 2001) ( theo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy
sản năm 2011).
Trong nội bộ ngành cũng có sự chuyển biến tích cực, cụ thể: nội bộ
ngành nông - lâm - thủy sản chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng lao động
hoạt động nông nghiệp, tăng lao động hoạt động lâm nghiệp và thủy sản.
Tại thời điểm ngày 1 - 7 - 2011 cả nước có khoảng 10,37 triệu hộ nông lâm - thủy sản; trong đó: hộ nông nghiệp chiếm 9,6 triệu hộ, hộ thủy sản gần
720 nghìn hộ, hộ lâm nghiệp có gần 57 nghìn hộ. So với năm 2006, tính
chung số hộ nông - lâm - thủy sản đã giảm 0,9%, trong đó: hộ nông nghiệp
giảm 1,5% song hộ lâm nghiệp tăng 65,6% và hộ thủy sản tăng 4,6% ( theo
Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011).
 Trình độ chuyên môn kĩ thuật của lao động nông thôn chuyển dịch tích cực:
Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và
chương trình đào tạo nghề cho nông dân. Với sự hỗ trợ của Nhà nước trong

17


việc đào tạo nghề miễn phí, trình độ chuyên môn kĩ thuật của lao động nông
thôn đã nâng lên. Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động có
trình độ chuyên môn kĩ thuật từ sơ cấp trở lên năm 2011 chiếm tỉ lệ 11,2%

người (5,9%) là lao động làm thuê ngoài. Quy mô lao động thường xuyên
bình quân một hợp tác xã là 21,6 người tăng 24,1% so với năm 2006. Các hợp
tác xã có doanh thu bình quân một lao động đạt 38,3 triệu đồng (tăng 33,4%
so với năm 2005). Hoạt động kinh doanh của hợp tác xã nông nghiệp vừa đảm
bảo nguyên tắc thu đủ bù chi lại vừa tạo nền tảng phục vụ sản xuất, kinh tế hộ
và sự phát triển chung của cộng đồng.
2.2. Hạn chế của sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong địa bàn nông thôn
theo hướng CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay
Bên cạnh những thành tựu trên, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
trong địa bàn nông thôn vẫn còn tồn tại không ít hạn chế.
 Tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn còn khá chậm và còn cách
xa so với yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Trong 10 năm, từ 2001- 2011, tỉ trọng lao động hoạt động trong lĩnh
vực nông - lâm - thủy sản mới giảm được 20%, từ khoảng 80% năm 2001
xuống còn khoảng 60% vào năm 2011. Bình quân mỗi năm chỉ giảm được 2%.
Với tốc độ giảm bình quân như những năm qua, thì đến ngày 1 - 7-2020 lao
động nông nghiệp trên địa bàn nông thôn sẽ giảm thêm 18%, tức sẽ còn 42%
lao động nông nghiệp trên địa bàn nông thôn (không đạt tiêu chí số 12 về xã
nông thôn mới). Trong khi đó, cả nước đến năm 2020 phải có đến 50% số xã
đạt tiêu chí xã nông thôn mới, trong đó tiêu chí số 12 là lao động nông nghiệp
còn không quá 35% lao động xã hội trên địa bàn xã.
 Lao động nông thôn chủ yếu vẫn là lao động thuần nông.
Trong tổng số người trong độ tuổi lao động có tham gia hoạt động nông
nghiệp thì lao động chuyên nông nghiệp (thuần nông) chiếm tỉ lệ lớn, tới

19


46%; lao động nông nghiệp kiêm ngành nghề khác chiếm 32,1% và lao động
phi nông nghiệp chiếm 21,9%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status