Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: NguyÔn ThÞ Giang
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
---------------------------------
TRẦN THỊ DUYẾN
ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRONG
GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Người hướng dẫn khoa học
Th.S: NGUYỄN THỊ GIANG
Hà Nội, 2011
SVTH: TrÇn ThÞ DuyÕn
K33A - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Thị Giang
Phần mở đầu
K33A - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Thị Giang
quan hệ xã hội, trong gia đình và phẩm chất cá nhân: lối sống thực dụng tôn
thờ đồng tiền, coi thường đạo đức gia đình đang có chiều hướng gia tăng.
Những chủ trương, biện pháp khắc phục tình trạng nói trên không thể không
đụng chạm tới nhiều vấn đề liên quan đến Nho giáo, nhất là khi Nho giáo đã
từng tồn tại hàng ngàn năm ở nước ta để lại những căn bệnh trầm trọng như:
chủ nghĩa gia đình, tác phong gia trưởng hay là tư tưởng trọng nam khinh nữ.
Với mục tiêu xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, làm
cho gia đình thực sự là tế bào của xã hội, là tổ ấm của mỗi người. Để đạt được
mục tiêu đó thì không thể tách rời việc khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực
của Nho giáo trong gia đình sau đó khai thác những nhân tố tích cực để trở
thành gia đình Việt Nam vừa truyền thống vừa hiện đại. Bởi vậy, tôi đã chọn
đề tài ảnh hưởng của Nho giáo trong gia đình Việt Nam hiện nay làm đề tài
khoá luận của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nho giáo là đề tài được nhiều nhà khoa học trong nước và ngoài nước
nghiên cứu, cho dến nay vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra đi hỏi phải có sự đi sâu
tìm hiểu và khám phá.
ở Việt Nam trong mấy thập kỷ nay, không kể các bài in trên tạp chí,
chỉ nói riêng các công trình nghiên cứu về Nho giáo thì đã có một số lượng
đáng kể như: Tác phẩm Nho giáo (2 tập) của Trần Trọng Kim được xuất
bản trước năm 1930 và từ đó đến nay được tán bản nhiều lần, gần đây nhất là
năm 1992. Đây là bộ sách lớn giới thiệu về lịch sử Nho giáo ở Trung Quốc từ
Khổng Tử cho đến đời Thanh, trong đó có một số trang phụ lục, tóm tắt về sự
Nho giáo đến truyền thống văn hoá Việt Nam; vai trò của Nho giáo trong lịch
sử tư tưởng Việt Nam. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu
về ảnh hưởng của Nho giáo trong gia đình Việt Nam hiện nay.
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã đạt, khoá luận đi sâu nghiên
cứu vấn đề ảnh hưởng của Nho giáo trong gia đình Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Khoá luận làm rõ ảnh hưởng của Nho giáo trong gia đình Việt Nam
hiện nay, từ đó góp thêm tiếng nói vào việc tìm giải pháp nhằm phát huy
những ảnh hưởng tích cực và loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo
trong gia đình Việt Nam hiên nay.
* Nhiệm vụ
Để đạt được các mục đích trên khoá luận phải thực hiện các nhiệm vụ
sau:
SVTH: Trần Thị Duyến
K33A - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Thị Giang
- Tìm hiểu về Nho giáo và gia đình
- ảnh hưởng của Nho giáo trong gia đình Việt Nam hiện nay trên một
số lĩnh vực
- Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế
ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo trong gia đình Việt Nam hiện nay
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Phần nội dung
Chương 1: Lý luận chung
1.1. Nho giáo
1.1.1. S ra i v quỏ trỡnh du nhp, phỏt trin Nho giỏo Vit Nam
* Sự ra đời của Nho giáo
Nho giáo ra đời trong hoàn cảnh tình hình kinh tế xã hội ở Trung Quốc
thời Xuân Thu - Chiến Quốc (770-221 trCN) có nhiều diễn biến phức tạp.
Thời cổ Trung Quốc đã trải qua các triều đại: Nhà Hạ, nhà Thương, nhà
Chu.
Nhà Hạ được mở đầu bằng sự cai trị của vua Võ và kết thúc bằng sự lật
đổ vua Kiệt của Thành Khang (khoảng thế kỷ thứ XXII - XVIII Tr.CN)
Nhà Thương (khoảng từ thế kỷ thứ XVIII đến thế kỷ XII Tr.CN) đứng
đầu là vua Thành Khang đặt đô ở đất Bạc tỉnh Hà Nam bây giờ
Nhà Chu chia làm hai thời kỳ: Tây Chu (1135-770 Tr.CN) và Đông
Chu (770-221 Tr.CN) hay thời Xuân Thu - Chiến Quốc.
Khoảng thế kỷ XI Tr.CN con trai của Chu Văn Vương là Chu Vũ
Vương đã diệt vua Trụ của nhà Thương lập nên nhà Chu, đóng đô ở Thiểm
Tây ngày nay. Đầu nhà Chu có nhiều ông vua sáng suốt như Chu Văn Vương
nổi tiếng là trọng hiền tài, Chu Công có tài tổ chức việc nước. Đây là thời kỳ
cực thịnh của nhà Chu.
Nhà Chu chia thiên hạ thành hơn 70 nước để phong cho những công
thần và con cháu làm chư hầu. Những nước chư hầu ấy đều được quyền tự chủ
nhưng hàng năm phải tiến công cho Thiên tử nhà Chu và khi có chinh phạt ở
đâu thì phải theo mệnh lệnh Thiên tử đem quân đi tòng chinh. Khi nhà Chu
còn thịnh thì trật tự ấy còn phân minh. Đến thời U Vương lên ngôi vua ăn chơi
trụy lạc nhà Chu suy nhược phải rời đô sang Lạc ấp (tỉnh Hà Nam ngày nay)
thì mệnh lệnh Thiên tử không ai theo, các chư hầu phân ra 160 nước, chiến
tranh ngày càng kịch liệt, cương thường đổ nát, nhân dân đồ thán, chư hầu ai
SVTH: Trần Thị Duyến
Kết quả của những biến động kinh tế đã dẫn đến sự đa dạng trong kết
cấu giai tầng của xã hội, nhiều giai tầng mới xuất hiện, cũ - mới đan xen và
mâu thuẫn ngày càng trở nên ngay ngắt điển hình là những mâu thuẫn sau:
Một là, mâu thuẫn giữa tầng lớp mới lên có tư hữu tài sản, địa vị kinh tế
trong xã hội mà không được tham gia chính quyền với giai cấp quý tộc, thị
tộc cũ của nhà Chu đang nắm chính quyền.
SVTH: Trần Thị Duyến
K33A - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Thị Giang
Hai là, mâu thuẫn giữa tầng lớp sản xuất nhỏ, thợ thủ công, thương
nhân với giai cấp quý tộc, thị tộc Chu. Trong bản thân giai cấp quý tộc, thi tộc
Chu có một bộ phận tách ra và chuyển hóa lên giai cấp mới, một mặt họ muốn
bảo lưu nhà Chu, mặt khác không hài lòng với trật tự hiện có và muốn cải biến
nó bằng con đường cải cách. Tầng lớp tiểu quý tộc, thị tộc một mặt họ đang bị
một tầng lớp mới lên tấn công về chính trị, kinh tế, mặt khác họ cũng có mâu
thuẫn với tầng lớp đại quý tộc đang nắm giữ chính quyền.
Ba là, mâu thuẫn giữa nông dân công xã thuộc các thị tộc bị nhà Chu nô
dịch và tâng lớp mới đang lên ra sức bóc lột tận cùng sức lao động của họ.
Đó là những mâu thuẫn chủ yếu của thời kỳ lịch sử đang đồi hỏi giải
thể chế độ nô lệ thị tộc của nhà Chu, hình thành xã hội phong kiến, đòi hỏi
giải thể nhà nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến nhằm
phát triển lực lượng sản xuất mở đường cho xã hội phát triển.
Sự chuyển biến sôi động của thời đại đã đặt ra và làm xuất hịên những
tụ điểm, những trung tâm các kẻ sĩ luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra
các tiên hiền nhà Nho, đã mở trường Quốc Tử Giám cho con hoàng tộc và con
các nhà quyền quý vào học Nho học, đã tổ chức ra các kỳ thi Nho học để chọn
ra các nhân tài kiểu nhà Nho.
Có thể nói thời nào cũng có hiện tượng du nhập, giai đoạn nào của Nho
học Trung Quốc cũng muốn truyền sang Việt Nam. Thời Bắc thuộc là Hán
nho, thời Đinh, Lê, Lý, Trần là Đường nho, thời Lê sơ là Tống nho, thời Lê
Mạt và Nguyễn là Thanh nho. Nhưng không phải cái gì của Nho học Trung
Quốc cũng đều được bén rễ sinh sôi nảy nở ở Việt Nam: Huyền học ở thời
Nguỵ, Tâm học ở thời kỳ nhà Minh. . . không có dấu ấn ở Việt Nam. Nho học
ở đất nước này chỉ mang những nét của Hán nho và Tống nho.
Nói về Tống nho thì có các nhân vật tiêu biểu: Châu Đôn Di (thế kỷ thứ
X - XI ) là người khởi xướng ra Lý học, Nhị Trình (Trình Hạo và Trình Di) là
những người đặt cơ sở cho Lý học và Chu Hy là người tập đại thành của Lý
học. Trong hệ thống Tống nho của Trung Quốc thì Chu Hy là người quan
trọng hơn cả. Còn ở Việt Nam thì vai trò của Nhị Trình lớn hơn vai trò của
Chu Hy. Người Việt Nam quen nói đạo Nho là đạo của Khổng sân trình gọi
Nguyễn Bỉnh Khiêm là Nho Việt Nam lớn nhất thế kỷ XVI là Trạng Trình.
Ngay một sử gia Trung Quốc cũng nói: An Nam lý học hữu trình tuyền (tiêu
biểu cho Lý học ở Việt Nam là từ suối Trình mà ra). Cách nhận định này là có
lý do của nó. Người Việt Nam nói nhiều tới lý, thiên lý là những khái
SVTH: Trần Thị Duyến
K33A - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Thị Giang
K33A - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Thị Giang
để giải quyết cái nào có trước, cái nào có sau. ở đây không phải do người Việt
Nam không có khả năng tư duy trừu tượng mà là do hoàn cảnh lịch sử và địa
lý tạo nên.
Nho học ở Trung Quốc bao gồm cả nhân sinh quan, xã hội quan và vũ
trụ quan nhưng Nho học ở Việt Nam thì chú ý nhiều đến nhân sinh quan và xã
hội quan. Nó chú ý tới những tác phẩm kinh điển nào của Nho nói nhiều về
nhân sinh quan và đạo đức như: Tác phẩm Tứ Thư (Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại
Học, Trung Dung), Trung Kinh, Hiếu Kinh.
Nho giáo không phải là một học thuyết toàn diện nó không đáp ứng
được mọi mặt yêu cầu của con người xã hội phong kiến phương Đông. Mặt
thiếu của nó thường được Phật, Lão bổ sung. Từ dó, tạo nên lý thuyết Tam
giáo nhất nguyên. Hiện tượng này ở Nho học Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật
Bản đều có. Nhưng ở các nước trên để xác lập nên cục diện nhất nguyên đã
phải trải qua một quá trình đấu tranh rồi mới tiến tới dung hợp. Còn ở Việt
Nam thì từ đầu đã xuất hiện sự dung hợp. Ngay ở thời Bắc thuộc ở cuối thế kỷ
thứ II đầu thế kỷ thứ III Mâu Bác đã nêu lên sự cần thiết phải dung hợp ba đạo
trong tác phẩm lý hoặc luận. Đến thời kỳ độc lập thì hầu như triều đại nào
cũng nói đến nhu cầu dung hợp. Đặc biệt ở các thời Lý, Trần (thế kỷ XI, XII,
XIII) và triều Lê - Trịnh (thế kỷ XIII) lý thuyết về dung hợp trình bày rất rõ
ràng.
Tóm lại khảo sát quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam chúng ta
thấy rõ rằng nếu tính từ thời Bắc thuộc thì Nho giáo đã có mặt trên đất nước ta
cả nguyên lý vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lý đó là những
nguyên lý đạo đức do Nho gia đề xướng hoặc như họ tự nhận là phát hiện ra
và cần phải tuân theo). Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có Đạo, tức là
nắm được đạo trời, biết sợ mệnh trời. Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào
con người sẽ được gọi là Mệnh. Cần phải hiểu cơ sở triết lý của Nho giáo mới
nắm được logíc phát triển và tồn tại của nó.
+ Tu thân
Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức... để
làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội. Tam cương và
ngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo. Tam tòng và tứ đức là lẽ đạo
đức mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được tam
cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được an bình.
SVTH: Trần Thị Duyến
K33A - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Thị Giang
1. Tam cương: tam là ba, cương là giềng mối. Tam cương là ba mối
quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng). Trong xã
hội phong kiến, những mối quan hệ này được các vua chúa lập ra trên những
nguyên tắc chết người.
- Quân thần: (Quân xử thần tử, thần bất tử bất tử bất trung nghĩa là:
dù vua có bảo bề tôi chết đi nữa thì bề tôi cung phải tuân lệnh, nếu bề tôi
không tuân lệnh thì bề tôi không trung với vua). Trong quan hệ vua tôi, vua
thưởng phạt luôn luôn công minh, tôi trung thành một dạ.
- Hạnh: nhu mỳ trong tính nết.
Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân:
Thứ nhất, Đạt đạo. Đạo có nghĩa là con đường hay phương cách
ứng xử mà người quân tử phải thực hiện trong cuộc sống. Đạt đạo trong thiên
hạ có năm điều: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn
bè (sách Trung Dung), tương ứng với quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ,
bằng hữu. Đó chính là ngũ thường hay ngũ luân.
Trong xã hội cách cư xử tốt nhất là trung dung. Tuy nhiên, đến Hán
Nho ngũ luân được tập trung lại chỉ còn ba mối quan hệ cơ bản nhất được gọi
là Tam cương hay còn gọi là tam tòng.
Thứ hai, Đạt đức. Quân tử phải đạt được ba đức: nhân, trí, dũng.
Khổng Tử nói: Đức của người quân tử có ba mà ta chưa làm được. Người
nhân không lo buồn, người trí không lo nghi ngại, người dũng không sợ hãi
(sách Luận Ngữ). Về sau, Mạnh Tử thay dũng bằng lễ, nghĩa nên ba đức
trở thành bốn đức: nhân, nghĩa, lễ, trí. Hán nho thêm một đức là tín nên
có tất cả năm đức là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Năm đức này còn gọi là ngũ
thường.
Thứ ba, biết thi, thư, lễ, nhạc. Ngoài các tiêu chuẩn về đạo và đức,
người quân tử còn phải biết thi, thư, lễ, nhạc. Tức là người quân tử còn phải
có một vốn văn hoá toàn diện.
+ Hành đạo
Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làm
chính trị. Nội dung của công việc này được công thức hoá thành tề gia, trị
quốc, thiên hạ bình. Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia đình, cho
đến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên
hạ). Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là
hai phương châm:
SVTH: Trần Thị Duyến
mẹ - con cái).
Tổ chức UNESCO của Liên hợp quốc đã lấy năm 1994 là năm quốc tế
gia đình và khẳng định: Gia đình là yếu tố tự nhiên và cơ bản, một đơn vị kinh
SVTH: Trần Thị Duyến
K33A - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Thị Giang
tế của xã hội. Gia đình coi như một giá trị vô cùng quý báu của nhân loại cần
được giữ gìn và phát huy. UNESCO đã đưa ra định nghĩa về gia đình: Gia
đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống chung và có ngân
sách chung [22, tr.12].
Gần giống với quan niệm của UNESCO có một số quan niệm khác nữa.
Trong cuốn Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người
Việt Nam giáo sư Lê Thi đã nêu ra quan niệm của Levytrauss về gia đình là
một nhóm xã hội được quy định bởi ba đặc điểm trong quan sát thường thấy
nhiều nhất:
-Nó bắt nguồn từ hôn nhân
- Nó bao gồm vợ - chồng - con cái đã phát sinh từ sự hôn phối của đôi
nam nữ, tuy rằng có thể có mặt trong gia đình những họ hàng bà con, con
nuôi, người giúp việc, bạn bè
- Các thành viên của gia đình được gắn kết với nhau bởi các ràng buộc
pháp lý, bởi các nhiệm vụ và quyền lợi có tính chất kinh tế, tôn giáo hay cái
khác, bởi các quan hệ nhất định về quyền và sự cấm đoán tình dục giữa các
thành viên, bởi một tổng hợp có tính chất thay đổi về tình cảm, tâm lý như:
trách nhiệm pháp lý.
Theo từ điển văn hoá gia đình của nhóm tác giả Phạm Thị Dung,
Nguyễn Thu Hà, Phạm Minh Thảo, Từ Thu Hằng, Phạm Thị Hảo biên soạn
khái niệm gia đình được định nghĩa: Gia đình là thiết chế xã hội dựa trên cơ
sở sự kết hợp của những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân để thực
hiện được các chức năng sinh học (sinh đẻ, kinh tế, văn hoá, xã hội). Khi gia
đình đã có con các thành viên được liên kết với nhau vừa bằng quan hệ hôn
nhân vừa bằng quan hệ huyết thống. Gia đình là một phạm trù lịch sử thay đổi
cùng với sự thay đổi của xã hội [6, tr.27-28].
Giáo sư Trần Đình Hượu cho rằng: Gia đình là một tổ chức rất xa xưa,
bắt nguồn từ quan hệ nam nữ, từ việc sinh con đẻ cái rất tự nhiên, về sau trong
lịch sử mới thay đổi thích ứng với phương thức sản xuất, với cơ chế chính trị xã hội, với nền văn hoá [11, tr.25]
Những khái niệm trên về gia đình của các nhà nghiên cứu đều cố gắng
đưa ra một khái niệm bao quát nhất nhằm phản ánh được đầy đủ và khoa học.
Nhưng trong cuộc sống khi nói đến gia đình thì điều đầu tiên là nói đến một
tập hợp người cùng chung sống dưới một mái nhà và giữa họ có mối liên hệ
với nhau bởi quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng, quan hệ huyết thống giữa
cha mẹ và con cái, giữa anh chị em ruột, giữa ông bà và con cháu; một số
người được gia đình nuôi dưỡng gắn bó với nhau về trách nhiệm, nghĩa vụ và
SVTH: Trần Thị Duyến
K33A - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Thị Giang
quyền lợi được họ hàng, làng xóm ủng hộ, được pháp luật thừa nhận và bảo
vệ.
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Thị Giang
Năm mối quan hệ này phản ánh hai mặt của cuộc sống hiện thực đó là
quan hệ gia đình và quan hệ xã hội. Trong xã hội phong kiến mối quan hệ gia
đình được củng cố bằng chế độ tông pháp và chế độ gia trưởng, còn các quan
hệ xã hội thì được duy trì bởi chế độ chính trị đẳng cấp. [1, tr.21]
Đã là gia đình thì phải có vợ - chồng, cha - con, anh - em. Trong gia
đình thì vợ chồng phải hoà thuận, phu xướng thì vợ phải tuỳ, là cha - con thì
cha phải hiền từ biết yêu thương và nuôi dạy con cái, biết làm gương cho con
cái học tập. Ngược lại phận làm con phải biết ghi nhớ công ơn sinh thành
dưỡng dục của cha mẹ, biết hiếu thuận với cha mẹ. Đã là anh em thì phải biết
đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, là anh chị thì phải biết nhường nhịn,
thương yêu, là em thì phải biết nghe lời và lễ phép với anh chị.
Nho giỏo cho rng, gia ỡnh chớnh l mt cỏi nc nh. Vỡ th, nu
"mt nh nhõn hu thỡ c nc nhõn hu. Mt nh l nhng thỡ c nc n
u cú l nhng. Mt ngi tham lam thỡ c nc b ri lon" (i hc,
chng IX). Do ú, mt xó hi mun thanh bỡnh thỡ trc ht cn phi cú
nhng gia ỡnh hũa thun. Gia ỡnh hũa thun l gia ỡnh m mi thnh viờn
luụn quan tõm n nhau, chm lo cho nhau. Trong gia ỡnh ú, v chng sng
hũa thun thng yờu nhau, cựng nhau chm lo nuụi dng dy d con cỏi
nờn ngi. Cha m phi luụn gi gỡn li n ting núi cng nh tỏc phong lm
vic ca mỡnh lm tm gng cho con cỏi noi theo. Ngc li, con cỏi phi
luụn hiu kớnh vi ụng b, cha m, bit phng dng chm súc ụng b, cha
m, bit lm cho ụng b, cha m c rng r v khụng lm vic gỡ khin cho
ụng b, cha m phi ti h vi hng xúm lỏng ging. Mt gia ỡnh ho thun
cũn l mt gia ỡnh m anh em bit bo ban nhau cựng tin b, bit thng
yờu ựm bc ln nhau, bit em ngó thỡ ch nõng.
n nõng cao thu nhp cho ngi dõn. Tc tng trng GDP bỡnh quõn u
ngi Vit Nam trong giai on 1990 - 2002 t trung bỡnh 5,2%. Thu nhp
bỡnh quõn u ngi nm 2007 ca ngi dõn Vit Nam ó t 820
USD/nm. So vi nm 1995, mc thu nhp bỡnh quõn u ngi hin nay ca
Vit Nam ó tng khong 2,8 ln.
T l nghốo úi cú xu hng gim mnh. Trờn c s kinh t tng
trng nhanh, mc nghốo úi ca dõn c gim mnh. Nm 2006, t l h
nghốo Vit Nam l 18,1% (tớnh theo chun nghốo quc t) v c th gii
ỏnh giỏ l thnh cụng trong vic chng nghốo úi.
Ch s phỏt trin con ngi (HDI) ca Vit Nam tng lờn ỏng k. Nh
chỳ trng giỏo dc - o to, chm súc sc khe, hn ch t l sinh, nờn ch s
SVTH: Trần Thị Duyến
K33A - GDCD
Khãa luËn tèt nghiÖp
GVHD: NguyÔn ThÞ Giang
phát triển con người của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể. Năm 2006, HDI
của Việt Nam đạt 0,709, cao hơn nhiều nước có cùng trình độ phát triển kinh
tế.
Đời sống kinh tế, sinh hoạt của người dân ngày càng được cải thiện.
Đến nay ở Việt Nam có 89,4% xã đã có điện, 94,6% xã có đường trải nhựa,
98,9% xã có trường tiểu học và 99% các xã có trạm y tế. Nhiều mục tiêu đề ra
đã đạt được hoặc vượt mức như tỷ lệ chết ở trẻ em dưới 1 tuổi chỉ còn 2,1%,
tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi còn 25%, tỷ lệ thôn bản có cán bộ y tế
cộng đồng đạt 79,8%. Tuổi thọ của người dân (năm 2006) đạt 71,3 tuổi.
Đã nhìn thấy nguy cơ Quốc nạn tham nhũng và đói nghèo là những yếu
tố quyết định sự tồn vong của Đảng cầm quyền.
Tuy nhiên, tinh hình chính trị cũng còn có những điều bất cập như:
Vẫn còn mang tính hình thức, thiếu thực tiển khoa học, nói không đi
đôi với việc làm, hiệu quả thực tiển chưa có, gây thiếu niềm tin đối với quần
chúng nhân dân.
Cải cách chính trị nữa vời, vẫn còn hình thức "con vua thì được làm
vua", hiện tượng bè phái vẫn xãy ra từ trung ương đến cấp cơ sở, độc diển
bầu cử vẫn tiếp diển.
Thiếu hiệu quả chống tham nhũng, có biểu hiện bao che qua các vụ án
vinashin, chủ tịch Hà Giang, những vụ công an bắn dân....
Một mặt xoa dịu dư luận , một mặt gia tăng đàn áp những chính kiến
đối lập, cũng như tôn giáo, tấn công các trang mạng chính trị đối lập, dùng
những thông tin giả gây nhiễu loạn thông tin lề trái.
Chưa bảo vệ được người dân đi lao động nước ngoài hoặc các công
nhân lao động bị bóc lột , chèn ép tại các Công ty tư nhân. Chưa khắc phục
được tình trạng buôn người: lấy chồng Đài loan , Hàn quốc , làm mại dâm
Cam Pốt và Mã Lai...
Báo chí vẫn tiếp tục đưa các tin tức giật gân, phi văn hóa để thu hút
khách, các chương trình chính trị thiếu khoa học thực tiển tiếp tục ru ngủ tầng
lớp sinh viên và giới trẻ
Tiếp tục nhượng bộ Trung Quốc 1 cách vô nguyên tắc để bảo vệ chế độ
Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế trong những năm qua cùng nới
những biến động về chính trị đã ảnh hưởng lớn đến gia đình Việt Nam hiện
nay
SVTH: TrÇn ThÞ DuyÕn
K33A - GDCD
đặt một cách vũ đoan, gia trưởng.
Ba là, hiện nay, trong gia đình, uy quyền độc đoán của người gia
trưởng, người chủ gia đình đang dần được dẹp bỏ. Những gia đình vẫn cần có
SVTH: TrÇn ThÞ DuyÕn
K33A - GDCD