TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
ĐINH TIẾN LỊCH
SỰ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT
HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI VÀO
SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
HÀ NỘI - 2012
1
LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị
Thùy Linh đã tận tình giúp đỡ tôi về mặt chuyên môn, hướng nghiên cứu,
cách tổ chức, triển khai và hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính
trị Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình dạy dỗ tôi trong suốt thời
gian học tại trường .
Đặc biệt tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và người
thân đã giúp đỡ, tạo điều kiện giúp cho tôi rất nhiều mặt trong khóa học
của mình.
2.3. Xây dựng hoàn thiện hệ thống kiến trúc thượng tầng định hướng xã hội
chủ nghĩa ............................................................................................................ 41
2.4. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ và xây
dựng chủ nghĩa xã hội ........................................................................................ 48
2.5. Giải quyết những vấn đề văn hóa - xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh ................................ 50
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 55
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Học thuyết hình thái kinh tế xã hội là lý luận cơ bản của chủ nghĩa duy
vật lịch sử do C.Mác xây dựng nó có vị trí quan trọng trong triết học Mác
Lênin. Học thuyết đã được thừa nhận về mặt lý luận và phương pháp luận
trong việc nghiên cứu các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội. Nhờ có học
thuyết hình thái kinh tế xã hội lần đầu tiên trong lịch sử loài người. C.Mác đã
chỉ ra rằng nguồn gốc sâu xa của sự vận động và phát triển của các hình thái
kinh tế xã hội. Học thuyết còn chỉ ra cho chúng ta nghiên cứu một cách đúng
đắn và khoa học sự vận hành của xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất
định cũng như tiến trình vận động lịch sử nói chung của loài người.
Ngày nay đứng trước sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông
Âu và Liên Xô, lý luận hình thái kinh tế xã hội tự phê phán từ nhiều phía. Sự
phê phán đó không phải từ phía kẻ thù của chủ nghĩa Mác mà ngay cả một số
người đã từng theo chủ nghĩa Mác. Họ cho rằng học thuyết hình thái kinh tế xã hội đã lỗi thời phải thay thế bằng một lý luận khác chẳng hạn như lý luận
về các nền văn minh trên thế giới. Chính vì vậy việc làm rõ thực chất học
thuyết hình thái kinh tế xã hội giá trị khoa học và giá trị thời đại đang là đòi
hỏi cấp thiết hiện nay.
đúng đắn phù hợp quy luật khách quan. Và cuốn sách “Học thuyết Mác về
hình thái kinh tế xã hội và lý luận về con đường phát triển chủ nghĩa xã hội ở
nước ta của Tiến sĩ Phạm Văn Chung (Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2006).
Tác giả đã nêu lên quá tình hình thành và phát triển học thuyết Mác về hình
thái kinh tế xã hội và đưa ra được nội dung khoa học của học thuyết hình thái
kinh tế xã hội và vai trò của nó đối với chủ nghĩa xã hội khoa học, tác giả còn
đưa ra lý luận về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở nước ta dưới ánh
sáng và phương pháp luận của học thuyết hình thái kinh tế xã hội.
6
Một số chuyên luận và công trình đề cập đến lý luận hình thái kinh tế
xã hội như: “Lý luận hình thái kinh tế xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở nước ta” của giáo sư Đặng Hữu Toàn (Tạp chí triết học, 2003, số 8) đã
nêu lên nội dung cơ bản của lý luận hình thái kinh tế xã hội và chứng minh
con đuờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là tất yếu... và còn nhiều bài viết
và công trình nghiên cứu khác. Nhìn chung các học giả đã nghiên cứu dưới
những góc độ khác nhau về nội dung của học thuyết hình thái minh tế xã hội.
Tuy nhiên, chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách rõ ràng sự vận dụng học
thuyết này vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì vậy với
mong muốn tìm hiểu nội dung học thuyết hình thái kinh tế xã hội và vận dụng
nội dung đó vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
nên tác giả dã lựa chọn đề tài “Sự vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội
vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu.
3. Mục đích, nhiệm vụ, nghiên cứu của đề tài
a) Mục đích
Góp phần tìm hiểu sự vận dụng thuyết hình thái kinh tế xã hội vào
công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay.
b) Nhiệm vụ
NỘI DUNG
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI
1.1. Khái niệm, kết cấu và nội dung của học thuyết hình thái kinh tế
xã hội
1.1.1. Khái niệm
Bằng những luận cứ khoa học của mình C,Mác đã đưa ra khái niệm về
hình thái kinh tế - xã hội: “Hình thái kinh tế xã hội là một phạm trù của chủ
nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định
với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình
độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương
ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy” [9; tr 363].
Như vậy là có thể nói hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống hoàn
chỉnh có cấu trúc phức tạp trong đó có các mặt cơ bản là lực lượng sản xuất,
quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Mỗi mặt của hình thái kinh tế - xã
hội có vị trí riêng nhưng chúng tác động qua lại và thống nhất với nhau. Và
rõ ràng không thể đồng nhất hình thái kinh tế xã hội với xã hội nói chung
hoặc với một xã hội cụ thể, bởi vì xã hội thì hoặc là chỉ sự liên hệ tác động lẫn
nhau giữa người với người mà thôi trong khi đó hình thái kinh tế xã hội tức
chế độ xã hội là một hệ thống những yếu tố những liên hệ tất yếu làm thành
“bộ xương” của toàn bộ cơ thể xã hội cụ thể. Không chỉ vậy hình thái kinh tế
- xã hội còn là cái chung đặc trưng cho những xã hội cụ thể thuộc một giai
đoạn lịch sử nhất định. “Đối với những yếu tố và những liên hệ tất yếu làm
thành “bộ xương” của hình thái kinh tế xã hội được vì những yếu tố đó và
9
phục tự nhiên để sản xuất ra của cải vật chất, đảm bảo sự sinh tồn, phát triển
của con người và xã hội loài người.
Trong quá trình sản xuất, con người chinh phục tự nhiên bằng sức
mạnh hiện thực của mình đó là sức mạnh cơ bắp và sức mạnh trí tuệ. C.Mác
viết “Để chiếm hữu được thực thể của tự nhiên dưới một hình thái có ích cho
đời sống của bản thân mình con người vận dụng những sức tự nhiên thuộc về
thân thể họ: tay và chân, đầu và hai bàn tay” [6; tr 266]. Tổng hợp những sức
mạnh của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên, tức là sức mạnh của
sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất được chủ nghĩa duy vật
lịch sử khái quát khai niệm lực lượng sản xuất như đã trình bày ở trên.
Như vậy là có thể khái quát lại nội dung chính của khái niệm lực lượng
sản xuất như sau: lực lượng sản xuất là một mặt của phương thức sản xuất,
biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất là
tổng hợp sức mạnh hiện thực của con người (người lao động và tư liệu sản
xuất) trong quá trình chính phục giới tự nhiên thực hiện việc sản xuất xã hội.
Lực lượng sản xuất được cấu thành từ ba yếu tố cơ bản là người lao
động và tư liệu sản xuất, khoa học công nghệ.
Thứ nhất, người lao động: với tính cách là một bộ phận của lực lượng
sản xuất, người lao động là những người có khả năng lao động, tức là phải có
những phẩm chất: sức mạnh trí tuệ, sức mạnh thể chất, kinh nghiệm và kỹ
năng lao động... Ở những thời đại khác nhau, các phẩm chất trên cũng có
những vai trò khác nhau: trong các xã hội tiền tư bản khi lực lượng sản xuất
còn ở trình độ thủ công yếu tố thể chất nổi bật hơn cả; Trong xã hội tư bản
yếu tố kinh nghiệm và kỹ năng lao động trở nên đặc biệt quan trọng để phục
vụ cho những dây chuyền sản xuất công nghiệp, điều khiển các loại máy móc;
hiện nay khi lực lượng sản xuất ngày càng hiện đại tin học hoá, hiện đại
hoá thì yếu tố tri thức đóng vai trò đặc biệt quan trọng, lao động của con
11
12
đai (theo quan điểm kinh tế, danh từ này bao gồm cả nước nữa) lúc đầu bảo
đảm cho con người thức ăn những tư liệu sinh hoạt sẵn có tồn tại với tư cách
là đối tượng lao động phổ biến của con người mà không cần sự tác động nào
của con người. Tất cả những vật mà lao động chỉ có việc bứt ra khỏi mối
quan hệ trực tiếp giữa chúng với đất đai đều là những đối tượng lao động do
tự nhiên cung cấp” [6; tr 267].
Ngoài những đối tượng lao động có sẵn trong tự nhiên, con người tạo
ra đối tượng lao động. Những đối tượng lao động do con người tạo được gọi
là nguyên liệu. Việc sáng tạo ra đối tượng lao động xuất phát từ nhu cầu con
người, khi mà những đối tượng lao động trong tự nhiên không còn đáp ứng
được hoặc không đủ đáp ứng cho sự phát triển sản xuất nữa. Đối tượng lao
động do con người sáng tạo ra cũng chính là những đối tượng lao động trong
tự nhiên nhưng đã qua sơ chế, nó mang dấu ấn của lao động. C.Mác phân biệt
hai loại đối tượng này như sau: “Mọi nguyên liệu đều là đối tượng lao động,
nhưng không phải mọi đối tượng lao động đều là nguyên liệu. Đối tượng lao
động chỉ trở thành nguyên liệu sau khi đã trải qua một sự biến đổi nào đó do
lao động gây ra” [6; tr 268].
Trong quá trình sản xuất để cải biến đối tượng lao động thành những
sản phẩm thoả mãn nhu cầu của mình, mọi người phải sử dụng tư liệu lao
động. Nếu đặt đối tượng lao động ở một cực, người lao động ở một cực thì tư
liệu lao động là khâu trung gian giữa hai cực đó. Theo Mác “nhờ những tư
liệu lao động, sự hoạt động của con người làm cho đối tượng lao động phải
biến đổi theo một mục đích đã định trước” [6; tr 271].
Vậy tư liệu lao động là gì? Theo C.Mác “Tư liệu lao động là một vật
hay toàn bộ những vật mà con người dặt ở giữa họ và đối tượng lao động và
được họ đặt làm vật truyền dẫn hoạt động vào đối tượng ấy” [6; tr 268]. Với
ý nghĩa như vậy tư liệu lao động gồm các yếu tố cơ bản sau: các công cụ lao
nền sản cuất xã hội “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải là ở chỗ
14
chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với
những tư liệu lao động nào” [6; tr 269].
Thứ ba, khoa học – công nghệ: Khoa học và công nghệ đang là lực
lượng sản xuất vật chất trực tiếp trong thời đại ngày nay. Cùng với sự phát
triển của nền sản xuất xã hội thì khoa học công nghệ ngày càng có vai trò to
lớn khoa học thâm nhập vào mọi yếu tố của quá trình sản xuất: từ người lao
động (với trình độ khoa học ngày càng cao) đến tư liệu sản xuất đặc biệt là
công cụ lao động, khoa học phát triển dẫn đến sự ra đời của nhiều ngành sản
xuất mới, máy móc thiết bị mới, công nghệ mới, nguyên vật liệu mới, năng
lượng mới... Do đó nó có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển mạnh mẽ,
năng suất lao động ngày càng tăng thậm chí khoa học đã trở thành một
phương tiện để sản sinh ra của cải. C.Mác viết: “chỉ đến khi xuất hiện phương
thức tư bản chủ nghĩa thì khoa học mới trở thành một nghề nghiệp về phương
tiện sản sinh ra của cải, phương tiện làm giàu” [15; tr 37]. Trong những thập
kỷ qua, cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra như vũ bão trên khắp
thế giới đã tạo được bước nhảy vọt trong lực lượng sản xuất, mở ra kỷ
nguyên mới cho nền sản xuất xã hội với việc phát triển và ứng dụng công
nghệ tự động hoá và hàng loạt công nghệ tiên tiến khác. Trong cuộc cách
mạng này thì quá trình cách mạng khoa học công nghệ đi trước một bước
đóng vai trò dẫn đường và chi phối mạnh mẽ đối với sản xuất nói chung.
Chính sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang
gây ra những biến đổi lớn trong xã hội nói chung và nền sản xuất vật chất nói
riêng. Chẳng hạn như với người lao động họ không chỉ được giải phóng khỏi
các chức năng thực hiện mà cả chức năng kiểm tra, quản lý trong quá trình
sản xuất, con người ngày càng không phải tham gia vào quá trình sản xuất
Vậy là khoa học công nghệ là một thành phần quan trọng của lực lượng
sản xuất, một mặt đã trang bị cho con người những tri thức ngày càng đầy đủ
rõ ràng và sâu sắc với đối tượng lao động và mặt khác đã vật thể hoá các tri
16
thức đó thành công cụ sản xuất. Ngoài ra do những đặc điểm về sinh học – xã
hội, con người trong sản xuất đã vốn có sức mạnh về thể chất (sức mạnh cơ
bắp) và sức mạnh về trí tuệ đây luôn là những yếu tố quyết định của lực
lượng sản xuất. Ngày nay khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp thì người chức năng là chủ thể của quá trình sản xuất, con người còn là
đối tượng khai thác của chính bản thân mình. Sức mạnh trí tuệ của con người
trở thành nguồn năng lượng vô tận của sự biến đổi khoa học công nghệ và
sản xuất, là nguồn lực của mọi nguồn lực trong quá trình phát triển tiếp tục
của xã hội.
Khoa học công nghệ còn là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Khái niệm: “Trình độ của lực
lượng sản xuất nói lên khả năng của con người thông qua việc sử dụng công
cụ lao động thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải
biến giới tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình.
Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở: trình độ của công cụ lao động,
trình độ tổ chức lao động xã hội; trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất;
kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người; trình độ phân công lao
động” [9; tr 444]. Thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là
năng suất lao động xã hội, đây chính là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá sự tiến
bộ xã hội nó cũng là nguyên nhân cuối cùng quyết định sự thắng lợi của một chế
độ xã hội. Chính vì ý nghĩa lớn lao đó của năng suất lao động mà Lênin đã
khẳng định: “Năng suất lao động là một trong những nhiệm vụ cơ bản, bởi vì
không có nó thì không thể chuyển hẳn lên chế độ cộngsản được” [12; tr 120].
thô sơ này không bắt buộc phải tập trung vào nhiều người để cùng sản xuất
ra một sản phẩm, mà chỉ cần một người vẫn có thể sản xuất được cho nên
lực lượng sản xuất có tính chất cá thể. Nhưng khi máy móc xuất hiện đòi hỏi
phải sản xuất dây chuyền phải có nhiều người cùng lao động theo sự vận động
của máy móc, làm những phần việc khác nhau, do đó đòi hỏi quá trình lao
18
động phải xã hội hoá thì mới tạo ra sản phẩm được. Sản phẩm làm ra không
thể nào là kết quả của một người mà là của nhiều người. Lúc này lực lượng
sản xuất thay đổi tính chất của nó. Như vậy là tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất không tách rời nhau trình độ nào thì tính chất ấy, ở trình độ
thủ công thì phổ biến là tính chất cá nhân, ở trình độ cơ khí công nghiệp thì
phổ biến là tính chất xã hội hoá. Do vậy khi nói đến trình độ của lực lượng sản
xuất cũng đã phần nào bao hàm cả tính chất của nó.
Như vậy với tư cách là tổng hợp sức mạnh hiện thực của con người
trong quá trình chinh phục tự nhiên là sự kết hợp giữa người lao động với tư
liệu sản xuất, lực lượng sản xuất chính là nội dung của sự sản xuất xã hội.
1.1.2.2. Quan hệ sản xuất
Cũng là một mặt của phương thức sản xuất nhưng nếu như lực lượng
sản xuất là khái niệm biểu thị mặt thứ nhất của mối quan hệ song trùng, của
bản thân sự sản xuất xã hội - quan hệ giữa con người với tự nhiên thì quan hệ
sản xuất chính là sự biểu thị mặt thứ hai của quan hệ đó quan hệ của con
người với con người trong sản xuất.
Quá trình sản xuất của xã hội chỉ có thể diễn ra một cách bình thường
khi mối quan hệ giữa người với người tồn tại thống nhất giữa mối quan hệ
giữacon người với tự nhiên. Mác khẳng định: “Trong sản xuất người ta không
chỉ quan hệ với tự nhiên. Người ta không thể sản xuất được nếu không kết
hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và trao đổi hoạt
Trong ba mặt của quan hệ sản xuất thì quan hệ giữa người với người trong
việc sở hữu tư liệu sản xuất là quan hệ cơ bản nhất nó là cơ sở của các quan
hệ sản xuất, quyết định các quan hệ khác trong xã hội.
Quan hệ sở hữu là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc chiếm
hữu các tư liệu sản xuất. Tính chất của quan hệ sản xuất phục thuộc vào chỗ
những tư liệu sản xuất cơ bản là sở hữu của ai. Quan hệ sở hữu đối với tư
liệu sản xuất (biểu hiện thành chế độ sở hữu) là đặc trưng cơ bản của mỗi
20
hình thái kinh tế xã hội nhất định, từ quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất sẽ
hình thành nên quan hệ khác trong hệ thống quan hệ sản xuất của một chế độ
xã hội nhất định. Khi phương thức sản xuất thay đổi thì quan hệ sở hữu
cũng thay đổi theo, lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định sẽ xác lập
nên một quan hệ sở hữu tương ứng với nó. Theo Mác trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất của một dân tộc biểu lộ ra rõ nhất ở trình độ phát
triển của phân công lao động xã hội, những giai đoạn phát triển khác nhau
của sự phân công lao động xã hội cũng đồng thời là những hình thức sở
hữu: “nghĩa là mỗi giai đoạn của phân công lao động cũng quy định những
quan hệ giữa cá nhân với nhau tuỳ theo quan hệ của họ với tư liệu lao động,
công cụ lao động và sản phẩm lao động” [1; tr 31].
Chính quan hệ sở hữu đã quy định địa vị của từng tập đoàn trong hệ
thống sản xuất xã hội. Đến lượt mình địa vị của từng tập đoàn trong hệ thống
sản xuất ấy lại quy định cách thức mà các tập đoàn tổ chức và quản lý quá
trình sản xuất. Đồng thời cũng chính quan hệ sở hữu này quyết định phương
thức phân phối sản phẩm lao động cho các tập đoàn người theo địa vị của
họ đối với hệ thống sản xuất xã hội. Trong lịch sử xã hội có hai hình thức sở
hữu chủ yếu là sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân, sở hữu công cộng là cái
vốn có của chế độ công xã nguyên thuỷ; sở hữu tư nhân xuất hiện và tồn tại
trong sản xuất là quan hệ hợp tác bình đẳng. Do đó việc tổ chức và quản lý
sản xuất được tiến hành theo chế độ tập trung dân chủ. Cũng như quan hệ tổ
chức và quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm trong quá trình sản
xuất cũng chịu sự quy định của quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất. Đồng thời
quan hệ phân phối sản phẩm lao động cũng bị phụ thuộc vào trình độ tổ chức
và quản lý sản xuất. Song do có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi ích của
con người nên các quan hệ phân phối cũng rất có ý nghĩa đối với sự phát triển
kinh tế xã hội. Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sự
22
sản xuất làm năng động toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội nếu nó phù hợp có
tác dụng kích thích mạnh mẽ người lao động hoặc trong trường hợp ngược
lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãm sự phát triển xã hội.
Trong thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội để tỏ rõ sự khác biệt và tính ưu
việt của quan hệ phân phối xã hội chủ nghĩa thì cần thiết phải xác lập nên
những loại hình phân phối có tính chất đặc trưng cho quan hệ sản xuất xã
hội đó chính là mô hình hợp tác xã. Sau thắng lợi của cách mạng tháng Mười
Nga (1917) V.I.Lênin đặc biệt chú ý đến việc xây dựng các hợp tác xã coi đó
như là một công cụ để thực hiện phân phối xã hội chủ nghĩa ông nhấn
mạnh: “Trong lúc này là lúc còn những hình thái quá độ kết hợp những
nguyên tắc khác nhau thì điều đặc biệt quan trọng là các cơ quan lương thực
Xô Viết hãy sử dụng các hợp tác xã với tính cách là bộ máy duy nhất có tính
chất quần chúng để phân phối có kế hoạch” [14; tr 146]. Để có một quan hệ
phân phối sản phẩm lao động thoả mãn nhu cầu của tất cả mọi người, thì đó
không phải là một công việc đơn giản đòi hỏi phải có một quá trình lâu dài.
Theo Mác quan hệ phân phối đó chỉ có thể thực hiện được trong xã hội công
sản chủ nghĩa: “khi mà sự phụ thuộc có tính chất nô dịch của con người vào
sự phân công lao động của họ không còn nữa và cùng với nó, sự đối lập giữa
ưu cho việc sử dụng và kết hợp giữa lao động và tư liệu sản xuất. Với trạng
thái phù hợp như vậy lực lượng sản xuất sẽ có cơ sở để phát triển hết khả
năng của nó.
Trạng thái mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất sẽ
xuất hiện thay thế cho trạng thái phù hợp khi tới một giai đoạn nào đó, lực
lượng sản xuất phát triển chuyển sang một trình độ mới với tính chất ở mức
xã hội hoá cao hơn. Lúc đó tình trạng phù hợp sẽ bị phá vỡ. Mâu thuẫn sẽ
ngày càng gay gắt và đến một lúc nào đó quan hệ sản xuất “trở thành xiềng
xích của lực lượng sản xuất”. Sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất
tất yếu dẫn đến việc xã hội phải xoá bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệ
24
sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đã thay
đổi mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất
cũ thay thế bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là sự diệt vong của một
phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phương thức sản xuất mới.
C.Mác nhận định: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các
lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản
xuất... trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ
chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ sản
xuất trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu
thời đại một cuộc cách mạng xã hội” [4; tr 15].
Chủ nghĩa duy vật lịch sử chứng minh vai trò quyết định của lực lượng
sản xuất song cũng chỉ rõ rằng quan hệ sản xuất bao giờ cũng thể hiện tính
độc lập tương đối với lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất tác động trở lại
lực lượng sản xuất, quy định mục đích xã hội của sản xuất, tác động đến
khuynh hướng phát triển của công nghệ từ đó hình thành một hệ thống những
yếu tố hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất thực