TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
VŨ THỊ HÀ
SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
HÀ NỘI - 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
VŨ THỊ HÀ
SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Người hướng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN THỊ THÙY LINH
toàn trách nhiệm theo đúng quy định của việc nghiên cứu khoa học.
Hà Nội, tháng 05 năm 2013
Tác giả khóa luận
Vũ Thị Hà
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNDV
: Chủ nghĩa duy vật
PBC
: Phép biện chứng
PBCDV
: Phép biện chứng duy vật
SV
: Sinh viên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thanh niên - sinh viên là một lực lượng đông đảo trong xã hội, là nguồn
lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Sinh thời chủ
tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi
đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội” [6, tr.167]. Nếu không có thế
hệ trẻ, sẽ không có sự tiếp nối lịch sử của mỗi dân tộc, cũng như không có sự
phát triển của nhân loại. Chính vì vậy trong các thời kì cách mạng, Đảng ta
luôn coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, đặc biệt là sinh viên cả
về trình độ học vấn, lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị… để họ trở thành
chủ tương lai của đất nước.
Từ năm 1986, Việt Nam chính thức bước vào thời kì đổi mới, xóa bỏ chế
độ bao cấp và chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, từng bước tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế
giới. Đây vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với quá trình phát triển của
cách mạng Việt Nam. Bên cạnh mặt tích cực, quá trình toàn cầu hóa cũng bộc
lộ không ít những hạn chế, mâu thuẫn với bản chất của chủ nghĩa xã hội, tác
động không nhỏ đến lối sống và đạo đức của con người.
Sinh viên là một bộ phận đông đảo và là thành phần ưu tú của thanh
niên. Họ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Họ mang
trong mình sức mạnh của tuổi trẻ, có tri thức khoa học, có tinh thần nhiệt
huyết, dám nghĩ, dám làm, họ còn là đại biểu cho sức sống của dân tộc. Do
vậy, hơn ai hết họ phải là những người kiên định về chính trị, vững vàng về
chuyên môn, có lối sống lành mạnh, đạo đức mẫu mực...
Tuy nhiên, do thiếu kinh nghiệm sống nên họ cũng rất dễ bị lợi dụng và
lôi kéo. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, trước những tác động của cơ chế
thị trường, trước những tác động từ nhiều phía của văn hóa, tư tưởng phương
1
+ Tạp chí triết học; Đỗ Huy (2002) “ Cơ chế, chuẩn mực đạo đức xã
hội và những hành vi đạo đức cá nhân”.
+ Võ Minh Tuấn (2004) “ Tác động toàn cầu hóa đến đạo đức sinh
viên hiện nay”...
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả đã nêu trên, từ
nhiều góc độ khác nhau, đã làm sáng tỏ tác động hai mặt của bối cảnh toàn cầu
hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tới sự biến đổi của đạo đức xã hội ở nước ta
trong quá trình đổi mới, đề ra một số phương hướng để đẩy mạnh quá trình xây
dựng đạo đức trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tuy nhiên đối tượng giáo dục đạo
đức cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam là vấn đề đòi hỏi cần
được tiếp tục nghiên cứu thêm. Khóa luận hy vọng đóng góp một phần nhỏ
của mình vào việc nghiên cứu một trong những khía cạnh của vấn đề lớn đó.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích
Mục đích của khóa luận làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong
công tác đạo đức cho sinh viên ở nước ta hiện nay, trên cơ sở đó đưa ra một
số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho
sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường.
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, khóa luận có nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận của quan điểm toàn diện trong Triết học và
các quan điểm về đạo đức và giáo dục đạo đức
- Phân tích thực trạng đạo đức và công tác giáo dục đạo đức cho sinh
viên Việt Nam hiện nay và nguyên nhân của nó.
- Từ đó vận dụng quan điểm toàn diện trong giáo dục đạo đức cho sinh
viên Việt Nam hiện nay.
3
1.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - Cơ sở triết học của quan điểm
toàn diện
1.1.1 Nội dung về mối liên hệ phổ biến
* Khái quát về phép biện chứng duy vật:
Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ phổ biến đối với sự
vật, hiện tượng khác. Phép biện chứng (PBC) ra đời gắn với sự phát triển của
triết học từ thời cổ đại và từng bước hoàn thiện trong ba hình thức cơ bản đó
là: phép biện chứng chất phác thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm trong triết
học cổ điển Đức và phép biện chứng duy vật.
- Phép biện chứng chất phác thời cổ đại
Do trình độ tư duy chưa cao, khoa học chưa phát triển nên các nhà triết
học chỉ dựa trên những quan sát trực tiếp mang tính trực quan cảm tính để khái
quát bức tranh chung của thế giới. PBC chất phác được thể hiện rõ ràng trong
thuyết “Âm dương - Ngũ hành” của triết học Trung Hoa cổ, trung đại.
Dưới con mắt của Heraclit mọi sự vật trong thế giới của chúng ta đều thay
đổi vận động phát triển không ngừng. Luận điểm bất hủ của ông: “Chúng ta
không thể tắm hai lần trên một dòng sông”. Song PBC này thiếu những căn cứ
khoa học.Vì vậy, nó đã bị PBC siêu hình xuất hiện từ cuối thế kỷ XV thay thế.
- Phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong triết học Cantơ và hoàn thiện
trong triết học Hêghen - một đại biểu của triết học cổ điển Đức ở cuối thế kỷ
XVIII đầu thế kỷ XIX với một hệ thống khái niệm, phạm trù và quy luật cơ
bản, Hêghen là người đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh PBC duy tâm, tính chất
duy tâm trong PBC của Hêghen thể hiện ở chỗ: Ông coi “ý niệm tuyệt đối”
tha hóa thành giới tự nhiên và xã hội, cuối cùng lại trở về với chính mình.
5
Thực chất PBC duy tâm khách quan của Hêghen là PBC coi ý niệm sản sinh
ra PBC của sự vật. PBC cổ điển Đức có những đóng góp vào sự phát triển tư
duy” [23, tr.39].
PBCDV tiếp tục được Lênin đã phát triển thêm trên cơ sở kế thừa học
thuyết của C.Mác, Ph.Ănghen về phép biện chứng và chỉ rõ: “Có thể định
nghĩa vắn tắt về phép biện chứng là sự thống nhất của các mặt đối lập. Như
thế người ta sẽ nắm rõ được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó
đòi hỏi phải có những sự giải thích và sự phát triển thêm” [26, tr.240].
Như vậy, đến C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I Lênin thế giới quan duy vật
biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau
trong PBC ấy. Chính vì vậy nó đã khắc phục được những hạn chế của PBC
chất phác thời cổ đại và những thiếu xót của PBC duy tâm thời cận đại. Nó đã
khái quát những quy luật cơ bản chung nhất của sự vận động và phát triển của
thế giới. PBC duy vật trở thành một môn khoa học và là hình thức phát triển
cao nhất, hoàn bị nhất của lịch sử PBC. PBC duy vật được xây dựng trên cơ
sở hệ thống những nguyên lý (nguyên lý về sự phát triển, nguyên lý về mối
liên hệ phổ biến) những cặp phạm trù cơ bản (6 cặp phạm trù: cái riêng - cái
chung; nguyên nhân và kết quả; tất nhiên và ngẫu nhiên; nội dung và hình
thức; bản chất và hiện tượng; khả năng và hiện thực) những quy luật (quy luật
chuyển hóa từ sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược
lại; quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập; quy luật phủ định
của phủ định). Trong hệ thống đó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và
nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất trong phép biện
chứng duy vật. Tuy nhiên trong phạm vi khóa luận tác giả chỉ đi sâu tìm hiểu
nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
* Khái niệm về mối liên hệ phổ biến
Ngay từ khi sinh ra con người luôn luôn có nhu cầu tất yếu đó là khám
phá, chinh phục và cải tạo tự nhiên. Do đó trong hoạt động thực tiễn của mình
con người cần đặt ra các câu hỏi như:
7
nhiên hay ở ý thức, cảm giác của con người (đại biểu là Platon). Đứng trên
quan điểm duy tâm chủ quan, Beccơli cho rằng: cảm giác là nền tảng của mối
liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Hêghen xuất phát từ lập trường duy tâm
khách quan vạch ra rằng “ý niệm tuyệt đối” là nền tảng của mối liên hệ giữa
các sự vật, hiện tượng.
Những người theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng
định: Tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các
sự vật, hiện tượng. Các sự vật hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng,
phong phú, có khác nhau bao nhiêu song chúng đều chỉ là những dạng khác
nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất - thế giới vật chất. Nhờ có tính
thống nhất nên chúng không tồn tại biệt lập nhau mà trong sự tác động qua
lại, chuyển hóa cho nhau theo những quan hệ xác định. Chính trên cơ sở đó,
triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng, liên hệ là phạm trù triết học
dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các
sự vật.hiện tượng hay giữa các mặt của sự vật, của một hiện tượng trong thế
giới [ 14, tr.183]
Các sự vật hiện tượng trong thế giới biểu hiện sự tồn tại của mình thông
qua sự tác động qua lại giữa các mặt của bản thân chúng hay sự tác động của
chúng với sự vật, hiện tượng khác. Đối với con người, chúng ta chỉ có thể
khẳng định mình bằng cách thông qua mối liên hệ với cá nhân khác tồn tại với
tư cách là nhóm xã hội khác nhau như gia đình, nhà trường và xã hội.
* Các tính chất của mối liên hệ
Theo quan điểm duy vật biện chứng mối liên hệ có các tính chất sau:
- Tính khách quan
Có thể khẳng định: Mối liên hệ của sự vật, hiện tượng là khách quan
vốn có vì nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới. Biểu hiện
trong tất cả quá trình tự nhiên, xã hội và tư duy, sự vật hiên tượng nào cũng là
9
10
những mối liên hệ chung nhất bao quát nhất của thế giới. Bởi thế Ph.Ăng
ghen viết: “PBC là khoa học về sự liên hệ phổ biến” [3, tr.455]
Cùng với những lý do trên, triết học gọi mối lên hệ đó là mối liên hệ phổ
biến. Nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng trong thế
giới còn thấy rõ tính đa dạng, nhiều vẻ của nó.
- Tính đa dạng, phong phú:
Có thể phân chia các mối liên hệ đa dạng đó thành từng loại tùy theo
tính chất phức tạp, phạm vi rộng hay hẹp, trình độ nông hay sâu, vai trò gián
tiếp hay trực tiếp mà nó có thể khái quát thành những mối liên hệ khác nhau
tùy theo từng cặp. Mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và
mối liên hệ thứ yếu, mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất.
Chính tính đa dạng trong quá trình tồn tại và phát triển của bản thân sự
vật và hiên tượng quy định tính đa dạng của mối liên hệ. Các mối liên hệ phổ
biến của sự vật, hiện tượng trong thế giới khái quát thành các cặp phạm trù cơ
bản của PBC.
+ Mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng
+ Mối liên hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
+ Mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả
+ Mối liên hệ giữa bản chất và hiện tương
+ Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức
+ Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực
Mỗi loại mối liên hệ nêu ra trên đây có vai trò khác nhau đối với sự vận
động, phát triển của sự vật. Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự
quy định chuyển hóa lẫn nhau giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của
cùng một sự vật, hiện tượng. Mối liên hệ này giữ vai trò quyết định tới sự tồn
tại và phát triển của sự vật và hiện tượng. Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ
giữa các sự vật, hiện tượng. Mối liên hệ này nói chung không giữ vai trò
định trong sự vận động và phát triển của sự vật. Con người phải nắm bắt đúng
12
các mối liên hệ đó để có cách tác động phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cao
nhất trong hoạt động của mình.
Như vậy, các sự vật và hiện tượng có mối liên hệ rất đa dạng và phong
phú. Do đó, khi nhận thức về các sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan
điểm toàn diện, tránh rơi vào các quan điểm phiến diện chỉ xem xét sự vật
hiện tượng ở một vài mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay tính
quy luật của chúng. Chẳng hạn: Khi tìm hiểu nguyên nhân vì sao một học sinh
học kém, chúng ta phải tìm hiểu về phương pháp, điều kiện học tập, ý thức
học tập của học sinh, phương pháp giảng dạy của giáo viên, có như vậy mới
tìm ra được nguyên nhân khắc phục tình trạng học kém của học sinh đó.
1.1.2 Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Từ việc nghiên cứu mối liên hệ phổ biến có thẻ rút ra ý nghĩa về phương
pháp luận như sau:
* Quan điểm toàn diện
Như chúng ta đã tìm hiểu ở trên, vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trên
thế giới đều tồn tại trong các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển hóa,
quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang tính
khách quan, mang tính phổ biến nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động
thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phải tránh xem xét
phiến diện.
Trên cơ sở quán triệt quan điểm toàn diện trong mỗi hoạt động nhận
thức và thực tiễn quan điểm toàn diện đưa ra yêu cầu sau:
Thứ nhất, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật hiện
tượng trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các
mặt của chính sự vật và hiện tượng và trong tương tác qua lại giữa các sự vật
Thực hiện tốt những yêu cầu trên của quan điểm toàn diện sẽ giúp ta có
cái nhìn sâu sắc và thấu đáo để tìm ra bản chất của sự vật, hiện tượng. Song
không chỉ dừng lại ở quan điểm toàn diện, khi nghiên cứu mối liên hệ phổ
14
biến của phép biện chứng duy vật, đi liền với quan điểm toàn diện còn là
nguyên tắc lịch sử - cụ thể.
* Nguyên tắc lịch sử - cụ thể
Xuất phát từ tính đa dạng, phong phú - sự vật, hiện tượng khác nhau,
không gian, thời gian khác nhau các mối liên hệ biểu hiện cũng khác nhau nên
trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng
quan điểm lịch sử - cụ thể.
Bản thân nguyên tắc lịch sử - cụ thể đòi hỏi chúng ta trước hết phải xem
xét phương pháp tư duy là có tính lịch sử. Những phương pháp cơ bản của tư
duy biện chứng là kết quả của quá trình lịch sử nhận thức, lịch sử tư duy đã
thể hiện ở con người đi sâu nhận thức thế giới và vận dụng phép biện chứng
vào quá trình tư duy của con người. Phương pháp tư duy là sản phẩm của thời
đại lịch sử, nó được hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử
nhất định. Khoa học về tư duy cũng như các khoa học khác là khoa học về sự
phát triển lịch sử của tư duy. Phương pháp tư duy của con người đã trải qua
quá trình phát sinh và phát triển, trải qua một quá trình từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp. Có thể phân chia sự phát triển phương pháp tư duy của con
người thành bốn giai đoạn sau:
Phương pháp tư duy nguyên thủy
Phương pháp biện chứng chất phác thời cổ đại
Phương pháp tư duy cận đại
Phương pháp biện chứng hiện đại
Những phương pháp đó, tạo thành một hệ thống phương pháp dựa vào
1.2 Một số vấn đề chung về giáo dục đạo đức
1.2.1 Khái niệm về đạo đức
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo
đức học đã xuất hiện hơn 17 thế kỉ trước đây trong triết học Trung Quốc, triết
học Ấn Độ, triết học Hy Lạp cổ đại…
16
* Triết học phương Tây, danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng latinh là
mos- lề thói (moralit- nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa). Còn luân
lý thường xem như là đồng nghĩa với “đạo đức” nghĩa gốc ở chữ Hy Lạp là
Ethicos nghĩa là lề thói, tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến
đạo đức, tức là nói đến những lề thói, tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất
định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Sau này
người ta thường phân biệt hai khái niệm “moral” là đạo đức, còn “Ethicos” là
đạo đức học.
* Triết học phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung
Quốc cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo đức của họ. Đạo là một trong
những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại. Đạo có
nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm đạo đức được vận dụng trong
triết học để chỉ con đường của tự nhiên. Đạo có nghĩa là con đường sống của
con người trong xã hội.
Khái niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ
đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều. Đức dùng để nói
đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa,
là nguyên tắc luân lý. Như vậy, có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ
đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà con
người phải tuân theo.
* Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về đạo đức
hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế: “Xét cho cùng, mọi học thuyết về
đạo đức, đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã
hội lúc bấy giờ” [18, tr.137].
Những phong tục đạo đức của người nguyên thủy, đời sống của xã hội
văn minh là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và các hoạt động nhận thức của
xã hội đó. Sự phát triển từ phong tục đạo đức của người nguyên thủy đến ý
thức đạo đức của xã hội văn minh là kết quả của sự phát triển từ thấp đến cao
của hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người xã hội công xã
18
nguyên thủy là bước đầu tiên của con người thoát khỏi trạng thái động vật.
Hoạt động thực tiễn của xã hội hết sức thấp kém, chưa tạo nên sản phẩm
thặng dư, và do đó tư hữu và chế độ tư hữu có tiền đề khách quan để xuất
hiện. Trong xã hội chưa có hiện tượng áp bức xã hội nhưng con người vẫn bị
nô dịch bởi những lực lượng tự phát của tự nhiên. Tuy nhiên, xã hội nguyên
thủy đã đem lại nội dung “ngây thơ”, “thuần phác” nhưng “tốt đẹp thơ
mộng” cho đạo đức người nguyên thủy. Đạo đức này chưa biết nói đến thói
xấu, cái ác trong xã hội văn minh. Đây là “Ý thức bầy đàn đơn thuần” của
“bản năng được ý thức”.Ý thức đạo đức chưa tách ra thành hình thái độc lập.
Đạo đức của con người nguyên thủy là hình thái sinh thành trừu tượng
của đạo đức.hình thái của nó cũng trừu tượng và không có tính duy lý
Những hình thái kinh tế xã hội có đối kháng giai cấp tạo nên những cơ
sở kinh tế xã hội và tinh thần cho sự phát triển ý thức. Những hệ thống đạo
đức của các giai cấp khác nhau và mâu thuẫn nhau đều lấy “những quan niệm
đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí giai
cấp của mình, tức là những quan hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và
trao đổi” [18, tr.136]. Những hệ thống đạo đức đó phản ánh và điều chỉnh
những quan hệ xã hội đa dạng, phong phú và phức tạp, trong khi ý thức nói
chung và đạo đức nói riêng của người nguyên thủy chỉ phản ánh hoàn cảnh