TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
****************
BÙI THỊ THANH PHƯỢNG
GIA ĐÌNH - MỘT TRONG NHỮNG
NHÂN TỐ QUAN TRỌNG ẢNH
HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HÌNH
THÀNH
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh
HÀ NỘI - 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
****************
BÙI THỊ THANH PHƯỢNG
GIA ĐÌNH - MỘT TRONG NHỮNG
NHÂN TỐ QUAN TRỌNG ẢNH
HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HÌNH
THÀNH
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học
Sinh viên
Bùi Thị Thanh Phượng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: GIA ĐÌNH HỒ CHÍ MINH LÀ MỘT GIA ĐÌNH YÊU NƯỚC
VÀ NHÂN ÁI ................................................................................................ 5
1.1. Nam Đàn, Nghệ An – vùng đất địa linh nhân kiệt ................................ 5
1.2. Gia đình Hồ Chí Minh – một gia đình hiếu học và giàu lòng nhân ái ... 9
1.3. Gia đình Bác Hồ – một gia đình yêu nước, tham gia các phong trào giải
phóng dân tộc............................................................................................ 19
1.4. Ảnh hưởng tư tưởng của thân phụ đối với tuổi trẻ Hồ Chí Minh ........ 23
Chương 2: NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI SỰ HÌNH
THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH......................................................... 31
2.1. Về đức tính thông minh hiếu học và khả năng nhạy cảm chính trị ...... 31
2.2. Ý chí quyết tâm kiên trì theo đuổi mục tiêu ........................................ 35
2.3. Hồ Chí Minh là người luôn thể hiện đạo đức cách mạng trong sáng... 40
KẾT LUẬN.................................................................................................. 45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 47
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh “là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả
một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của
nhân dân Việt Nam”[Nghị quyết 24c/18.65 của Đại hội đồng UNESCO khóa
24 – 1987]. Người là sự kết tinh truyền thống văn hóa tốt đẹp hàng ngàn năm
đình, đặc biệt là từ thân phụ của Người đã có ảnh hưởng vô cùng to lớn trong
quá trình hình thành nhân cách và hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chính vì vậy, với mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé vào việc
tìm hiểu sự ảnh hưởng của nhân tố gia đình đến quá trình hình thành tư tưởng
Hồ Chí Minh, tác giả đã chọn vấn đề: “Gia đình – một trong những nhân tố
quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh”,
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn gốc hình
thành tư tưởng Hồ Chí Minh như:
- Trần Dân Tiên (1975), “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ
Chủ Tịch”, Nxb Văn Học.
- Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Nghệ Tĩnh, “Những mẩu chuyện về
Thời Niên Thiếu của Bác Hồ”, 1985, Nxb Sự thật, Hà Nội.
- “Hội thảo Quốc tế về chủ tịch Hồ Chí Minh”, 1989, Nxb Khoa học xã
hội và tham luận, Hà Nội.
- Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Thừa Thiên Huế, “Lịch Sử Đảng Bộ
Thừa Thiên Huế”, 1995, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Trần Minh Siêu (1997), Những người thân trong gia đình Bác Hồ,
Nxb Nghệ An, Nxb Trẻ.
- Trình Quang Phú (2002), Từ Làng Sen đến Bến Nhà Rồng, Nxb Hội
Nhà Văn.
2
- Song Thành (2006), Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb Lý luận chính trị, Hà
Nội.
- Hội thảo khoa học Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường
cứu nước, 2011, Nxb Chính trị – hành chính, Hà Nội.
sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; đối chiếu và so sánh; gắn lý luận với thực
tiễn, luận văn có trích dẫn những lời nói và bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh
để đảm bảo tính khoa học, tính chuẩn xác, tính thuyết phục và hết sức tránh
chủ quan trong phân tích, bình luận.
6. Ý nghĩa của khóa luận
- Thông qua việc nghiên cứu tìm hiểu truyến thống của quê hương và
gia đình Hồ Chí Minh, tác giả chỉ ra vai trò to lớn của gia đình đối với việc
hình thành nhân cách và tư tưởng của Người. Đồng thời đưa ra cách đánh giá,
nhìn nhận về vai trò của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của dân
tộc ta nói riêng và phong trào cách mạng thế giới nói chung.
- Góp phần là tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu, giảng
dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương, 7 tiết.
4
Chương 1
GIA ĐÌNH HỒ CHÍ MINH LÀ MỘT GIA ĐÌNH YÊU NƯỚC
VÀ NHÂN ÁI
1.1. Nam Đàn, Nghệ An – vùng đất địa linh nhân kiệt
1.1.1. Về vị trí địa lý
Nam Đàn là một trong 17 huyện của tỉnh Nghệ An, nằm ở phía nam
đông nam, hạ lưu sông Lam. Huyện Nam Đàn, phía đông giáp huyện Hưng
Nguyên và Nghi Lộc, phía tây giáp huyện Thanh Chương, phía bắc giáp
huyện Đô Lương, phía nam giáp huyện Hương Sơn và huyện Đức Thọ thuộc
tỉnh Hà Tĩnh
Thời tiết và khí hậu Nam Đàn rất khắc nghiệt, nắng nóng kéo dài và
Chiều chiều ra đứng cồn sen
Bạch liên trắng bạch, hồng liên đỏ hồng
1.1.2. Về con người
Mặc dù, điều kiện tự nhiên hết sức khắc nghiệt nhưng người dân xứ
Nghệ rất giàu truyền thống văn hoá và đánh giặc, giữ nước. Nơi đây hội tụ
nhiều di tích lịch sử - văn hoá gắn với tên tuổi chiến công của các bậc anh
hùng dân tộc, nêu cao chí khí chống ngoại xâm từ bao đời nay.
Chẳng mấy người tuyệt đối hóa yếu tố địa lý, nhưng thực tế mảnh đất
quê hương đã sinh ra con người tác động không nhỏ đến sự hình thành nhân
cách, bản lĩnh của họ. Vùng quê hương Kim Liên, Nam Đàn xứ Nghệ nơi sinh
ra Hồ Chí Minh nói rằng là nơi địa linh nhân kiệt cũng chẳng quá lời. Thuở
trước, La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp gọi Nam Đàn nói riêng và Nghệ An – Hà
Tĩnh nói chung là “Trung lai danh thắng địa”; còn cụ Phan Sào Nam coi đây
là vùng đất “cổ lai đa hào kiệt”. Lịch sử dân tộc và lịch sử cách mạng đã ghi
tên những danh nhân văn hóa, những anh hùng như Nguyễn Du, Nguyễn
Thiếp, Nguyễn Huy Tưởng, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Trần Phú, Hà
Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai... Có thể nói dòng nước và
6
dải phù sa sông Lam, sông La, núi non Nghệ Tĩnh đậm nét văn hóa truyền
thống dân tộc đã cùng Hồ Chí Minh đi suốt cuộc đời cách mạng. Đó là những
người như:
Nguyễn Đức Đạt (1824-1887) người Thanh Chương, đỗ thám khoa
năm 1835, hai lần từ quan về dạy học viết sách. Còn như Phan Bội
Châu,Vương Thúc Quý sau khi đỗ đạt không làm quan mà đem “sở học” của
mình ra giúp đời, cứu nước; riêng Nguyễn Sinh Huy (Nguyễn Sinh Sắc) khi
bị bắt buộc phải làm quan thì thổ lộ: “Quan trường thì nô lệ trung, chi nô lệ,
hựu nô lệ”. Chính các vị này làm cho truyền thống hiếu học, khổ học của
nước của Phan Bội Châu.
Ở Hoàng Trù, có ông Hoàng Xuân Hành hoạt động trong phong trào
Văn thân rồi tham gia nghĩa quân Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế, Bắc Giang.
Sau ông trở về Nghệ An, lập căn cứ ở vùng Bố Lư thuộc huyện Thanh Chương
để chống Pháp. Khi bị bắt, giặc Pháp tra tấn, hỏi cung, ông liền tự cắn đứt một
khúc lưỡi, làm cho chúng phải khiếp sợ, ông bị chúng đày ra Côn Đảo.
Quê hương Nguyễn Sinh Cung còn có biết bao tên tuổi được ghi vào sử
sách, để lại tấm gương mà người đời sau kính phục.
Ông Hoàng Phan Thái người huyện Nghi Lộc, cách Nam Đàn không
xa, thi hương đỗ đầu xứ Nghệ được các nhà nho kính trọng, gọi là “đầu xứ
Thái”, nhưng Hoàng Phan Thái không lập thân bằng văn chương, nhất là khi
dân tộc đang rên xiết dưới gót giày tàn bạo của kẻ thù. Nghe tin Tự Đức ký
nhượng các tỉnh Nam Bộ cho Pháp, ông vô cùng căm giận. Ông chiêu tập
nghĩa binh, tự xưng là “Đông hải Đại tướng quân” quyết chống lại sự đầu
hàng của triều đình. Người Pháp đã cho quân đến vây bắt ông. Trước ngày bị
chém đầu, ông còn để lại cho đời sau một đôi câu đối đầy khí phách:
“Thiên khả thê phong, huyền đảo giang hà thanh nhất nộ
Địa nan mai cốt, vãn hồi nhật nguyệt bạch tam quân”.
Nghĩa là:
8
“Trời có thể dừng gió, ta sẽ dốc hết sông suối để rửa cơn giận này,
Đất khó vùi xương, ta phải xoay vòng nhật nguyệt gọi ba quân”.
Chính truyền thống hiếu học, yêu chuộng thể văn đó làm cho Nam Đàn
có nền văn học dân gian phong phú, sinh động, phản ánh một vùng quê luôn
sôi động tiếng hát, tiếng hò, ngâm thơ…
1.2. Gia đình Hồ Chí Minh – một gia đình hiếu học và giàu lòng nhân ái
1.2.1. Gia đình Hồ Chí Minh – một gia đình giàu truyền thống hiếu học
động cách mạng. Khi đã trở thành lãnh tụ của Đảng và dân tộc, những quan
điểm của Người: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, dốt là một thứ giặc và
phải “diệt giặc dốt” là những quan điểm có tính kinh điển. Bởi vậy, Người
thường xuyên kêu gọi nhân dân phải thường xuyên học tập, cán bộ, đảng viên
càng phải cố gắng học tập vì như Người đã ghi vào sổ vàng của Trường
Nguyễn Ái Quốc năm 1949:
“Học để làm việc,
Làm người
Làm cán bộ
Học để phụng sự đoàn thể”.
Sinh thời Nguyễn Sinh Sắc sớm mồ côi cha mẹ lúc chưa đầy 10 tuổi,
được người anh họ cưu mang, đùm bọc. Sở hữu những tố chất thông minh,
nhạy cảm, sâu sắc, ông lại rất đam mê việc học. Ông miệt mài, không mệt mỏi
dù phải vật lộn với miếng cơm, manh áo như một người nông dân bần hàn.
Với ông chỉ có thi đỗ đạt mới có thể giúp bản thân không bị nô lệ; chỉ có học
mới có kiến thức để giúp dân, giúp nước. Sau khi lấy vợ là Hoàng Thị Loan,
con gái đầu của người cha nuôi, ông vừa đảm nhận vai trò của người chồng,
người cha, vừa kiên trì đeo đuổi chí hướng trên con đường học vấn. Đứa con
gái đầu lòng Nguyễn Thị Thanh, con trai thứ hai Nguyễn Sinh Khiêm, con trai
thứ ba Nguyễn Sinh Cung lần lượt ra đời. Ba chị em bé Cung lớn lên trong
ngôi nhà tuy nhỏ, đơn sơ nhưng lại tràn đầy thắm thiết tình nghĩa yêu thương
10
của cha mẹ và ông bà ngoại. Sinh Sắc dù dành tâm huyết rất lớn cho việc học
tập, thi cử nhưng chưa bao giờ lơi là trong việc giáo dục con. Lúc nào ông
cũng chú ý tới việc dạy dỗ con. Từ cuộc sống của bản thân mình, ông dạy cho
các con đức tính kiên trì, chịu khó học tập. Ông quan niệm con cái là tương
lai của mình. Việc mình làm dở hôm nay, hoặc chưa làm được, con cái sẽ tiếp
vẫn nghe được những điều các cụ nói, điều các cụ bàn, việc mà các cụ ưu tư
lo lắng... Có lần cậu nghe được mấy từ “tự do, bình đẳng, bác ái” cậu không
hiểu được và hỏi cha. Cụ trăn trở: “Điều mà con muốn biết, chính bọn cha
cũng đang muốn biết. Cái lối học “tầm chương trích cú” đã làm cho dân mình
ngu si, đình đốn, không theo kịp với đà tiến phát của hoàn vũ. Những từ đó là
3 cái đích lớn của cuộc đại cách mạng Pháp nhưng đến giờ này chúng ta vẫn
chưa hiểu được”. Chính cách sống và ý chí của cụ Nguyễn Sinh Sắc luôn là
bài học đầu đời cho cậu bé Nguyễn Sinh Cung.
Chính truyền thống hiếu học đã làm cho các thành viên trong gia đình
Hồ Chí Minh có tri thức và nếp sống văn hóa. Trong gia đình từ ông bà ngoại
đến thân phụ, thân mẫu và anh chị của Người đều là những người có tri thức.
Thân phụ của Nguyễn Sinh Sắc với hai mươi năm khổ học, tu luyện
văn chương và học vị phó bảng, là người có vốn hiểu biết thâm sâu, uyên bác
chẳng những về Nho học mà còn cả về Phật học, Y học. Hơn nữa, cụ học
không phải để làm quan, nên sự hiểu biết của cụ vừa tinh túy lại vừa phóng
đại, không câu nệ vào sách vở.
Dù đỗ đạt cao nhưng cụ vẫn giữ nếp sống thanh bạch, bình dị, luôn hòa
mình với bà con lao động, vẫn lao động chân tay, dạy con chớ nên lấy phong
cách nhà quan mà đối xử nhân thế… Vốn là người trí thức, trong hoàn cảnh
đất nước bị thực dân xâm lược, triều đình đầu hàng can tâm làm tay sai cho
giặc, cụ tìm mọi cách từ chối không ra làm quan, vì làm quan lúc bấy giờ là
nỗi sỉ nhục, là có tội với dân với nước.
Khi phải miễn cưỡng ra làm quan, cụ vẫn cố giữ cái cốt cách của nhà
nho chân chính và cụ chỉ làm quan trong một thời gian ngắn rồi tìm cách từ
12
quan. Trong hoàn cảnh này, khi bàn về việc làm quan hay không ra làm quan
người ta thường mang cái chí, cái khí ra để phân tích, so sánh. Phải chăng cụ
Bà thường xuyên tiếp xúc với bà con xóm giềng để trao đổi kinh
nghiệm trong công việc hay mượn đồ dùng qua lại khi thiếu thốn lúc ở làng
Chùa cũng như khi ở kinh đô Huế. Do đó, gia đình bà rất được cảm tình của
bà con chòm xóm. Trong quyển “Những mẩu chuyện về thời niên thiếu của
Bác Hồ” có đoạn viết:
“Sống ở kinh đô Huế, nơi đất khách quê người, mọi người đều xa lạ với
gia đình bà, song nhờ có đức tính chân thật, cởi mở, cần cù, chịu thương chịu
khó trong cuộc sống và sinh hoạt, nên gia đình bà đã được nhiều người xung
quanh quý mến”[2, tr.91].
Do truyền thống hiếu học của quê hương và môi trường giáo dục của
gia đình, nên Nguyễn Thị Thanh (1884) dù là con gái, nhưng cô cũng có hiểu
biết vững vàng về chữ nghĩa nho học, đạo lý ở đời. Đặc biệt cô còn có kiến
thức về y học cổ truyền của dân tộc.
Cũng như mẹ và dì Hoàng Thị An, cô thuộc và hiểu ý nghĩa của ca
dao, hát ví, hát dặm của quê nhà, cô còn có biệt tài ứng phó nhanh ví von hóm
hỉnh, nên nhiều người gọi cô là Bạch Liên nữ sĩ.
Cô vừa đẹp người vừa đẹp nết, lại giỏi giang, quán xuyến công việc gia
đình, chăm nom các em ngay từ lúc còn nhỏ. Sau cách mạng tháng Tám năm
1945, cô Nguyễn Thị Thanh ra Hà Nội thăm Hồ Chí Minh. Trong lúc nói
chuyện, cô Thanh đã nhắc rằng: “Thời em còn nhỏ chị đã từng ru em bằng lời
ru non nước của quê hương”.
Khi cha mẹ và các em vào kinh đô Huế, cô ở lại quê nhà làm lụng,
chăm sóc bà ngoại đã ngoài sáu mươi. Khi mẹ qua đời, cô đã chăm lo việc
nhà, lúc cha đi dạy học xa có các em cùng theo. Đến lúc thân phụ vào Huế
làm quan, cô ở lại quê nhà một mình, bắt đầu tham gia hoạt động cứu nước.
Năm 1922, cô Nguyễn Thị Thanh, một chiến sĩ yêu nước chống thực
dân Pháp bị cầm tù ở Quảng Ngãi; nhờ kiến thức nho học và y học mà cô
14
giàu nghị lực, sống thanh bạch, chịu đựng nhiều nỗi đau mất mát, truân
chuyên. Nhân cách cao thượng đó của cụ sống mãi trong tình yêu thương của
mọi người. Khi phải ra làm quan, cụ cũng sống thanh bạch giản dị, không cần
người hầu kẻ hạ, ăn uống như người lao động do các con tự nấu lấy. Khi
không còn làm quan nữa, cụ vẫn giữ nguyên nếp sống đó. Lúc ở Sài Gòn, cụ
sống bằng nghề xem mạch cho toa thuốc “... Cụ Phó Bảng lúc bấy giờ bận
cái áo thun già vải xanh Nam Định.. Cụ sống bằng nghề bắt mạch cho toa,
mỗi toa cụ lấy hai cắc, người nghèo cu không lấy tiền. Khi ăn thì cụ qua chợ
Bến Thành ăn chung với anh em cu ly xe kéo…”[5, tr.80].
Khi đã đậu phó bảng tại Hội khoa Tân Sửu (1901), cụ được hưởng hai
đặc ân của chính đảng: được vua ban cờ biển và cho vinh quy bái tổ. Trong lễ
xướng danh, cụ Nguyễn Sinh Sắc được vua Thành Thái tặng biển “Ân Tứ
Ninh Gia” (ơn ban cho gia đình tốt) và cấp phương tiện đưa về đến tỉnh lỵ An
Tịnh (Vinh). Nhưng Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, sau buổi lễ ra mắt Tổng đốc
Địa Hạt, cụ lại tự đi bộ về làng, không chịu tổ chức ăn mừng, khước từ các
nghi lễ vinh qui vì sợ tốn kém thời gian, tiền bạc của bà con làng xóm. Cụ còn
lấy quỹ làng khao cho mình đem chia cho dân nghèo hèn là vốn sinh sống.
Đến lúc phải ra làm quan, cụ chỉ để lại ít ruộng đất cho con cái, còn lại bán
tiền chia cho những người nghèo khổ trong làng. Tất cả thể hiện tấm lòng
nhân đạo của cụ và đã tạo ra một thứ tình cảm mới tốt đẹp trong đời sống bà
con làng xóm.
Nguyễn Sinh Sắc là vậy, lúc nào cũng sống bằng chính sức lao động
của mình không ỷ nhờ vào người khác, bao giờ cũng sinh hoạt giản dị. Bằng
lao động và với lao động cùng nếp sống tự lực, giản dị thanh cao, cụ Nguyễn
Sinh Sắc đã truyền cho các con những giá trị của lao động. Điều này không
phải vị khoa bảng nào cũng làm được. Lao động làm cho con người cần kiệm,
không lãng phí vô ích. Lao động làm cho con người biết tự trọng và tôn trọng
người khác. Lao động tạo nên nhân cách.
có Hồ Chí Minh là thấy được rằng phụ nữ đã chịu đựng những gánh nặng
như nam giới và còn hơn cả nam giới” [8, tr.183].
17
Nhân dân Việt Nam vốn rất coi trọng nhân nghĩa. Trước khi tiếp xúc
với đạo nhân của Nho giáo và lòng từ bi của Phật giáo, người Việt ta đã có
lòng thương người, yêu thương đồng loại từ lâu đời:
“Thương người như thể thương thân”
hay là:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Truyền thống đó đã kết hợp với đạo nhân và lòng từ bi làm cho lòng
nhân ái của dân tộc Việt Nam rộng rãi hơn, phong phú hơn, có tình có lý hơn
theo đà phát triển của lịch sử dân tộc.
Cụ Hoàng Đường là thầy đồ nho, cụ Kép là “người rất mộ đạo Phật và
thường xuyên thăm viếng dâng hương hoa ở các chùa chiền” [11, tr.14]. Vì
thương người, hai cụ đã nhận thiếu niên Nguyễn Sinh Sắc, mồ côi cha mẹ về
nuôi dạy và sau đó đã gả con gái đầu lòng cho chàng thanh niên đôn hậu này.
Lòng nhân ái của cụ làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của Nguyễn Sinh Sắc.
Có thể nói, phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là sản phẩm của tấm lòng nhân ái đó,
có lẽ chỉ có anh nho Sắc hay ông đồ Sắc mà thôi.
Xuất phát từ lòng nhân ái của cha mẹ, bà Hoàng Thị Loan đem lòng
cảm mến, yêu thương cụ Nguyễn Sinh Sắc. Ở đây, lòng nhân ái được nâng
lên, chuyển thành tình cảm khác: tình phu thê, nghĩa vợ chồng. Trưởng thành
trong môi trường tràn ngập yêu thương, lòng nhân ái vốn có trong lòng con
người cụ Nguyễn Sinh Sắc ngày một thêm đậm đà sâu sắc.
Cô Nguyễn Thị Thanh, trong phạm vi gia đình, ngay từ khi tuổi còn
nhỏ cô đã thể hiện tấm lòng vì mọi người, cô làm lụng chăm sóc bà, cha và
chiếm đóng bình định, Pháp đã tiến hành chính sách khai thác thuộc địa, vơ
vét bóc lột dân ta, chúng sử dụng bộ máy phong kiến gia tăng các cuộc hành
quân đàn áp những người yêu nước… Hình ảnh người dân đói rách, thân tàn
ma dại vì bị bóc lột, vì rượu chè, trẻ em dốt nát vì thất học, nhân phẩm con
19
người bị chà đạp… đã trở thành nỗi day dứt, dày vò của mọi người yêu nước,
trong đó có thành viên của gia đình Hồ Chí Minh.
Thực tế đó là động cơ thôi thúc hàng ngày những thành viên trong gia
đình Hồ Chí Minh vốn lòng thương dân yêu nước sâu sắc, phải có hành động
cứu dân, cứu nước.
Cụ Nguyễn Sinh Sắc sau khi đỗ Phó bảng đã lấy cớ chữa bệnh để chậm
nhậm chức, nấn ná lại quê hương được năm năm (1901 – 1906). Cụ rất quan
tâm đến việc học tập của con cái. Cụ cho con trai tới học với cử nhân Vương
Thúc Quý là con ông tú tài Vương Thúc Mậu, lãnh tụ Cần Vương chống Pháp
ở vùng Núi Chung. Cụ đã từng viết lên xà nhà mấy chữ: “Vật dĩ quan gia, vi
ngô phong dạng” (Đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình),
để răn dạy con. Là một đại khoa nhưng làm quan, với cụ là đem thân làm nô
lệ. Còn lưu lại quê, cụ đi Võ Liệt theo lời của nhân dân trên đó lên mở trường,
dạy học, và cụ luôn nhắc: “Việc học là cần để hiểu đạo lý làm người. Không
nên chỉ học để làm quan”.
Rồi cụ chuyển sang dạy học ở Đức Thọ (Hà Tĩnh), đến làng Đông Thái
quê hương cụ Phan Đình Phùng, tiếp xúc với các nhân sĩ yêu nước của vùng
Hà Tĩnh… Cụ ra tận Diễn Châu thăm Tán tướng quân vụ trong cuộc khởi
nghĩa của cụ nghè Nguyễn Xuân Ôn, đi Yên Thành, Quỳnh Lưu và ra tận
Thái Bình tiếp xúc với sĩ phu Bắc Hà. Cụ Nguyễn Sinh Sắc là bạn thân của cụ
Phan Bội Châu là sĩ phu yêu nước chống Pháp, nhưng cụ Sinh Sắc không
hưởng ứng phong trào Đông Du của ông Phan Bội Châu.