Pháp luật hình sự việt nam về tội gây rối trật tự công cộng và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh đồng tháp - Pdf 31

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN LONG NHI

PHáP LUậT HìNH Sự VIệT NAM
Về TộI GÂY RốI TRậT Tự CÔNG CộNG
Và THựC TIễN XéT Xử TRÊN ĐịA BàN TỉNH ĐồNG THáP

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN LONG NHI

PHáP LUậT HìNH Sự VIệT NAM
Về TộI GÂY RốI TRậT Tự CÔNG CộNG
Và THựC TIễN XéT Xử TRÊN ĐịA BàN TỉNH ĐồNG THáP
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: GS. TSKH. Lấ VN CM

H NI - 2015


Khái niệm an toàn công cộng, trật tự công cộng ............................. 8

1.2.

Khái niệm các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng ...... 10

1.3.

Khái niệm tội gây rối trật tự công cộng ......................................... 16

1.4.

Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với một số tội phạm
gần giống trong pháp luật hình sự Việt Nam ................................ 19

1.4.1. Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội phá rối an ninh ........... 19
1.4.2. Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội đua xe trái phép ......... 21
1.4.3. Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội chống người thi
hành công vụ .................................................................................... 22
1.4.4. Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ........................... 23
Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CÓ LIÊN QUAN
CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN
XÉT XỬ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TẠI
TỈNH ĐỒNG THÁP ....................................................................... 26
2.1.

Thực trạng các quy định có liên quan của Bộ luật hình sự
Việt Nam hiện hành về tội gây rối trật tự công cộng .................... 26



Sự cần thiết và ý nghĩa của việc hoàn thiện các quy định của
bộ luật hình sự Việt Nam về tội gây rối trật tự công cộng ............ 58

3.1.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt
Nam về tội gây rối trật tự công cộng ................................................. 58
3.1.2. Ý nghĩa của việc hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt
Nam về tội gây rối trật tự công cộng ................................................. 60
3.2.

Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện
hành về tội gây rối trật tự công cộng ............................................. 61

3.2.1. Nhận xét chung................................................................................. 61
3.2.2. Nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể ...................................................... 64


3.3.

Những giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử tội gây rối trật tự
công cộng ......................................................................................... 66

3.3.1. Tăng cường công tác hướng dẫn, giải thích các quy định của Bộ
luật hình sự trong tương quan với các văn bản pháp luật khác về
hành vi gây rối trật tự công cộng ...................................................... 66
3.3.2. Kiện toàn cơ cấu tổ chức, nâng cao năng lực, trình độ chuyên
môn, đạo đức nghề nghiệp, đổi mới tác phong làm việc của
Thẩm phán và cán bộ, công chức trong ngành Tòa án ...................... 67
3.3.3. Nâng cao năng lực trình độ chuyên môn của Hội thẩm nhân dân........... 69
3.3.4. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân .............. 70

công cộng trong tương quan với các tội xâm phạm an toàn
công cộng, trật tự công cộng trong 5 năm (2009 - 2013)

44

Bảng 2.4: Phân tích đặc điểm nhân thân của các bị cáo đưa ra xét xử
về tội gây rối trật tự công cộng trong 5 năm (2009 - 2013)

45


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu
biểu đồ

Tên biểu đồ

Trang

Biểu đồ 2.1. Biểu đồ thể hiện tình hình hoạt động xét xử các vụ án
hình sự của ngành Tòa án tỉnh Đồng Tháp thời gian từ
2009 - 2013

39

Biểu đồ 2.2. Biểu đồ thể hiện tình hình xét xử tội gây rối trật tự
công cộng của ngành Tòa án tỉnh Đồng Tháp trong
thời gian từ 2009 – 2013


tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh [1, tr.2].
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, trong những năm qua, đời sống
kinh tế xã hội có những thay đổi đáng kể, từ đó có những tác động tích cực
đến đời sống nhân dân cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đã
đạt được, chúng ta không thể không thấy những nguy cơ và thách thức to lớn
đặt ra với toàn Đảng và toàn dân về trong sự phát triển nói chung đó, đặc biệt
là sự gia tăng của các loại tội phạm ở các thành phố lớn như: Hà Nội, thành
phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, và một số tỉnh, thành khác
trong đó có tỉnh Đồng Tháp.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, từ năm 2009 đến năm 2013, ở tỉnh
Đồng Tháp có tổng số vụ phạm pháp luật hình sự là 4.081, trong đó hành vi
đánh nhau gây rối trật tự công cộng là 67 vụ, chiếm 1.64% tổng số vụ án
hình sự đưa ra xét xử. Bên cạnh đó, dưới góc độ thực tiễn xét xử cho thấy
nếu năm 2011, tổng số vụ án về tội gây rối trật tự công cộng đưa ra xét xử

1


15 vụ và 47 bị cáo; năm 2012 là 13 vụ và 50 bị cáo; năm 2013 là 16 vụ và
61 bị cáo. Qua kết quả xét xử nói trên cho thấy, giữa các năm có sự khác
nhau về số vụ nhưng số bị cáo ngày càng gia tăng với quy mô, mức độ ngày
càng nghiêm trọng [43].
Trước tình hình đó, các cơ quan chức năng tỉnh Đồng Tháp đã tập trung
lực lượng xử lý loại tội phạm gây rối trật tự công cộng và đã đạt nhiều kết quả
đáng kể. Tuy nhiên, công tác xét xử các vụ án gây rối trật tự công cộng trên
địa bàn tỉnh Đồng Tháp còn có những hạn chế và gặp nhiều khó khăn. Do đó,
vấn đề này ở Đồng Tháp cần được nghiên cứu, tổng kết một cách toàn diện,
có hệ thống. Thông qua việc nghiên cứu sẽ xác định được các nguyên nhân
làm hạn chế công tác xét xử đối với các tội gây rối trật tự công cộng. Trên cơ
sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả xét xử đối với loại tội

sách: "Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999" (tái bản có
sửa chữa, bổ sung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.
6. TS. Trần Minh Hưởng (chủ biên), TS. Đỗ Đức Hồng Hà, TS. Trịnh
Tiến Việt và tập thể tác giả, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công
cộng, trật tự công cộng, Trong sách: "Tìm hiểu Bộ luật hình sự nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và những văn bản hướng dẫn thi hành", Nxb
Lao động, Hà Nội, 2010.
7. TS. Trần Minh Hưởng, Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự
công cộng, trật tự quản lý hành chính, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2002.
8. TS. Nguyễn Đức Mai, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công
cộng, trật tự công cộng, Trong sách: "Bình luận khoa học Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999", Tập thể tác giả, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001.
9. ThS. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học chuyên sâu Bộ luật hình sự
- Phần các tội phạm, Tập VI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự
công cộng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2005.
10. Luật gia Nguyễn Thanh Hải, tội gây rối trật tự công cộng trong

3


Luật hình sự Việt Nam, do TS.Trịnh Tiến Việt (chủ biên), Nxb Công an
nhân dân, 2010.
11. Vũ Thế Công, Trật tự công cộng và một số biện pháp phòng chống
gây rối trật tự công cộng, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2007.
12. Nguyễn Thanh Hải, tội gây rối trật tự công cộng trong Luật hình sự
Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, năm 2010.
13. Phan Vũ Linh, phòng ngừa tội gây rối trật tự công cộng trên địa
bàn thành phố Cần Thơ, Luân văn Thạc sỹ luật học, 2011.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu các công trình trên cho thấy: một số công
trình có phạm vi nghiên cứu rộng, trong đó tội gây rối trật tự công cộng chỉ là

trong những năm gần đây và công tác xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Tháp đối với loại tội phạm này, tìm ra nguyên nhân của thực trạng đó.
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất phương hướng và
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử tội gây rối trật tự công
cộng của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Pháp luật hình sự Việt Nam về tội gây rối trật tự công cộng và thực tiễn
xét xử trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Một số vấn đề chung về tội gây rối trật tự công cộng theo pháp luật
hình sự Việt Nam.
- Thực tiễn xét xử tội gây rối trật tự công cộng tại tỉnh Đồng Tháp.
- Những giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
xét xử tội gây rối trật tự công cộng ở tỉnh Đồng Tháp.
4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về xây dựng Nhà nước và

5


pháp luật, đấu tranh phòng, chống tội phạm; quan điểm của Đảng và Nhà
nước về đấu tranh chống tội phạm nói chung; thành tựu của các chuyên ngành
khoa học pháp lý như lịch sử pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội
phạm học, luật tố tụng hình sự; những luận điểm khoa học trong các công
trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một
số nhà khoa học pháp lý chuyên ngành.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp

Chương 1: Một số vấn đề chung về tội gây rối trật tự công cộng theo
pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng các quy định có liên quan của Bộ luật Hình sự
năm 1999 và thực tiễn xét xử tội gây rối trật tự công cộng
tại tỉnh Đồng Tháp.
Chương 3: Một số phương pháp trong quá trình hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả xét xử tội gây rối trật tự công cộng ở
tỉnh Đồng Tháp.

7


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ
CÔNG CỘNG THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Khái niệm an toàn công cộng, trật tự công cộng
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã viết:
Mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững
chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc,
bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ
vững hoà bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật
tự, an toàn xã hội... [18, tr.7].
Muốn thực hiện được nhiệm vụ quan trọng này, trước tiên phải xây
dựng được hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, bảo đảm Nhà nước quản lý xã hội
bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ,
"pháp chế như là tính thiêng liêng của pháp luật, tính bền vững của các quy
phạm pháp lý... Pháp chế có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật, với bình
đẳng và với sự tuân thủ luật pháp, không một ai, không một người nào có bất

trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế... [13].
Theo quy định của Bộ Luật hình sự hiện hành, tội phạm là hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực
trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế
độ kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh; trật tự, an toàn xã hội; quyền, lợi ích
hợp pháp của tổ chức; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự
do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những
lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [37, tr.6].
Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã nhấn mạnh: “Công dân có nghĩa vụ
tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự,
an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng” [34, tr.26].
An toàn công cộng, trật tự công cộng được coi là điều kiện bảo đảm cho mọi

12


công dân có cơ hội tồn tại, phát triển và sử dụng tốt năng lực, cống hiến của
mình để xây dựng một xã hội văn minh, dân chủ, giàu đẹp, có cuộc sống ấm
no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Các hành vi xâm phạm "an toàn công
cộng, trật tự công cộng" đều gây nên những thiệt hại nhất định cho cuộc sống
bình thường của công dân và cần thiết phải bị xử lý, tùy theo tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi vi phạm mà áp dụng hình thức xử lý khác nhau từ
xử phạt hành chính đến xử lý hình sự.
Để bảo vệ "an toàn công cộng, trật tự công cộng" với tư cách là khách
thể quan trọng được luật hình sự xác lập và bảo vệ, ngay từ Bộ luật hình sự đầu
tiên của nước ta năm 1985, nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công
cộng được xếp chung tại Chương VIII: "Các tội xâm phạm an toàn, trật tự
công cộng, trật tự quản lý hành chính" với ba nhóm quan hệ xã hội được luật
hình sự xác lập và bảo vệ - an toàn công cộng, trật tự công cộng và trật tự quản

chưa nêu dấu hiệu "đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự" như quan điểm đã nêu
trên, vì đây là một dấu hiệu hoàn toàn khác với dấu hiệu "có năng lực trách
nhiệm hình sự".
Mặc dù, về khái niệm "các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự
công cộng" trong khoa học pháp lý có nhiều quan điểm khác nhau, song tựu
trung lại tổng hợp các quan điểm đó vẫn thống nhất trong việc nêu ra bản chất
pháp lý của nhóm tội phạm này. Dưới góc độ khoa học luật hình sự, các tội
xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng bao gồm các quy phạm pháp
luật hình sự, quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do những người
có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực
hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về
an toàn công cộng, trật tự công cộng, gây ra những thiệt hại về tài sản của
Nhà nước, của tổ chức, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công
dân, đồng thời còn xâm phạm đến hoạt động bình thường, ổn định xã hội ở
những nơi công cộng.

15


Từ khái niệm trên, có thể đưa ra một số đặc trưng cơ bản của nhóm tội
này như sau:
Một là, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng là
những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm vào các quy định của Nhà
nước về an toàn công cộng, trật tự công cộng, gây ra những thiệt hại về tài sản
của Nhà nước, của tổ chức, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công
dân, đồng thời còn xâm phạm đến hoạt động bình thường, ổn định xã hội ở
những nơi công cộng.
Hai là, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng là những
hành vi nguy hiểm cho xã hội do những người có đủ năng lực trách nhiệm
hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện.

trật tự công cộng là những hành vi làm phá vỡ sự ổn định của trật tự
công cộng, vi phạm pháp luật, văn hóa, chuẩn mực xã hội, phong tục
tập quán đảm bảo trật tự công cộng làm cản trở hoạt động bình
thường, tuần tự của mọi người tại không gian công cộng [9, tr.25].
Quan điểm này có ưu điểm là đã nêu bật được khách thể của tội phạm
xâm phạm đến, nhưng vẫn chưa nêu cụ thể hành vi phạm tội và dấu hiệu chủ
thể của tội phạm này.
Quan điểm khác cho rằng: "Gây rối trật tự công cộng là hành vi làm
náo loạn trật tự nơi công cộng" [2, tr.13]. Quan điểm này mới chỉ nêu định
nghĩa hành vi gây rối trật tự công cộng chứ chưa làm rõ khái niệm tội gây rối
trật tự công cộng, hơn nữa, hành vi phạm tội khác tội phạm, vì khái niệm tội
phạm đòi hỏi phải đầy đủ như khái niệm trong Điều 8 Bộ luật hình sự năm
1999 được sửa đổi, bổ sung 2009.
Ngoài ra, có quan điểm dựa trên căn cứ là các quy định của Bộ luật
hình sự năm 1999 (Điều 245) để định nghĩa: "Tội gây rối trật tự công cộng là
hành vi gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử
phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status