1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
PHẠM THANH BÌNH
LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ 7 BƢỚC CƠ BẢN
TRONG THỂ DỤC NHỊP ĐIỆU CHO
HỌC SINH NỮ KHỐI 10 TRƢỜNG THPT
ĐA PHÚC - SÓC SƠN - HÀ NỘI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HÀ NỘI – 2012
2
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
PHẠM THANH BÌNH
LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ 7 BƢỚC CƠ BẢN
TRONG THỂ DỤC NHỊP ĐIỆU CHO
HỌC SINH NỮ KHỐI 10 TRƢỜNG THPT
ĐA PHÚC - SÓC SƠN - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Cụng tỏc GDTC v hot ng TDTT trong cỏc trng i hc, Cao ng
v Trung hc ph thụng l mt mt giỏo dc quan trng khụng th thiu c
trong s nghip GD T gúp phn thc hin mc tiờu: Nõng cao dõn trớ, bi
dng nhõn lc, o to nhõn ti cho t nc ỏp ng nhu cu i mi s
nghip phỏt trin kinh t xó hi. Nh- nghị quyết Đại hội VII
của Đảng đã nêu [14]. Chin lc y c th hin trong cỏc ngh
quyt ca ng v chớnh sỏch Nh nc, trong ú tiờu biu nht l ch th s
36-CT/TW ngy 23/4/1994, ca ban bớ th Trung ng ng cng sn Vit
5
Nam v cụng tỏc th dc th thao trong giai on mi. Ch th khng nh
Phỏt trin th dc th thao l b phn quan trng trong chớnh sỏch phỏt trin
kinh t - xó hi ca ng v nh nc nhm bi dng phỏt huy nhõn t con
ngi, cụng tỏc th dc th thao phi gúp phn tớch cc nõng cao sc khe,
th lc, giỏo dc nhõn cỏch, o c li sng lnh mnh, lm phong phỳ i
sng tinh thn ca nhõn dõn, nõng cao sc lao ng v sc chin u ca lc
lng v trang.
Vì vậy trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VII có viết: Công tác TDTT cần coi trọng
nâng cao chất l-ợng GDTC trong tr-ờng học tổ chức
h-ớng dẫn và vận động đông đảo nhân dân tham gia rèn
luyện thân thể hàng ngày [14]. Tp luyn TDTT lm con
ngi khe mnh, nhanh nhn, linh hot hn. TDTT cũn em li cho con
ngi v p hn nhiờn, tinh thn sng khoỏi, giỳp con ngi phỏt trin cỏc t
cht nhanh, mnh, bn, khộo lộo. Mt khỏc tp luyn TDTT cũn ỏp ng nhu
cu hng th cỏc giỏ tr v vn húa, to ra bu khụng khớ ho hng vui ti
trong cuc sng, thỳc y tinh thn sỏng to vn lờn mt tng cao mi vt
c kh nng ca chớnh mỡnh
cập đến việc lựa chọn bài tập nâng cao hiệu quả 7 bước cơ bản trong TDNĐ.
Trên cơ sở phân tích ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề chúng tôi tiến
hành đi sâu nghiên cứu đề tài:
“ Lựa chọn một số bài tập nâng cao hiệu quả 7 bƣớc cơ bản trong
TDNĐ cho học sinh nữ khối 10 trƣờng THPT Đa Phúc - Sóc Sơn - Hà
Nội”
*Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu đề tài là tìm ra những bài tập phù hợp nhất nhằm
nâng cao hiệu quả 7 bước cơ bản trong TD NĐ cho học sinh nữ khối 10
7
trường THPT Đa Phúc – Sóc Sơn – Hà Nội, tạo tiền đề cho học sinh đạt thành
tích cao trong học tập.
8
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trong giai đoạn giáo dục – đào tạo hiện nay Đảng và Nhà nƣớc đề ra
nhiệm vụ, mục tiêu và yêu cầu đối với giáo dục thể chất trong trƣờng
học.
Giáo dục thể chất cho các học sinh tại các trường THPT là vấn đề được
Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo kể cả thời kỳ đất nước còn gặp nhiều
khó khăn. Ngay từ khi thành lập chính quyền (1945) Đảng và Nhà nước ta đã
hết sức coi trọng công tác giáo dục con người phát triển toàn diện, coi đây là
tài sản của đất nước. Các văn bản pháp lý của Nhà nước ta đều nhấn mạnh
TDTT là công tác cách mạng, là công cụ tác động tích cực đến đời sống của
lượng giáo dục thể chất trong trường học. Đại hội Đảng lần VII (1991) tiếp
tục nhấn mạnh “Công tác TDTT cần coi trọng nâng cao chất lượng GDTC
trong trường học”. Đại hội cũng thông qua ổn định và phát triển kinh tế - xã
hội đến năm 2000, trong đó khẳng định “Bảo vệ nâng cao sức khoẻ và thể
chất nhân dân, chống suy dinh dưỡng trong trẻ em, tăng chiều cao, cân nặng
thế hệ trẻ”.
Đến Đại hội lần thứ VII (1991) đặt vị trí chủ chốt của con người với tầm
chiến lược sâu sắc của thời kỳ mới. Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của
bản thân con người, đồng thời là vốn quý tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho
xã hội. Vậy GDTC nhằm phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho
sự phát triển nhanh bền vững. Do đó, Ban bí thư Trung ương Đảng cộng sản
Việt Nam đã có chỉ thị 36/CT-TW về công tác TDTT trong giai đoạn mới,
trong đó nhấn mạnh “Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học
làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của học sinh, sinh
viên…”
Trước thực trạng khó khăn về nhiều mặt trong phát triển TDT, Chính phủ
đã ban hành chỉ thị số 133/TTg ngày 07/03/1995 về việc xây dựng quy hoạch
10
phát triển ngành TDTT trong đó tiếp tục yêu cầu Bộ Giáo dục – đào tạo cần
đặc biệt coi trọng giáo dục thể chất trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng
dạy thể dục nội khoá, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh,
sinh viên ở các cấp học, bậc học.
Tóm lại, công tác GDTC trong trường học góp phần chăm lo sức khoẻ và
phảt triển thể chất cho thế hệ trẻ được Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng
trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Đây cũng là mục tiêu cơ
bản quan trọng nhất trong giáo dục con người phát triển toàn diện nhằm đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.
đã nghiên cứu và cho thấy rằng: Các bài tập TDNĐ có ý nghĩa rất lớn để củng
cố sức khoẻ, làm đẹp cơ thể và nâng cao khả năng làm việc. Chính vì vậy các
bài tập có thể biên soạn để phù hợp khả năng các đối tượng nên tác động tích
cực vào tất cả các hệ thống cơ bản trong cơ thể con người.
1.2.2.1. Hệ tim mạch:
Máu chảy qua tim theo các động mạch, đi khắp cơ thể cung cấp oxy và
các chất dinh dưỡng tới các tế bào của cơ thể, thải các chất độc hại cũng như
vận chuyển các chất khác nhau từ cơ quan này đến cơ quan khác rồi trở về tim
tạo thành một hệ thống nhất.
Tim được coi như một máy bơm được chế tạo bằng cơ, có khối lượng từ
200 – 250g đẩy máu theo các động mạch đến toàn bộ các phần của cơ thể
trong một đời người có thể vận chuyển 250.000 tấn máu (tần số nhịp đập của
tim) còn gọi là nhịp tim. Ở trạng thái bài tập tần số co bóp từ 60 – 80 lần/phút.
Khi vận động với khối lượng lớn và cường độ cao thì nhịp đập của tim có thể
đạt gần đến giới hạn cao nhất, tuy nhiên nó còn phụ thuộc vào lứa tuổi, giới
tính và trình độ.
Việc tăng nhịp đập của tim trong khi vận động đảm bảo cho việc cung cấp
một lượng máu lớn trong toàn cơ thể.
12
Tim rất nhạy cảm với hoạt động cơ bắp trong những giây đầu tiên tần số
nhịp đập của tim tăng rất nhanh, cân đối với những hoạt động trong thời gian
dài, các hoạt động có tính chu kỳ thì tần số nhịp đập của tim có sự xê dịch
lớn.
Như vậy bài tập TDNĐ có sự tham gia của các nhóm cơ lớn (đá chân,
nhảy, bật…) thì tần số nhịp tim rất cao, đối với các bài tập thả lỏng thì tần số
nhịp đập của tim đạt dến giá trị giới hạn.
* Các nhân tố ảnh hưởng tới nhịp đập của tim:
Chính vì vậy trong quá trình xây dựng tổ hợp các bài tập và tiến hành
giờ học càn phải tính đến các đặc điểm của hệ tuần hoàn nếu không sẽ gây ra
những hậu quả đáng tiếc cho người tập.
Không nên dừng lại đột ngột sau khi thực hiện khối lượng bài tập cao,
thậm chí chỉ nhằm mục đích xác định nhịp mạch đập. Điều đó chỉ dẫn đến sự
tích máu ở các cơ quan nằm ở dưới tim,kết qủa làm giảm sự bơm máu của
tim. Áp suất động mạch giảm có thể làm người tập bị ngất.
Ở người mới tập không cần phải thay đổi cường độ và đặc tính bài tập,
điều đó chỉ dẫn đến làm thay đổi nhịp đập của tim. Đối với người mới tập, sự
chuyển đổi cần phải từ từ.
Sự chuyển đổi nhanh sẽ gây phản ứng bất lợi cho cơ thể đặc biệt là ở
những người bị bệnh tim mạch.
1.2.2.2. Hệ vận động:
Ít vận động sẽ hướng dẫn đến ảnh hưởng thành phần cấu tạo của xương
làm cho xương trở nên xốp và yếu. Đặc biệt, ít vận động thường dẫn đến sự
vôi hoá cột sống. Bệnh này thường gặp ở những người lớn tuổi, trung niên khi
hoạt động thể dục thì các xương sẽ đạt được đủ lượng canxi cần thiết và trở
nên cứng cáp hơn.
Đặc biệt có ý nghĩa nếu như ngay từ nhỏ đã tham gia luyện tập thể dục
tích cực thì các hoạt động thể dục đúng sẽ giúp cho việc hình thành và phát
14
triển cơ thể khoẻ mạnh, cân đối. Trong đó các bài tập TDNĐ hiện đại về tạo
dáng sẽ giúp cho việc tăng trưởng chiều dài của xương, giúp các sợi cơ dầy
lên và rắn chắc.
Các bài tập có khả năng làm trẻ hoá các khớp xương, các đĩa sụn, cột
sống, đảm bảo cung cấp và nuôi dưỡng chúng tốt hơn, loại bỏ bớt lượng muối
trong chúng.
tuổi có biểu hiện các hoạt động vận động ở mức thấp thì sẽ có các chỉ số bất
lợi ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý sau này của trẻ.
Trong điều kiện không có sự vận động thì não dường như không nhận
được những thông tin phản hồi do số lượng các tín hiệu thần kinh bị suy giảm.
Còn nếu thiếu hụt những kích thích về những xúc cảm cũng như các mối
tương quan xã hội thì nó trở thành nhân tố nguy hiểm sẽ gây rối loạn tâm lý
như: Lo lắng, ảo giác, hoang tưởng, ăn không ngon…
Nếu được tập luyện lâu dài TDNĐ có ảnh hưởng lớn đến việc tạo dựng
nhân cách, nâng cao sức khoẻ, nâng cao khả năng chống lại bệnh tật, tạo dáng
đẹp, khoẻ khoắn và tự tin.
Dưới tác động của bài tập nói chung, con người trở nên năng động không
chỉ trong thể thao mà cả những lĩnh vực hoạt động khác. Con người trở nên
năng động có ý chí hơn, duyên dáng, hấp dẫn và cứng rắn hơn trước những tai
hoạ, vui vẻ và hoà nhã với mọi người, sinh vật, thiên nhiên xung quanh mình.
1.2.3. Phát triển các tố chất thể lực trong TDNĐ:
1.2.3.1. Độ dẻo:
- Có độ dẻo tốt sẽ giúp các bạn phần nào tránh được chấn thương trong
cuộc sống và tập luyện Aerobic. Bởi vì nếu cơ thể không đủ mạnh, khớp
không đủ dẻo rất dễ dẫn đến những hoạt động sai lệch, phá vỡ làm đau các bộ
phận này.
- Có độ dẻo tốt khiến cho các cử động của cơ thể trở nên uyển chuyển
đẹp đẽ.
16
- Để tăng chỉ số của độ dẻo cần phải thực hiện trong từng giờ học và củng
cố ít nhất 2 – 3 lần tập trong một tuần. Biên độ thực hiện động tác phải được
tăng từ từ để tránh gây chấn thương ở các khớp.
1.2.3.2. Sức mạnh:
- Thực hiện bài tập bằng phương pháp dòng chảy có ý nghĩa là khi thực
hiện bài tập giữa các động tác không có sự gián đoạn (trừ động tác tĩnh).
- Người thị phạm, hướng dẫn cần cố gắng sử dụng ít nhất lời giải thích để
tăng hiệu quả bài tập.
* Đặc điểm biên soạn bài tập cho học sinh trung học phổ thông:
- Bài tập vừa đủ độ khó trong phối hợp vận động.
- Chủ yếu là các bài tập phối hợp tay không bật, nhảy.
- Có các bài tập phát triển tố chất.
1.3.2. Nguyên tắc biên soạn:
- Bài tập có nhạc, âm nhạc phải phù hợp.
- Bài tập phải phù hợp với lứa tuổi của học sinh nữ trường THPT
Đa Phúc - Sóc Sơn – Hà Nội.
- Bài tập biên soạn phải có tác dụng tốt đối với từng nhóm cơ, đặc biệt là
những nhóm cơ nhỏ.
- Thời gian tập 45’.
1.3.3. Yêu cầu đối với người tham gia tập luyện:
- Kiểm tra sức khoẻ ban đầu và phải được sự đồng ý của bác sĩ.
- Thời gian tập luyện trong một tuần 3 buổi.
- Phải thực hiện động tác với các tư thế đúng để có tác dụng tốt với nhóm
cơ nói chung và cơ thể nói riêng.
- Phương pháp tập phải tập cho tới mỏi mới chuyển sang động tác khác.
18
1.4. Cấu trúc và phƣơng pháp biên soạn bài tập TDNĐ
1.4.1. Cấu trúc buổi tập:
Phải tuân thủ theo một cấu trúc chung của buổi tập gồm 3 phần:
- Phần chuẩn bị (còn gọi là phần khởi động).
- Phần cơ bản (phần chính).
Trong một giờ học với thời gian ngắn.
Ví dụ: Thể dục buổi sáng.
Kéo dài 15’ thì phần chuẩn bị có thể trở thành nội dung chính của buổi
học, so vậy phần khởi động chỉ có thể là dạng khác nhau của đi bộ. Điều đó
một lần nữa khẳng định quy tắc chia giờ học ra thành từng phần.
* Phần chính: Chiếm 80 – 85 % tổng số thời gian.
- Nhiệm vụ chính của phần cơ bản là phát triển các tố chất.
+ Bài tập thực hiện ở phần cơ bản bao gồm các động tác khác nhau của các
bộ phận cơ thể khác nhau và được phối hợp với nhau.
+ Các nhóm cơ lần lượt tham gia vận động, đòi hỏi hình thức phải luôn
thay đổi, lực co kéo và thả lỏng nhanh các chu kỳ vận động.
+ Cần phải luân phiên các nhóm cơ lớn thời gian động tác sẽ đảm bảo
những chu kỳ lặp lại có hiệu quả phát triển sức mạnh và duy trì khả năng phát
triển sức bền.
- Tuần tự động tác của những nhóm cơ lớn:
+ Vai ngực và chi trên.
+ Cử động của thân với sự tham gia của các nhóm cơ lớn phía trước vào
bên thân.
+ Cuối cùng là các cử động dùng sức ở dưới chi (chạy, nhảy, bước di
chuyển).
Giữa các tổ hợp động tác cần xen kẽ các động tác như chạy, nhảy, hoặc
vận động liên kết được điều chỉnh theo từng đặc tính.
20
Bài tập nhảy không nên dừng đột ngột.
- Số lượng những tổ hợp trong phần cơ bản có thể gồm từ 6 – 7 tổ hợp bài tập
thể dục buổi sáng 15’ thông thường chỉ sử dụng một tổ hợp.
+ Một tổ hợp bài tập của phần cơ bản thường được cấu tạo từ một nhóm
+ Tổ hợp 6: Tiếp tục chạy và nhảy.
Ở tổ hợp 3 và 5 cơ thể kết hợp dụng cụ: gậy, tạ, dây, ghế...
Cảm xúc giờ học được nâng lên nếu như tổ hợp 3 được tiến hành theo từng
cặp.
* Phần kết thúc: Chiếm 5 – 15% thời gian buổi tập. Đây là phần sau của bài
tập. Với nội dung các động tác mang tính chất hồi tĩnh bao gồm các cử động
tương đối nhẹ nhàng, ít dùng sức mạnh tốc độ chậm rãi. Vận động đặc trưng
duy trì những tư thế có lợi cho sự tăng cường hô hấp và thả lỏng đến mức tối
đa và thường được bao gồm một số tổ hợp sau:
+ Tổ hợp 1: Gồm nhóm bài tập thở và động tác thả lỏng.
+ Tổ hợp 2: Gồm các bài tập điều hoà tâm lý.
+ Tổ hợp 3: Gồm các liên kết nhảy đơn giản nhằm phát triển khả năng
phối hợp vận động.
1.4.2. Phương pháp biên soạn:
Các động tác lựa chọn đưa vào bài tập cần phong phú và đa dạng. Do
vậy khi biên soạn giáo án phải xác định mục đích cần phát triển của đối tượng
tập luyện như phát triển , tăng cường sức khoẻ, hoàn thiện kỹ năng phối hợp
vận động, sữa chữa tư thế cơ bản để hình thành tổ hợp cần hướng và giải
quyết các nhiệm vụ cụ thể: quá trình hình thành các tổ hợp (các bước để biên
soạn giáo án) bao gồm các bước sau:
* Bước 1: Xác định số lượng tổ hợp.
- Tính cân đối các tổ hợp trong buổi tập.
- Nội dung chính ( sử dụng dụng cụ nào, ở vị trí nào).
22
- Sắp xếp lịch và sơ đồ tổng hợp.
* Bước 2: Xác định nhóm động tác trong từng tổ hợp sự chỉ dẫn và hướng giải
quyết.
Đối với TDNĐ mang tính biểu diễn cần phải soạn động tác trên nền nhạc đã
có sẵn.
*Bước 6: Ghi nhớ tổ hợp bài tập.
Đây là công việc hết sức tỉ mỉ và nặng nhọc, đòi hỏi người giáo viên
ngoài có sự ghi nhớ tốt động tác còn cần phải có khả năng chuẩn bị thể lực
tốt.Những khi giảng dạy không loại bỏ sự ngẫu hứng của động tác.
Sự ngẫu hứng ở đây phụ thuộc rất nhiều vào khả năng chuyên môn của
giáo viên. Mức độ chuẩn bị chuyên môn càng cao thì khả năng ngẫu hứng
động tác càng rộng rãi.
1.5. Phƣơng pháp giảng dạy TDNĐ.
Trong quá trình giảng dạy phải luôn kiểm tra các hoạt động của học sinh
có thể tự kiểm tra bằng cách sử dụng gương làm mẫu phải đẹp dễ hiểu, tất cả
các động tác phải được thực hiện theo hướng khác nhau.
Khi chỉ dẫn bài tập cho học sinh cần phải chỉ dẫn trực tiếp và phải chỉ
dẫn theo hướng cùng chiều học sinh. Cách tốt nhất là lưng hướng về phía học
sinh, mặt đối diện với gương sẽ tạo điều kiện cho học sinh tăng khả năng nhìn
nhận, tự kiểm tra các động tác mà mình được học.
Khi dạy TDNĐ phải đảm bảo các nguyên tắc sư phạm là: dễ hiểu, dễ
nhìn, chắc chắn, cẩn thận, có hệ thống, độ khó của bài tập phải phù hợp với
khả năng của học sinh. Cường độ bài tập và độ khó, sự đa dạng của bài tập
phải được nâng cao dần.
1.6. Nguyên tắc sắp xếp các bài tập trong nhóm.
- Bắt đầu bằng nhóm động tác đơn giản và cấu trúc chuyển động, không
đòi hỏi sự căng thẳng và chú ý cao với mục đích để nâng dần thể lực. Tiếp thu
được vào các động tác khó khăn và cuối cùng là sắp xếp các bài tập phối hợp
vận động phức tạp yêu cầu khả năng phối hợp cao.
24
năng phân tích tổng hợp, muốn hiểu biết nhiều, có nhiều hoài bão, nhưng còn
nhiều nhược điểm và thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống.
Ở lứa tuổi này hình thành thế giới quan, tự ý thức, hình thành tính cách
và hướng về tương lai. Đó cũng là lứa tuổi của lãng mạn, mơ ước độc đáo và
mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
Hứng thú: Các em đã có thái độ tự giác tích cực trong học tập xuất phát
từ động cơ học tập đúng đắn và hướng tới việc lựa chọn nghề sau khi đã học
xong THPT. Song hứng thứ của các em chưa bền vững, nên giáo viên cần
định hướng cho các em xây dựng động cơ đúng đắn để cho các em có được
hứng thú, định hướng trong học tập nói chung và trong GDTC nói riêng.
Tình cảm: Các em đã biểu hiện rõ rệt tình cảm gắn bó và yêu quý mãi
trường mà các em sắp phải xa, đặc biệt đối với các giáo viên giảng dạy các
em (yêu, ghét rõ ràng). Do vậy, giáo viên phải là người mẫu mực, công bằng,
biết động viên kịp thời và quan tâm đứng mực tới học sinh, tôn trọng kết quả
học tập cũng như tình cảm của học sinh.
Trí nhớ: ở lứa tuổi này, hầu như không tồn tại việc ghi nhớ máy móc do
các em đã biết các ghi nhớ một cách có hệ thống, đảm bảo tính lôgic, tư duy
sâu hơn và lĩnh hội được bản chất vấn đề cần học tập. Do vậy, giáo viên có
thể sử dụng phương pháp trực quan kết hợp với giảng giải phân tích các chi
tiết kỹ thuật động tác, vai trò, ý nghĩa phương pháp, phương tiện trong GDTC
để các em có thể tự lập một cách độc lập nhất định.
Các phẩm chất ý trí rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn so với các lứa tuổi
trước đó. Các em có thể hoàn thành được những bài tập khó và đòi hỏi sự
khắc phục khó khăn lớn trong học tập.
1.8.2. Đặc điểm sinh lý học sinh trung học phổ thông
1.8.2.1. Đặc điểm hệ thần kinh.
Hệ thần kinh tiếp tục được phát triển đi đến hoàn thiện, khả năng tư duy,
phân tích, tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển tạo điều kiện cho việc
hình thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện.