những thách thức trong quá trình hội nhập của Liên Minh Châu Âu về khía cạnh an ninh – đối ngoại. - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA QUỐC TẾ HỌC

TIỂU LUẬN
MÔN: NHẬP MÔN CHÂU ÂU HỌC
Đề tài:

NHỮNG THÁCH THỨC TRONG QUÁ TRÌNH
HỘI NHẬP CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU TRÊN
PHƯƠNG DIỆN AN NINH ĐỐI NGOẠI

Nhóm 6

K53– Quốc tế học

GV

TSKH. Lương Văn Kế

Hà Nội 10/2011
DANH SÁCH PHÂN CÔNG NHÓM 6
1


TÊN
Nguyễn Xuân Quỳnh

NHIỆM VỤ
- III.3, “Những thách thức của EU trong quá trình
hội nhập về an ninh_ đối ngoại sau hiệp ước

I, Tổng quan về chính sách đối ngoại của EU…………………………………...5

II, Những thách thức của EU trong quá trình hội nhập về an ninh_đối ngoai
2.1., Giai đoạn trước hiệp ước Msastricht………………………………..6
2.2, Giai đoạn sau hiệp ước Maastricht đến trước Lisbon………………..9
2.3, Giai đoạn sau hiệp ước Lisbon.……………………….………........16

Kết luận………………………………………………………………………….
21
Tài liệu tham khảo……………………………………………………………….22

LỜI MỞ ĐẦU
3


Liên minh châu Âu (European Union – viết tắt là EU) là một liên minh kinh tế
chính trị bao gồm 27 quốc gia thành viên thuộc châu Âu. EU được thành lập trên khuôn
khổ Hiệp ước Masstricht vào ngày 1 tháng 11 năm 1993 dựa trên nền móng có sẵn là Cộng
đồng Kinh tế châu Âu (European Economic Community– EEC). Từ khi thành lập đến nay,
Liên minh châu Âu liên tục phát triển và trở thành một trong những trung tâm của thế giới
về kinh tế cũng như chính trị. Tổ chức này đã trải qua những giai đoạn liên kết về nhiều
mặt và ngày nay đóng một vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế, đặc biệt là ở châu Âu.
Liên minh Châu Âu (EU) là một phức hợp chính trị đặc biệt bao gồm nhiều thiết chế được
hình thành theo các phương pháp khác nhau và hoạt động theo những nguyên tắc chuyên
biệt nhưng lại gắn kết với nhau một cách chặt chẽ. Các thể chế của EU không tự nhiên ra
đời, mà là sản phẩm của một quá trình vận động và phát triển liên tục hơn năm mươi năm
nhằm duy trì hòa bình, ổn định và thúc đẩy phát triển, thịnh vượng trên mảnh đất châu Âu.
Sở dĩ EU là một mô hình hội nhập thành công nhất trong lịch sử bởi trong suốt quá trình
tồn tại và phát triển, hệ thống các thiết chế luôn được phát triển và bổ sung hướng đến mục
tiêu xây dựng một châu Âu “thống nhất trong đa dạng”. Với việc kết nạp thêm 10 nước

minh Châu Âu trong tương lai.

I, TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH AN NINH ĐỐI NGOẠI CỦA EU:

5


Chính sách đối ngoại và an ninh chung của Châu Âu (CFSP) đã phát triển trong
một thời gian dài và đã không còn là một vấn đề mới đối với EU. Bắt đầu từ ý tưởng được
để ra trong kế hoạch Pleven đến việc đưa ý tưởng này ra hội nghị, diễn đàn. Từ đó, hình
thành nên những hợp tác chính trị của một số khu vực tại Châu Âu và tiến tới xây dựng
thành một cơ chế có tính pháp lý trong các hiệp ước như hiệp ước Maastricht và Lisbon.
Trong lịch sử phát triển của liên minh này đã không ít lần mong muốn về một cơ chế đối
ngoại an ninh chung được biểu hiện. Và hơn bao giờ hết, Eu luôn muốn có một Bản sắc
chung về an ninh, chủ động trong các hoạt động ngoại giao và quân sự để duy trì ổn định
khu vực và độc lập trong hành động và suy nghĩ. Chính vì thế mà mục đích ra đời một
chính sách đối ngoại và an ninh chung gồm 3 mục đích:1
+ Thứ nhất là để tăng cường khả năng giải quyết xung đột, và duy trì ổn định khu
vực, thúc đẩy tiến trình “nhất thể hóa Châu Âu”
+ Thứ hai là Eu muốn có một lực lượng phòng thủ riêng
+ Thứ ba là sự độc lập trong đối ngoại và an ninh sẽ làm tăng cường hình ảnh của
EU trên trường quốc tế
Xuất phát từ mục đích đó, trong báo cáo tóm tắt trước Nghị viện Châu Âu năm
2009 nội dung chính trong chính sách đối ngoại và an ninh chung của EU đã đề cập tới
những vấn đề sau.
1, Bối cảnh và những thách thức mà thế giới nói chung và khu vực nói riêng đang
phải đối mặt. Trong các vấn đề về quốc tế, chính sách đối ngoại và an ninh chung của EU
tập trung vào các vấn đề về việc phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, chủ nghĩa khủng bố,
an ninh năng lượng, biến đổi khí hậu…Đối với khu vực, những vấn đề đặt ra cho chính
sách đối ngoại và an ninh chung của EU là xung đột khu vực ở Châu Á, Trung Đông, Châu

- Tăng cường quyền sở hữu khu vực
Bản báo cáo thực hiện năm 2008 đã nhấn mạnh rằng “cách giải quyết tốt nhất cho
các xung đột cần phải trói buộc tất cả các nước trong khu vực với nhau bằng nguyên tắc
chung về hòa bình. Tổ chức khu vực cần có vai trò mấu chốt cho vấn đề này. EU đóng góp
tầm quan trọng đặc biệt trong việc thúc đẩy sự tự chịu trách nhiệm thông qua mối quan hệ
của EU với các tổ chức khu vực và bằng các hợp tác nội và ngoại khu vực.
4, Ủng hộ, thúc đẩy nền dân chủ, nhân quyền, và hệ thống luật pháp, đặc biệt trong
các lĩnh vực bình đẳng giới và quyền cho phụ nư và trẻ em. Đặc biệt quan tâm và thúc đẩy
vấn đề nhân quyền tại một số nước Châu Á và Trung Đông. Cuộc chiến chống lại tội phạm
thông qua sự hợp tác hỗ trỡ và liên kết với các tổ chức pháp lý như Tòa án quốc tế.
5, Củng cố quan hệ với các đối tác chiến lược ở các khu vực trên thế giới: Mỹ, Nga,
Trung Quốc, Ấn Độ, Mexico, Brazil, Nhật Bản, Canada, Nam Phi.
Để cho ra đời được những nội dung như trên, Liên minh Châu Âu đã phải trải qua
một thời kì phát triển lâu dài hơn 50 năm với vô vàn những khó khăn và thách thức.

II, NHỮNG THÁCH THỨC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP CỦA LIÊN
MINH CHÂU ÂU TRÊN KHÍA CẠNH AN NINH ĐỐI NGOẠI
2.1, GIAI ĐOẠN TRƯỚC HIỆP ƯỚC MAASTRICHT

7


Có thể nói ý tưởng của việc hình thành một chính sách an ninh đối ngoại chung của
Liên minh Châu Âu đã được ra đời từ rất sớm.
Năm 1950 kế hoạch Pleven ra đời với ý tưởng thành lập Cộng đồng phòng thủ châu
Âu (EDC) giữa 6 nước sáng lập cộng đồng than thép. Cụ thể là “xây dựng 1 quân đội
chung dưới sự lãnh đạo chung của Bộ trưởng phòng thủ châu Âu” và “tổ chức các cuộc
họp định kỳ bàn về CSĐN chung”. Mặc dù là kế hoạch đầy tham vọng của EU tuy nhiên
tại thời điểm đó kế hoạch đã không thành công. Nguyên nhân là của sự thất bại này là sau
Chiến tranh thế giới thứ II, Châu Âu là khu vực bị tàn phá một cách nặng nề về mọi mặt.

viên về ý đồ liên kết chính trị.
Phải mãi tới năm 1969, tại hội nghị thượng đỉnh Hague, các nước thành viên mới
quyết định xem xét việc đưa ra một CSĐN chung. Năm 1970 hợp tác chính trị châu Âu
(EPC) ra đời. Tuy nhiên EPC ra đời thực chất chỉ như một “sự thỏa hiệp”, nhắm đáp ứng
với nhu cầu phát triển về kinh tế đối ngoại chứ các quốc gia thì chưa muốn bị phụ thuộc.
Chính vì vậy, tại thời điểm này, EPC mới chỉ dừng ở mức độ “hợp tác” chứ không được
thành lập bằng 1 hiệp ước. EPC không có một cơ sở pháp lý hoặc một thể chế hoạt động
chính thức. EPC hợp tác chỉ dựa trên cơ sở tự nguyện và các nước thành viên hoàn toàn
độc lập. Tóm lại, EPC không có tính ràng buộc cao và phải đòi hỏi hợp tác tự nguyện.
Bối cảnh quốc tế cuối những năm 70, đầu những năm 80 đang là giai đoạn cuối của
chiến tranh lạnh. Ở khu vực Châu Âu gặp nhiều biến động trong đó nổi bất là sự có mặt
của Liên Xô ở Afganistan và chiến tranh hồi giáo ở Iran. Vì vậy, EPC buộc phải xem xét
việc tăng cường và nâng cao vai trò trên trường quốc tế. Năm 1974 Hội đồng châu Âu ra
đời đã tạo một điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp về chính trị trong liên minh. Đây là
nơi để các nguyên thủ quốc gia trao đổi và phối hợp chính sách với nhau. Năm 1975 Hội
nghị về an ninh và hợp tác châu Âu (CSCE) được thành lập. Một tổ chức an ninh và hợp
tác châu Âu gồm Tây Âu và Nga. Đây là lần đầu tiên trong diễn đàn, các nước châu Âu thể
hiện được sự thống nhất cho thấy dấu hiệu các nước sẵn sàng từ bỏ một phần sự độc lập
trong CSĐN để đạt một mục tiêu chung.
Năm 1981 London Report được thông qua nhằm củng cố EPC, ưu tiên việc tham
vấn giữa các các thành viên và Ủy ban châu Âu về các vấn đề đối ngoại tác động đến tất cả
thành viên. Nhưng nó vẫn chỉ là “hợp tác” chứ không có tính pháp lý nên mức độ ảnh
hưởng là không đánh kể. Nhưng cộng đồng Châu Âu đã bắt đầu cho thấy những dấu hiệu
cho việc sẵn sàng hợp tác trong lĩnh vực an ninh đối ngoại. Năm1986, EPC được chính
thức công nhận trong Định ước châu Âu thống nhất. Khẳng định các nước thành viên sẽ
“nỗ lực tham gia thiết lập và thực hiện một CSĐN chung của cộng đồng”. EPC đã không
còn chỉ dừng lại ở hợp tác mà đã trở thành cơ chế, có mục tiêu hoạt động. Mục tiêu của
EPC được mở rộng ra tất cả các vấn đề đối ngoại liên quan đến các quyền lợi chung. Cuối
cùng sau 17 năm ban hành EPC chính thức có cơ sở pháp lý thực sự và đồng thời thể hiện
rằng Cộng đồng Châu Âu ý thức được vai trò của Chính sách đối ngoại chung, đó là điều

phải đối phó với một địch thủ mạnh hơn mình về nhiều mặt như Liên Xô trước đây, Liên
minh Châu Âu đang có cơ hội thoát khỏi sự phụ thuộc vào Mỹ, nắm lấy sự độc lập thực sự
và toàn diện cho chính mình đồng thời xây dựng vị thế trên trường quốc tế. Tuy nhiên,
những thách thức mới như cuộc xung đột sắc tộc tôn giáo ở Nam Tư, sự cạnh tranh của
Mỹ, Nhật, những dòng người tị nạn vì nguyên nhân kinh tế, chính trị... Một Đông Âu bất
ổn và nhiều biến động sẽ ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến vấn đề an ninh nội bộ của EU.
Một nước Đức thống nhất sẽ vừa là sự lo ngại của các quốc gia khác về một nước Đức
3

Đào Huy Ngọ, Liên minh châu Âu, Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 1995, trang 129

10


hùng mạnh nhưng bá quyền. Sự mất cân bằng giữa Pháp và Đức, trụ cột của cộng đồng có
nguy cơ bị phá vỡ. Nhưng nước Đức cũng có thể trở thành một “đầu tàu” lôi kéo sự phát
triển của các quốc gia Châu Âu nói riêng và liên minh Châu Âu nói chung. Cùng với đó là
những phản ứng khác nhau của các nước thành viên về cuộc chiến tranh vùng Vịnh mà sâu
xa trong đó là mối quan hệ với Mỹ. Anh thì ủng hộ, Pháp và Đức thì cố gắng giữ vai trò
trung lập, các quốc gia khác thì khá dè dặt. Như vậy, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn,
các nước Tây Âu và Cộng đồng Châu Âu đã phải đứng trước một loạt vấn đề nan giải, đỏi
hỏi mạnh mẽ sự làm chủ trong các quyết định về đối nội và đối ngọai. Trong khi đó, “Cộng
đồng Châu Âu là một tên khổng lồ về kinh tế, một chú lùn về chính trị và một con sâu về
quân sự”. Sự bất đồng trong chính sách đối ngoại của các thành viên đòi hỏi sự cần thiết có
một bộ máy, một cơ chế giúp EU hoạt động với tư cách là một tổ chức thống nhất trên
trường quốc tế.
Tất cả đã thúc đẩy việc EC quyết định thay thế EPC bằng chính sách đối ngoại và an
ninh chung (CFSP) được qui định trong hiệp ước Maastricht. "Chính sách đối ngoại và
an ninh chung sẽ bao gồm tất cả các vấn đề liên quan đến an ninh của Liên minh bao
gồm một khuôn khổ cuối cùng của một chính sách quốc phòng chung có thể dẫn tới

Vì vậy, lực lượng phản ứng nhanh ra đời đã tạo cho EU một khả năng giải quyết khủng
hoảng quân sự thực sự tại châu Âu và một số khu vực có lợi ích sát sườn với Tây Âu mà
không có sự lãnh đạo hay tham gia của Mỹ. Mục tiêu của EU là có thể tiến hành các hoạt
Reinmund Seidelmann, Problems and Prospects of the Common Foreign and Security
Policy (CFSP) and European Security and Defence Policy (CESDP): A German View.
5 Nguyễn Diệu Hương, Thành lập lực lượng phản ứng nhanh EU: Hệ quả tất yếu của cuộc
chiến Kosovo?, http://hocvienngoaigiao.org.vn
4

12


động quân sự riêng ở những nơi mà NATO không tham gia để đảm nhận trách nhiệm lớn
hơn về an ninh khu vực chủ yếu trong biên giới EU, và nếu cần thiết cả ở bên ngoài biên
giới. Do vậy quyết định về Lực lượng phản ứng nhanh chính là một bước tiến trong việc
khẳng định một bản sắc an ninh và phòng thủ châu Âu trong NATO, thực hiện chính sách
đối ngoại chung, giúp Tây Âu từng bước giải quyết các vấn đề an ninh của chính mình.
Theo đó, nếu bấy lâu nay châu Âu vẫn luôn được coi là có thế mạnh về chính trị và kinh tế
thì quyết định này sẽ giúp biến những thế mạnh đó của Tây Âu từng bước chuyển hoá có
hiệu quả thành sức mạnh quân sự. Thông qua việc lập ra một khả năng an ninh có hiệu quả,
EU có thể sử dụng những công cụ sẵn có để đưa châu Âu tiến một bước dài gần tới vị thế
ngang bằng hơn về chính trị với Mỹ, tiếng nói có trọng lượng hơn với thế giới. Hơn thế,
theo chiều ngược lại, việc phát triển sức mạnh quân sự sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế bởi lẽ xây dựng một lực lượng quân sự sẽ đòi hỏi phải hiện đại hoá sức mạnh quân sự,
phát triển các loại vũ khí mới. Điều này sẽ giúp tạo ra công ăn việc làm, giải quyết phần
nào vấn đề thất nghiệp của Tây Âu. Do đó, những lợi ích kinh tế này sẽ là một trong những
nhân tố thúc đẩy liên minh quân sự trong vài năm đầu tiên tồn tại của nó. Ngoài ra, một lợi
ích nữa cũng cần được tính đến, đó là quyết định này sẽ đem lại một di sản lịch sử cho
chính bản thân từng cá nhân các nhà lãnh đạo EU. Lịch sử hình thành và phát triển của
Liên minh châu Âu sẽ khó có thể bỏ qua những nỗ lực đáng kể này của thế hệ các nhà lãnh

thông qua việc xoá bỏ Liên minh Tây Âu vào cuối năm 2000 và chuyển giao những khả
năng của nó sang cho EU6.
2. Về quân sự
EU cũng phải tính đến việc Lực lượng phản ứng nhanh sử dụng các phương tiện có sẵn
của NATO và WEU. EU có thể sử dụng các phương tiện của WEU và NATO khi tiến hành
hành động quân sự không có đồng minh tham gia. Tuy nhiên, giữa NATO và WEU đã có
sự xác định rõ ràng những sắp xếp và cơ chế cho sự hợp tác cũng như thủ tục pháp lý để
châu Âu sử dụng các phương tiện của NATO trong trường hợp có các hoạt động của WEU.
Chính vì vậy, Mỹ và Tây Âu sẽ phải cùng nhau thảo luận việc trao đổi, hợp tác và minh
bạch giữa EU và NATO. Mặt khác, việc sử dụng các phương tiện và khả năng của NATO
cũng lại hạn chế khả năng của Lực lượng phản ứng nhanh EU vì lực lượng này không có
sẵn phương tiện và khả năng độc lập tác chiến. Khi có khủng hoảng xảy ra sẽ lại xảy ra
tình trạng lúng túng vì thiếu phương tiện trong tay và thiếu thời gian để xem xét tính chất
của cuộc khủng hoảng để quyết định có nên tham gia hay không. Đến khi lực lượng này
thực sự được triển khai thì có lẽ đã quá muộn, không còn mang tính chất "phản ứng nhanh"
hoặc vai trò đi đầu đã bị Mỹ nẫng tay trên. Còn trong trường hợp sử dụng các phương tiện
của NATO thì EU vẫn sẽ lại chịu sự chi phối nào đó của Mỹ và NATO vì các nước NATO
không phải là thành viên của EU sẽ được quyền tham gia.
Nguyễn Diệu Hương, Thành lập lực lượng phản ứng nhanh EU: Hệ quả tất yếu của cuộc
chiến Kosovo?, http://hocvienngoaigiao.org.vn
6

14


Trong khi đó, thực trạng sức mạnh quân sự của các nước Tây Âu nói chung và từng
nước thành viên nói riêng hiện nay còn tồn tại rất nhiều yếu kém. Chi tiêu quốc phòng của
EU ít hơn rất nhiều so với Mỹ (khoảng 140 tỷ so với 290 tỷ/năm), công nghệ và nghiên
cứu cao cấp (30 tỷ so với 10 tỷ/năm) 7 và được đầu tư vào những lĩnh vực đem lại ít hiệu
quả như các dự án giống nhau ở nhiều nước thành viên EU. Hơn thế, quân đội của Tây Âu


nguyên tắc bỏ phiếu nhất trí trường hợp nào được các nước liên minh “hành động chung”
và “hành động chung” đó được thực hiện như thế nào, nội dung và mục tiêu cụ thể ra sao.
Như vậy, có thể thấy rằng vai trò của các quốc gia ở đây vẫn rất lớn. Nó được biểu hiện
rõ nhất ở chỗ bỏ phiếu theo nguyên tắc nhất trí vẫn đóng vai trò quan trọng trong trình tự
đưa ra hành động chng. Tuy nhiên, vấn đề ưu tiên của các quốc gia là khác nhau nên cách
thức này đã cản trở và là nguyên nhân dẫn đến sự không đồng bộ trong hoạt động đối
ngoại của Liên minh. Một số thành viên của EU có lập trường trung lập trong các vấn đề
chính trị như Thụy điển, Ireland, Phần Lan. Để đi tới một sự thống nhất về một chính sách
an ninh đối ngoại chung có khả năng sẽ đòi hỏi một số lại định hướng về triển vọng chính
sách đối ngoại của các nước này - một sự thay đổi này sẽ khiến một phần dân số của họ có
thể phản đối. Với sự mở rộng về phía đông của Liên minh châu Âu và tăng gấp đôi gần
đúng của các thành viên của EU, hàng loạt các lợi ích chính sách đối ngoại sẽ mở rộng
đáng kể. Kết quả là, khả năng EU sẽ đạt được một sự đồng thuận là có khả năng giảm với
việc EU mở rộng. Ít nhất, thời gian thực hiện đàm phán một hành động chung là có khả
năng tăng, do đó hạn chế tốc độ và hiệu quả của một chính sách đối ngoại.
Như vậy, trong giai đoạn từ hiệp ước Masstricht tới trước hiệp ước Lisbon, chúng ta đã
thấy một sự phát triển rõ rệt của quá trình hội nhập về an ninh đối ngoại của Liên minh
Châu Âu. CFSP ra đời đã thể hiện sự rõ ràng và tiến bộ hơn EPC. Thứ nhất, CFSP thể hiện
một sự cam kết mạnh mẽ giữa các nước thành viên trong việc hoạch định chính sách
chung. Thứ hai, việc phố hợp hoạt động giữa các thành viên được quy định rõ ràng hơn là
thông qua đa số biểu quyết tại hội đồng. Thứ ba, CFSP đã nêu được toàn bộ nội dung các
vấn đề an ninh. Cuối cùng, CFSP đã trở thành một trong ba trụ cột trong thể chế của Liên
minh Châu Âu. Cùng với CFSP, Liên minh Châu Âu đã đặt mình như là một chủ thể riêng
biệt và thống nhất trên trường quốc tế, quyết tâm khẳng định vị thế chung của Liên minh.
Song trong giai đoạn này, chính sách phỏng thủ chung Liên minh Tây Âu vẫn chưa thể
thay thế được chính sách đối ngoại, an ninh và phòng thủ của mỗi quốc gia.

2.3, GIAI ĐOẠN SAU HIỆP ƯỚC LISBON.
Hiệp ước Lisbon ra đời năm 2007 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/12/2009. Hiệp

đói nghèo
- Tăng cường sự hội nhập giữa các nước trên thế giới trong lĩnh vực kinh tế
Background: “The High representative for Foreign Affairs and Security Policy” on
November 2009
11 Common foreign and security policy:
http://www.mfa.gov.cy/mfa/mfa2006.nsf/eu08_en/eu08_en?opendocument
10

17


- Giúp đỡ các nước hoàn thiện phương thức quốc tế về bảo vệ môi trường nhằm mục
tiêu phát triển bền vững
- Hỗ trợ giải quyết các vấn đề dân số, thiên tai
- Tăng cường hệ thống quốc tế với nền tảng là hợp tác đa phương mạnh mẽ
Thêm vào đó, sau năm 2007, EU chính thức mở rộng thêm 2 thành viên, nâng tổng số
thành viên lên đến 27 nước. Trong khi đó, với tham vọng của các nhà lãnh đạo châu Âu,
con số thành viên của EU không chỉ dừng lại tại đấy.
Với sự mở rộng lãnh thổ và những biến chuyển trong tình hình thế giới từ năm 2007
đến nay đã tạo ra rất nhiều thách thức cho các nước thành viên hoàn thiện và thực thi
CFSP.
Thứ nhất, là một liên minh có đông thành viên, khó tránh EU có nhiều ý kiến trái
chiều, bất đồng. Song điều đó cũng làm cho những người chủ trương đẩy nhanh việc xây
dựng và hoàn thiện CFSP thêm lo ngại các thành viên không những không nỗ lực khắc
phục mà đôi khi có phản ứng gây chia rẽ nội bộ sâu sắc.
Sự thiếu hụt ý chí của các quốc gia thành viên do vấn đề chính trị còn là vấn đề nhạy
cảm liên quan trực tiếp đến lợi ích và chủ quyền của mỗi quốc gia. Nhiều nước thành viên
tỏ thái độ nghi ngờ, lo sợ cuộc phiêu lưu chính trị này sẽ kéo dài mà kết quả đem lại không
đáng kể. Nhiều công dân của một số quốc gia nhỏ của EU cho rằng không cần thiết phải
tham gia vào 1 tổ chức và chấp nhận sự lãnh đạo của ngoài quốc gia. Hợp tác chính trị quá

Luôn tồn tại những lợi ích chung trong việc duy trì sự phát triển của CFSP. Tuy nhiên
để cân bằng lợi ích quốc gia và tính tập thể là điều không dễ dàng. Một số quốc gia thành
viên thậm chí còn có xu hướng coi CFSP là yếu tố thêm vào chứ không thay thế chính sách
đối ngoại của riêng quốc gia hoặc có thể làm nền cho chính sách đối ngoại riêng của họ.
Chẳng hạn như vấn đề xung đột tại Libi đang châm ngòi cho những bất đồng trong nội
khối EU. Tại Hội nghị cao cấp của EU họp tại Bruxel (Bỉ) trong hai ngày 24-25/3/2011 đã
kết thúc trong bất đồng và chưa giải quyết được mâu thuẫn giữa các bên. Nhà lãnh đạo các
nước EU đã có 'sự đồng thuận' về vấn đề Li-bi. EU kêu gọi nhà lãnh đạo Libi ông
M.Gadafi từ chức ngay lập tức, sẽ áp dụng các lệnh trừng phạt nghiêm khắc hơn đối với
Tripoli; song lại nhấn mạnh, tương lai chính trị của Libi do người dân nước này tự quyết
định. Ðiều này chứng tỏ EU có những quan điểm khác nhau, mâu thuẫn nhau trong xử lý
quan hệ với Libi. Pháp và Anh là những nước đi đầu và tham gia tích cực chiến dịch 'Bình
minh Ô-đi-xê' của liên quân tiến công quân sự vào Libi, nhưng Ðức bỏ phiếu trắng đối với
dự thảo nghị quyết của HÐBA LHQ về Libi, sau đó rút quân khỏi vùng Ðịa Trung Hải
ngay sau liên quân tiến công Libi. Bun-ga-ri khẳng định, sự can dự của một số nước lớn
13

Chistos Kollias “Burden sharing aspects of European Union Common Defense Policy”

19


trong EU vào Libi là hành động mạo hiểm. Tại cuộc họp hôm 21-3 ở Bruxel, các bộ trưởng
ngoại giao EU đã không hàn gắn được rạn nứt giữa các nước thành viên tổ chức này chung
quanh chiến dịch can thiệp quân sự vào Libi cũng như vai trò của Tổ chức NATO trong
chiến dịch này.
Ðối với các nước châu Âu, Libi có tầm quan trọng cả về địa-chính trị và kinh tế. Libi
được coi là một thành viên 'nặng ký' trong kế hoạch thiết lập tổ chức các quốc gia vùng Ðịa
Trung Hải, là đối tác của một số nước EU. Libi có trữ lượng dầu khí phong phú và là cửa
ngõ vào châu Phi của các cường quốc châu Âu. Nhiều nước EU đang nhập một khối lượng

biện pháp chung. Các giải pháp đưa ra chỉ mang tính chất nhất thời, không có có được sự
phối hợp đồng bộ giữa các nước với nhau.
Một sô ý kiến đưa ra muốn loại Hy Lạp khỏi khu vực Eurozone nhưng một số nước lại
phản đối quyết định này. Trên thực tế, nếu loại Hy Lạp ra khỏi khu vực đồng Euro sẽ gây
ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế của không chỉ trong EU mà còn ảnh hưởng
nghiêm trọng đến nền kinh tế thế giới vốn đang rất mẫn cảm sau cuộc đại suy thoái.
Thêm vào đó là sự mâu thuẫn giữa các nước tham gia vào cuộc giải cứu Hy Lạp. Các
nước lớn như Đức, Pháp có thái độ rất quyết liệt trong khi những nước nhỏ hơn lại tỏ ra
khá thờ ơ. Trong khi đó, tình hình trong nước của những quốc gia này cũng rất đáng lo
ngại khi mà các chính sách thắt lưng buộc bụng liên tục được đưa ra, thuế tăng cao, ảnh
hưởng đến chất lượng đời sống người dân. Họ không muốn chính phủ nước mình tiếp tục
trợ giúp một quốc gia không có khả năng trả nợ như Hy Lạp.
Như vây, chính sách đối ngoại luôn luôn là vẫn đề hết sức nhạy cảm, kể từ khi ý tưởng
về một CSĐN chung được đưa ra cho đến sau khi Hiệp ước Lisbon được ký kết. Cùng với
những bất ổn đang ngày càng gia tăng trên thế giới, các nước trong khu vực EU cũng phải
đối mặt với những thách thức trong việc thực thi một chính sách chung, mang tiếng nói
chung của người dân châu Âu về lĩnh vực an ninh, đối ngoại. Tuy nhiên, mặt tích cực của
CSĐN này có được sau Hiệp ước Lisbon là đã có được một người thay mặt cho 27 quốc
gia thành viên nói lên tiếng nói chung của người dân châu Âu. Chính điều này đã làm cho
EU rút ngắn lại khoảng cách, từng bước tiến đến hình thức siêu quốc gia trong lĩnh vực
liên minh về chính trị.
KẾT LUẬN
Tóm lại, trải qua hang chục năm hình thành và phát triển CFSP của EU ít nhiều đã
chứng minh được vai trò của mình và đã đạt được những thành công nhất định trong quá
trình xây dựng một EU thịnh vượng ở châu Âu nói riêng và trên thế giới nói chung. Tính
tới thời điểm hiện nay, chưa có một tổ chức hay liên minh nào có thể đạt tới sự liên kết cao

21



2010, trang 16
3, Dương Thanh Bình, “Những thách thức đối với Liên minh Châu Âu trong giai đoạn
hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 36,2000, trang 63-64.
4, Đào Huy Ngọc (chủ biên), Liên minh châu Âu, học viên quan hệ quốc tế, Hà Nội,
1995.
5, Đào Huy Ngọ, Liên minh châu Âu, Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 1995.
6, Reinmund Seidelmann, Problems and Prospects of the Common Foreign and Security
Policy (CFSP) and European Security and Defence Policy (CESDP): A German View.
7, Chistos Kollias , Burden sharing aspects of European Union Common Defense
Policy
8, Speech of High Representative Catherine Ashton on main aspects and basic choices
of the Common Foreign and Security Policy and the Common Security and Defence
policy.
9, The Treat of Lisbon : an impact assessment, volume I: report, The Authority of
the House of Lords, 2008
10, Annual report from the High Representative of the Union for Foreign Affairs and
Security Policy to the European Parliament on the main aspects and basic choices of the
CFSP, 2009

Các trang web:
1, Nguyễn Diệu Hương, “Thành lập lực lượng phản ứng nhanh EU: Hệ quả tất yếu của
cuộc chiến Kosovo?”
http://hocvienngoaigiao.org.vn

23


2, http://www.tinmoi.vn/nato-ran-nut-lon-nhat-trong-chien-dich-o-libya-09542335.html
3, http://www.vneconomy.vn/
4,http://www.nhandan.com.vn/cmlink/nhan-dan-cu-i-tu-n/nhan-dan-cu-i-tu-n/qu-c-t/ski-n-va-binh-lu-n/nh-ng-s-ki-n-khu-y-ng-n-i-b-kh-i-eu-1.290399?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status