Giải pháp đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ HTX dịch vụ nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường - Pdf 31

Giải pháp đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ
HTX dịch vụ nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường
PHẦN 1

LỜI MỞ ĐẦU
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân
(sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp
sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã
viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản
xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước.
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân,
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn
tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật.
Phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng đang là chủ trương lớn
của Đảng và Nhà nước, là ý nguyện của đông đảo quần chúng nhân dân lao động
trong xã hội nước ta, đặc biệt là khu vực nông thôn, nơi đang có đa số người dân
lao động nghèo, sản xuất nông nghiệp ít vốn không đủ khả năng tự thành lập các
doanh nghiệp riêng để tham gia kinh doanh trên thị trường, vì vậy thường bị thua
thiệt trong việc tiếp cận với sự phát triển và việc hưởng các lợi ích mang lại từ nền
kinh tế thị trường.
Những năm qua kinh tế tập thể ở khu vực nông thôn đã đạt được nhiều thành
tựu đáng kể góp phần đem lại sự thay đổi toàn diện, sâu sắc cho kinh tế nông thôn.
Sức lao động và đất đai đã được giải phóng, đời sống nhân dân được cải thiện rõ
rệt; kinh tế nông nghiệp đóng vai trò quan trong trong tổng sản phẩm kinh tế quốc
dân; bộ mặt nông thôn từng bước chuyển biến rút ngắn khoảng cách giữa thành thị
và nông thôn. Bên cạnh đó kinh tế nông thôn vẫn còn nhiều tồn tại và thách thức to
lớn, đó là: cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch chậm, sản xuất chưa theo sát với
yêu cầu của thị trường, đa số sản phẩm làm ra có chất lượng thấp, giá thành cao nên
tiêu thụ rất khó


Dịch vụ là hoạt động cung ứng lao động, khoa học kỹ thuật, nghệ thuật, các
hoạt động của ngân hàng, tín dụng, cầm đồ, bảo hiểm. Theo quan điểm của kinh tế
học hiện đại, dịch vụ được hiểu là toàn bộ các ngành, các hoạt động có tạo ra tổng
ii


sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trừ các ngành sản
xuất các sản phẩm vật chất như công nghiệp, nông nghiệp.
Dịch vụ nông nghiệp được hiểu là điều kiện, yếu tố cần thiết cần có trong quá
trình sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm nào đó trong nông nghiệp mà người
sản xuất không có sẵn, không làm được hoặc làm không có hiệu quả và họ phải tiếp
nhận các điều kiện, cá yếu tố từ bên ngoài bằng các cách thức khác nhau: mua, bán,
trao đổi, thuê, nhờ…
Hoạt động dịch vụ nông nghiệp là hoạt động nhằm cung cấp, trao đổi, tiếp
nhận và sử dụng các dịch vụ giữa người sản xuất nông nghiệp và người cung cấp
dịch vụ nông nghiệp theo một phương thức nhất định nào đó.
Dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp là hoạt động dịch vụ có tính chất bao cấp đối với
người sản xuất nông nghiệp ở một chừng mực nhất định.
• Dịch vụ nông nghiệp có những đặc điểm:
-

Tính chất thời vụ: do sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ.

-

Được cung ứng từ nhiều nguồn khác nhau và mang tính cạnh tranh cao.

-

Tính có thể tự dịch vụ.

Một là, tự nguyện: mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện theo
quy định của Luật HTX, tán thành điều lệ HTX đều có quyền gia nhập HTX, xã
viên có quyền ra HTX theo quy định của Điều lệ HTX.
Hai là, dân chủ, bình đẳng và công khai: xã viên có quyền tham gia quản lý,
kiểm tra, giám sát HTX và có quyền ngang nhau trong biểu quyết, thực hiện công
khai phương hướng sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối và những vấn đề
khác quy định trong Điều lệ HTX.
Ba là, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX tự chủ và tự chịu
trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, tự quyết định về phân phối
thu nhập.
Bốn là, hợp tác và phát triển cộng đồng: xã viên phải có ý thức phát huy tinh
thần xây dựng tập thể và hợp tác với nhau trong HTX, trong cộng đồng xã hội, hợp tác
giữa các HTX trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
2.1.1.3 Tổ chức hoạt động của bộ máy quản lý HTX DVNN
Luật HTX quy định:
- Đại hội xã viên là cơ quan quyền lực cao nhất trong bộ máy quản lý HTX.
Các HTX DVNN tổ chức Đại hội xã viên mỗi năm 1 lần hoặc tổ chức Đại hội xã
viên bất thường do Ban quản trị hoặc Ban kiểm soát triệu tập. Đại hội thông qua
chủ yếu các báo cáo:
+ Báo cáo kết quả hoạt động hàng năm, phương hướng hoạt động của năm
sau, nhiệm kỳ sau. Báo cáo này do Ban quản trị trình bày.
+ Báo cáo kết quả công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của Ban quản trị, chủ
nhiệm HTX về tình hình thực hiện Luật, điều lệ, nội quy HTX và Nghị quyết Đại
hội xã viên, giải quyết đơn thư khiếu nại của xã viên. Báo cáo này do Ban kiểm
soát trình bày.

iv


+ Báo cáo về tình hình tài chính của HTX trong năm, nhiệm kỳ qua, tình hình

và ủy viên


Đội 1
Đội 2
Đội 3
XV1… XV2… XV3…

Các bộ phận giúp
việc

Các tổ dịch vụ

Đội tiếp nhận dịch vụ

Thủy
Làm
BVTV
lợi
đất
XV1.2
XV1.2
XV1.2

Vật tư
XV1.2

Kế
toán


đẳng. Đấy là chưa kể vấn đề thông tin không hoàn hảo có thể dẫn tới việc phân bổ
nguồn lực không hiệu quả. Do một số nguyên nhân, giá cả có thể không linh hoạt
trong các khoảng thời gian ngắn hạn khiến cho việc điều chỉnh cung cầu không
suôn sẻ, dẫn tới khoảng cách giữa tổng cung và tổng cầu. Đây là nguyên nhân của
các hiện tượng thất nghiệp, lạm phát.
Đặc trưng cơ bản nhất của cơ chế thị trường là động lực lợi nhuận, nó chỉ huy
hoạt động của các chủ thể. Trong kinh tế thị trường, đặc điểm tự do lựa chọn hình

vi

Thủ
kho


thức sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm: “lãi hưởng lỗ chịu”, chấp nhận cạnh
tranh, là những điều kiện hoạt động của cơ chế thị trường. Sự tuân theo cơ chế thị
trường là điều không thể tránh khỏi đối với các doanh nghiệp, nếu không sẽ bị đào
thải.
Người cán bộ HTX trong nền kinh tế phải nắm bắt được cơ chế hoạt động,
thay đổi phương thức lãnh đạo và quản lý kinh doanh mới lãnh đạo được tập thể
hoạt động đúng hướng và có hiệu quả.
2.1.3 Cán bộ HTX DVNN
2.1.3.1 Khái niệm:
Cán bộ HTX DVNN là những người quản trị do các xã viên HTX bầu ra
nhằm quản lý, điều hành các hoạt động của HTX. Người cán bộ HTX có vai trò đặc
biệt quan trọng, quyết định đến sự thành bại, sự phát triển của doanh nghiệp mình.
Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Mọi việc thành hay bại chủ chốt là do cán bộ”,
Người coi trọng vấn đề cán bộ, đề cao vai trò của họ theo tư tưởng của Người, cán
bộ phải là người vừa “Hồng” vừa “Chuyên”, thể hiện: “có lòng trung thành với
cách mạng; hăng hái thạo việc; liên hệ mật thiết với nhân dân; dám chịu trách

vụ …
- Giữ vai trò giải quyết những mâu thuẫn hoặc là những vướng mắc, bao
gồm các sự vụ, những vấn đề phát sinh trong HTX…
- Giữ vai trò là người phân bổ nguồn lực: các nguồn lực này bao gồm các
nguồn lực về tài chính, nhân sự, nguyên vật liệu, đất đai, dịch vụ …Việc phân bổ
những nguồn lực này liên quan đến ra quyết định quản lý, dự thảo ngân sách,…
nhằm phối hợp và thống nhất các hoạt động để đạt được mục tiêu đề ra.
- Giữ vai trò là người thương thuyết như ký kết hợp đồng lao động, thoả
thuận với khách hàng, hợp đồng mua bán…
2.1.3.2 Phân loại cán bộ HTX nông nghiệp
Tuỳ mục đích nghiên cứu và khả năng thu thập thông tin mà sử dụng cách
phân loại cho phù hợp. Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu:
• Phân loại theo cấp quản lý
- Quản lý HTX: các cán bộ quản lý HTX chịu trách nhiệm chung cho cả
HTX. Cấp quản lý này gồm Ban quản trị, Ban kiểm soát, cán bộ nghiệp vụ.
- Quản lý đội tổ dịch vụ và sản xuất: nếu các HTX có tổ chức thành các tổ
đội chuyên môn thì sẽ hình thành bộ máy quản lý tổ đội. Ví dụ tổ dịch vụ tưới tiêu,
đội thuỷ nông, tổ bảo vệ đồng ruộng.
viii


• Phân loại theo chức năng quản lý
- Cán bộ chỉ huy điều hành: ban quản trị, quản lý đội tổ
- Cán bộ kiểm soát: ban kiểm soát
- Cán bộ nghiệp vụ: kế toán, kế hoạch...
• Phân loại theo cách bổ nhiệm
- Cán bộ quản lý được bầu cử
- Cán bộ quản lý được thuê
Như vậy bộ máy quản lý bảo đảm 2 khối công việc là điều hành và kiểm
soát, khối điều hành có nhiều công việc hơn nên thường cần nhiều cán bộ hơn.

- Giám sát các chỉ tiêu: giám sát các yếu tố trong và ngoài HTX mà các yếu
tố đó ảnh hưởng tới HTX bao gồm các chỉ tiêu biểu hiện kết quả thực hiện, theo dõi
tình hình tài chính, tài sản, điều kiện thị trường, các điều kiện văn hoá, xã hội và
chính trị.
- Điều hành: xây dựng tiến độ, dự tính chi phí và tiêu hao thời gian cho sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ, theo dõi năng suất, bảo đảm chất lượng sản
phẩm, chất lượng hoặc kết quả dịch vụ, đảm bảo các quyền lợi và nghĩa vụ của xã
viên và phân tích hiệu quả hoạt động.
- Đại diện: trả lời những câu hỏi, giải thích những khiếu nại của người bên
ngoài và bên trong HTX, trao đổi với các đối tác để mở rộng quan hệ, thoả thuận, cam
kết, tiến hành các hoạt động xây dựng và duy trì vị thế của HTX mình…
- Phối hợp: phối hợp hoạt động của các cá nhân, các đơn vị bộ phận trong
HTX mà người quản lý không trực tiếp điều hành nhằm chia sẻ thông tin, phù hợp
với tiến độ đã được xây dựng, giải quyết những khó khăn và nhằm đạt các mục tiêu
đề ra; duy trì mối quan hệ tốt với người ngang cấp; giải quyết những mâu thuẫn và
bất đồng giữa các thành viên chủ chốt.
- Tư vấn: phát triển chuyên môn của mình, giới thiệu những kỹ thuật hoặc
công nghệ mới trong HTX và hoạt động như một tư vấn về chuyên môn, tháo gỡ
những khó khăn cho người quản lý khác, cho xã viên HTX…
- Quản lý hành chính: thực hiện các hoạt động quản lý hành chính cơ bản
như xây dựng cách thu thập thông tin trong HTX, phân tích thông tin, bảo quản lưu
trữ các tài liệu của HTX.

x


* Nhiệm vụ và công việc chính của các chức danh cán bộ trong HTX DVNN
Chức danh
Nhiệm vụ
Công việc chính

động sxkd dịch vụ

doanh.

3. Ban kiểm - Giám sát, theo dõi

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
- Giám sát, theo dõi toàn bộ các hoạt động

soát HTX

của HTX.
- Xây dựng tiêu chuẩn và kế hoạch, giám sát,
theo dõi
- Hệ thống thông tin

- Quan sát thực địa.
- Tổng hợp thông tin.

- Báo cáo

- Phân tích thông tin và ra quyết định.
- Báo cáo các bên liên quan.

- Báo ĐHXV
2.1.4 Khái niệm đào tạo và tác dụng của đào tạo trong sử dụng cán bộ
HTX DVNN
2.1.4.1 Khái niệm về đào tạo và bồi dưỡng

xi

xii


2.1.4.2 Đối tượng của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong HTX
Quyết định số 88/2005/NĐ-CP ngày 17/02/2005 của Thủ tướng chính phủ
về một số chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển HTX đã chỉ rõ các đối tượng
cán bộ trong HTX được đào tạo, bồi dưỡng gồm:
a) Các chức danh trong Ban Quản trị, Ban Chủ nhiệm, Ban Kiểm soát, kế toán
trưởng;
b) Xã viên đang làm công việc chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ của hợp tác
xã.
2.1.4.3 Tác dụng của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX DVNN
Trong thực tế hiện nay, mọi tổ chức đều rất quan tâm, chú ý đến vấn đề đào
tạo cán bộ HTX DVNN để họ có thể hoạt động tốt hơn, giúp nâng cao hiệu quả của
HTX DVNN góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp nông thôn. Sử dụng cán bộ
HTX được đào tạo mang lại các lợi ích sau:
- Nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả thực hiện công việc.
Nâng cao tính ổn định và năng động, duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực.
- Tạo điều kiện cho áp dụng các tiến bộ KHKT trong công tác quản lý tạo sự
gắn bó giữa cán bộ HTX NN với các tổ chức trên địa bàn. Tạo sự thích nghi của
cán bộ HTX với công việc hiện tại và tương lai. Đáp ứng được nhu cầu và nguyện
vọng của cán bộ HTX.
- Tạo điều kiện cho cán bộ HTX có cách nhìn nhận, cách tư duy mới trong
công việc và cương vị mà họ đảm nhận. Đây là cơ sở để cán bộ HTX phát huy tính
sáng tạo của mình trong công việc.
- Thông qua đào tạo sẽ nâng cao chất lượng cho cán bộ HTX, cụ thể:
+ Nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý cho cán
bộ HTX, nhờ đó góp phần nâng cao hiệu suất công tác. Khi được đào tạo, cán bộ
HTX sẽ có kiến thức tổng hợp, có điều kiện trở thành người cán bộ giỏi.

• Đào tạo hệ tại chức:
Là phương thức đào tạo bán tập trung dài hạn theo định kỳ với quỹ thời gian
không thay đổi nhưng được chia làm nhiều giai đoạn khác nhau. Đây là phương
thức khá phổ biến trong thời gian vừa qua, cũng có thể áp dụng trong một thời gian
nữa, khi điều kiện phát triển của chúng ta còn ở mức độ giứoi hạn. Hình thức này
có ưu điểm là học viên vừa học vừa làm, có bằng cấp hoặc chứng chỉ. Vừa đi học
vừa tham gia công tác ở địa phương không ảnh hưởng nhiều đến thời gian làm việc,

xiv


sinh hoạt, nhiều người theo học, vận dụng ngay được vào thực tế. Hạn chế là thời
gian học không liên tục, tính hệ thống, chất lượng thấp nếu không tổ chức tốt.
• Đào tạo ngắn hạn vừa học vừa làm:
Là loại hình đào tạo ngắn hạn bán tập trung, sau khi đi học đợc cấp chứng chỉ,
bằng cấp, vừa có kiến thức cơ bản, vừa bổ sung kịp thời các kiến thức đang cấn
trong công việc, được nhiều người tham gia, không phải tốn thời gian đi lại, giảm
bớt khó khăn trong sinh hoạt. Nhược điểm của phương thức này là nội dung
chương trình ngắn gọn, sự hiểu biết sâu rộng có giới hạn, tốn kém kinh phí, đôi khi
còn mang tính hình thức, chất lượng không cao nếu không tổ chức tốt.
Với mỗi đối tượng có thể áp dụng các hình thức đào tạo khác nhau. Đối với
cán bộ HTX NN thường áp dụng hình thức đào tạo ngắn hạn do đặc thù của đội
ngũ cán bộ HTX.
2.1.4.5 Mục tiêu đào tạo cán bộ HTX
Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX là một trong những công tác quan
trọng nhằm thực hiện đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế
khu vực HTX. Từ nay đến 2015, cần tập trung đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý
và chuyên môn nghiệp vụ cho các đối tượng sau:
- Đào tạo cán bộ chủ chốt: trong những năm tới cần tập trung ưu tiên đào tạo
bồi dưỡng cho số cán bộ chủ chốt thuộc 3 chức danh: Chủ nhiệm, Kế toán trưởng

nghiệp vụ, các kỹ năng về quản lý, kiến thức về thông tin thị trường, hội nhập kinh
tế quốc tế cho đội ngũ chủ nhiệm HTX.
- Tổ chức đào tạo bồi dưỡng trang bị các kiến thức về chuyển giao KHKT,
các tiến bộ mới trong nông nghiệp cho cán bộ chủ chốt, cán bộ kỹ thuật trong HTX.
- Đào tạo các kiến thức về tin học cho đối tượng cán bộ chủ nhiệm và kế toán
HTX, đặc biệt quan tâm đối với các HTX hoạt động mạnh để đảy mạnh hơn nữ vai
trò của các HTX này trong địa phương.
- Đào tạo, bồi dưỡng về đạo đức cán bộ HTX, xây dựng tinh thần sống và làm
việc theo pháp luật, thái độ tôn trọng dân, phục vụ nhân dân.
2.1.4.7 Nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX
- Coi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là một phần quan trọng trọng việc phát triển
hình thức kinh tế tập thể, cần sự quan tâm đúng mức của lãnh đạo địa phương, các
ban ngành có liên quan.
- Tiến hành đồng bộ, phối hợp giữa các cấp các ngành trong đào tạo, bồi
dưỡng tránh tình trạng chồng chéo về nội dung, hình thứ và thời gian đào tạo.
- Đào tạo, bồi dưỡng mang tính chất đồng bộ với các đối tượng cần đào tạo.

xvi


- Một chương trình đào tạo, bồi dưỡng muốn thành công và mang lại hiệu quả
cao phải xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn và nhu cầu của tổ chức, có sự định
hướng lâu dài. Quan tâm sát tới nhu cầu của đối tượng cần bồi dưỡng, đào tạo.
- Đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng có quyền và trách nhiệm trau dồi kiến
thức trong quá trình học tập và khi kết thúc đào tạo.
2.1.4.8 Chu trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Quá trình đào tạo gồm 4 yếu tố chính: xác định nhu cầu đào tạo; xây dựng kế
hoạch; thực hiện đào tạo; đánh giá đào tạo.
1. Xác định nhu cầu đào tạo:
• Khái niệm nhu cầu đào tạo: là sự mong muốn giảm sự khác biệt giữa thực

những kiến thức gì, những kỹ năng gì; họ gặp phải khó khăn gì; họ cần những kiến
thức gì, kỹ năng gì.
 Phân tích vị trí công tác và nhiệm vụ chính được giao:
Vì sao phải phân tích vị trí công tác và nhiệm vụ được giao? Để nắm được
đặc điểm của học viên; mỗi người thường đảm nhận nhiều việc khác nhau nên phải
xác định được nhiệm vụ chính; để hiểu thêm nhiệm vụ chính làm cơ sở đánh giá
đúng nhu cầu đào tạo.


Xác định sự thiếu hụt kiến thức và nhu cầu đào tạo: để nắm bắt

được đặc điểm của học viên; xác định chủ đề, nội dung và mức độ nông sâu của nội
dung đào tạo; đề xuất các kháo đào tạo, hình thức đào tạo.
2. Xây dựng kế hoạch của quá trình đào tạo: là nhận biết hay đánh giá nhu
cầu đào tạo của học viên. Sau đó xác định mục tiêu, nội dung và phương pháp đào
tạo. Lựa chọn và sử dụng những kỹ thuật, những phương pháp, những chiến lược,
những trợ giúp, sắp xếp phòng học và đánh giá kết quả khoá học.
3. Thực hiện quá trình đào tạo: là thực hiện và quản lý thực sự một khoá
học bao gồm những hoạt động và thực hiện của từng ngày của lớp học. Nó cũng
bao gồm những hạch toán chi phí cho khoá học.
4. Đánh giá trong quá trình đào tạo: là lấy ý kiến phản hồi để xem các mục
tiêu của khoá học đã được hoàn thành hay chưa, để nhận biết những điểm mạnh và
điểm yếu, để xác định giá trị nhận được của chương trình đào tạo và để cải tiến
những chương trình đào tạo tiếp theo.

xviii


Đánh giá nhu cầu đào tạo
Phân tích công

cơ bản sau:

Phân tính
tình hình

Kiểm tra
đánh giá

Xác định
mục tiêu
Sự tham gia

Tiến hành
giảng dạy

Phát triển
mục tiêu

Sơ đồ 2.3: Chu trình đào tạo
Bước 1: phân tích tình hình người học bao gồm môi trường chính sách, công việc,
điều kiện làm việc và điều tra, đánh giá nhu cầu đào tạo.
Bước 2: xác định mục tiêu bao gồm nêu lý do, mục đích và các mục tiêu cụ thể cần
đạt được.
Bước 3: phát triển chương trình bao gồm việc thiết kế khoá đào tạo, phát triển tài
liệu, vật liệu giảng dạy, phương pháp giảng dạy.
Bước 4: tiến hành giảng dạy là các hoạt động giao tiếp và thúc đẩy trực tiếp giữa
giáo viên và học viên.
Bước 5: kiểm tra và đánh giá là các hoạt động theo dõi, giám sát và xem xét toàn
bộ quá trình dạy học.
2.1.5 Sử dụng cán bộ HTX

- Thông tư số 22/2004/TT-BTC ngày 24 tháng 3 năm 2004 của Bộ tài chính
hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí đào tạo bồi dưỡng cán bộ HTX giai đoạn
2004 – 2005.
- Nghị định số 88/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về
một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển HTX, trong đó có quy định về
việc khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và xã viên HTX.
- Thông tư số 02/2006/TT-BKH ngày 13 tháng 2 năm 2006 của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư hướng dẫn thực hiện một số điều tại Nghị điịnh số 88/2005/NĐ-CP ngày

xxi


11 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích
phát triển hợp tác xã.
- Thông tư số 66/2006/TT-BTC ngày 17 tháng 7 năm 2006 của Bộ tài chính
về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 88/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005
của Chính phủ về chế độ tài chính hỗ trợ các sáng lập viên HTX chuẩn bị thành lập,
các đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của HTX.
- Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy
Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn .
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Một số kinh nghiệm về đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ HTX
nông nghiệp một số nước trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là nước công nghiệp phát triển, tuy kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ
trọng nhỏ nhưng lại là một nền nông nghiệp hàng hoá cao nên HTX nông nghiệp đã
phát triển mạnh mẽ và rất có tác dụng trong nông nghiệp. Các kinh nghiệm phát
triển HTX nông nghiệp của Nhật Bản bao gồm nhiều khía cạnh trong đó có khía
cạnh đào tạo cán bộ được coi là có tầm quan trọng đặc biệt, nhất là ở giai đoạn đầu
của việc hình thành các HTX kiểu mới như Việt Nam hiện nay. Một số kinh

- Về mức độ đào tạo có cả các mức cao thấp khác nhau từ trên đại học, đến
đại học và tập huấn ngắn hạn.
- Nội dung và hình thức đào tạo cũng cần phân biệt rõ.
Với cán bộ nguồn cho tương lai cần được đào tạo dài hoặc trung hạn ở các
trường lớp với các nội dung như học lý thuyết, nghiên cứu tình huống, nghiên cứu cách
làm việc ở HTX và quan hệ với các cơ quan liên quan như trung tâm khuyến nông, hiệp
hội các HTX, tham gia đào tạo cán bộ HTX, trình bày một kế hoạch quản lý...
Với số cán bộ quản lý hiện tại được đào tạo trung hoặc ngắn hạn với các nội
dung như lựa chọn 1 HTX thực tế làm đối tượng cho nghiên cứu tình huống, xác định
những vấn đề quan trọng nhất trong quản lý HTX làm trọng tâm cho khoá học, trình bày
một kế hoạch hoạt động cho 1 HTX dưới dạng điều hành, so sánh các vấn đề đã học với
kế hoạch quản lý đã trình bày, tìm kiếm các giải pháp bằng cách phân tích các đặc điểm
riêng, đề xuất kế hoạch quản lý cuối cùng, tham quan...
Với các xã viên được tập huấn để hiểu về HTX, xã viên làm thế nào để hiểu
về hoạt động của HTX với các ngôn ngữ kinh tế có tính chất HTX.
- Trình tự đào tạo cần đi từ việc đề xuất những vấn đề cần đào tạo sau đó đào
tạo cho các đào tạo viên và cuối cùng mới đào tạo cho người được đào tạo.

xxiii


- Kinh nghiệm phát huy vai trò của đào tạo: đào tạo theo địa chỉ và đơn đặt
hàng của các HTX, đào tạo từ kinh phí của HTX sẽ gắn kết với quyền lợi của HTX
hơn.
2.2.1.3 Kinh nghiệm của một số nước khác:
Nhiều nước trên thế giới đều chú ý đào tạo cán bộ cho HTX. Có những nước
như Thái Lan, Đan Mạch có trường đào tạo cho HTX. Đức có phương pháp đào tạo
theo tình huống. Pháp cũng có cách thức riêng đào tạo cho HTX.
2.2.2 Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ HTX ở Việt
Nam trong thời gian qua

cho đội ngũ cán bộ và người lao động HTX.
2.2.2.2 Kết quả đào tạo cán bộ HTX trong thời gian qua
- Thời gian qua các trường thuộc liên minh HTX Việt Nam, cơ sở đào tạo
của các Bộ, ngành và địa phương đã đào tạo - bồi dưỡng được hơn 900 người có
trình độ trung cấp nghiệp vụ và 19700 người được bồi dưỡng về kiến thức quản lý
HTX.
- Số người được đào tạo, bồi dưỡng trong thời gian qua là cán bộ hoặc con
em xã viên HTX, nên sau khi học xong phần lớn đều trở về làm việc cho HTX và
đã phát huy tác dụng tốt trong công tác điều hành và quản lý kinh tế HTX.
- Mặc dù những năm qua Nhà nước đã quan tâm đến công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ và người lao động trong HTX, nhưng việc quy hoạch, kế hoạch đào
tạo nguồn nhân lực cho khu vực này chưa được thực hiện đầy đủ; cơ chế chính
sách, môi trường làm việc chưa thực sự hấp dẫn để cán bộ và xã viên HTX sẵn
sàng đi học để làm việc lâu dài cho HTX.
- Một nguyên nhân cơ bản là các cấp, các ngành chưa thực sự quan tâm đầy
đủ đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho HTX; mặc dù Chính phủ
đã có các Nghị định 02/CP và Nghị định 15/CP từ năm 1997 nhưng đến nay vẫn
chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể cho các HTX và các trường thực hiện.
- Trước năm 1996 cả nước có gần 14000 HTX nông nghiệp theo kiểu cũ
nhưng do thực hiện Luật HTX nên đến cuối năm 1999 còn lại. Trong số này 75,6%
đã tổ chức lại, trong đó 58% được cấp giấy phép đăng ký kinh doanh và 1319 HTX
mới thành lập. Về nguyên tắc đây là các HTX kiểu mới theo thông lệ quốc tế và
thực tiễn Việt Nam. Số HTX kiểu mới này ngày càng tăng, năm 2000 có 6411, năm
2001 có 7171, năm 2002 có 7527 và đến năm 2006 là 8505 HTX nông nghiệp,
chiếm 46,6% số HTX trong cả nước (Liên minh HTX Việt Nam, năm 2006).

xxv




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status