Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường ĐHKTQD
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Để đưa đất nước phát triển sánh kịp cùng với các nước trong khu
vực và trên thế giới, tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu của nhiều
nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Cùng với sự phát triển nhanh
chóng của các ngành kinh tế là vấn đề ô nhiễm môi trường đã và đang trở
thành thách thức và mối quan tâm của toàn nhân loại. Vì vậy, phải vừa
phát triển kinh tế nhưng vẫn đảm bảo bảo vệ môi trường. Phát triển bền
vững là một yêu cầu và đòi hỏi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường luôn là ba nội
dung không thể tách rời trong mọi hoạt động nhằm bảo vệ môi trường.
Phát triển bền vững là sự cân đối cả ba phương diện: Kinh tế, xã hội, môi
trường.
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế Việt Nam
từng bước đổi mới, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra
hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội đã có những bước biến đổi tích cực,
tăng trưởng kinh tế của nước ta liên tục tăng vào khoảng 7%. Với tốc độ
tăng trưởng này đã dần thay đổi toàn cảnh kinh tế, xã hội đất nước. Các
khu công nghiệp ngày càng một nhiều và mở rộng. Sự nghiệp công nghiệp
1
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường ĐHKTQD
hoá, hiện đại hoá hứa hẹn một sự phát triển đầy triển vọng. Tuy nhiên,
đồng thời với sự phảt triển đó, tình trạng xuống cấp về môi trường, mất đa
dạng sinh học đang ngày một rõ nét, trạng thái cân bằng của môi trường
dần bị phá vỡ. Ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường diễn ra ngày càng ở
mức độ cao mà không ai hết chính con người gánh chịu nhưỡng hậu quả
đó.
Môi trường có vai trò vô cùng quan trọng, đó là yếu tố thiết yếu cho
cuộc sống của nhân loại, nếu môi trường không được bảo vệ mà cứ dần bị
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tính toán lợi ích thu được từ công nghệ xử lý nước thải
đối với công ty, với môi trường, đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế xã hội,
môi trường của phương án xử lý nước thải.
Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chếvề trình độ và thời gian tiếp cận nên em chỉ tập trung
phân tích chi phí- lợi ích của phương án xử lý nước thải, phân tích chi phí
để xử lý nước thải và phân tích các lợi ích về sức khoẻ của những người
lao động trực tiếp sản xuất và khu dân cư lân cận.
Kết cấu đề tài
Đề tài gồm 3 phần:
Chương I- Cơ sở khoa học của phương pháp phân tích chi phí- lợi ích
(CBA ) đối với giảm thiểu ô nhiễm
Chương II- Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và phát thải gây ô
nhiễm tại Công ty phân lân Văn Điển
Chương III- Phân tích hiệu quả kinh tế cho giảm thiểu ô nhiễm ở Công ty
phân lân Văn Điển.
3
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường ĐHKTQD
LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình thực hiện chuyên đề thực tập tốt nghiệp với đề tài:
“Bước đầu nghiên cứu hiệu quả kinh tế cho giảm thiểu ô nhiễm tại Công ty
phân lân Văn Điển”, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa
Kinh tế và Quản lý môi trường, đặc biệt cảm ơn Th.S Đinh Đức Trường đã
tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, tạo điều kiện cho em hoàn thành đề tài này. Đồng
thời em xin cảm ơn tới chú Sơn- Phó phòng kỹ thuật và các chú trong
Công ty phân lân Văn Điển đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành đề tài
này.
4
uy tín của doanh nghiệp, lòng chung thành của khách hàng… Trong trường
hợp này, đòi hỏi các nhà làm CBA phải có những phân tích đầy đủ, chính
xác và có tính thuyết phục.
1.2. Nội dung của phương pháp phân tích chi phí- lợi ích:
1.2.1-Các bước tiến hành:
Bao gồm 9 bước
Bước 1: Quyết định lợi ích- chi phí thuộc về ai.
Trong quan điểm thực hiện phân tích chi phí- lợi ích có tính xã hội và
môi trường, vấn đề phân tích chi phí- lợi ích là bước đầu tiên có một vai
trò hết sức quan trọng vì đây là cơ sở để ta có cách nhìn khá toàn diện đối
với phân bổ nguồi lực và mỗi một sự phân định đều có sự thay đổi về chi
phí và lợi ích.
Tuỳ thuộc là đứng trên quan điểm nào sẽ có cách nhìn nhận theo quan
điểm đó, nếu là các nhà hoạch định chính sách có quan điểm vĩ mô hơn
6
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường ĐHKTQD
nữa là tầm cỡ quốc tế, nếu là các nhà quản lý địa phương thì chỉ là lợi ích
của địa phương họ, từ đó sẽ đưa ra những quyết định phù hợp theo từng
quan điểm.
Bước 2: Trên cơ sở phân định, lựa chọn các dự án có khả năng thay
thế
Phải lựa chọn nhiều giải pháp có khả năng thay thế chó nhau tuỳ thuộc
vào quan điểm tiếp cận và cách thức tiếp cận. Vì bất cứ một dự án nào
trong thực tế cũng có nhiều phương án lựa chọn khác nhau. Khi đã có
nhiều phương án lựa chọn khác nhau thì đó là cơ hội để lựa chọn phương
án tối ưu nhất.(hình1)
hình1: sự biến thiên hai dòng tiền
Về mặt lý thuyết: chúng ta xem xét hai dòng tiền B(Q) và C(Q) theo
mô hình trên. Giả sử rằng khi phân tích một dự án, hàm biến thiên của lợi
Bước 3: Liệt kê các ảnh hưởng tiềm năng và lựa chọn chỉ số đo
lường
Trong phân tích các dự án, đặc biệt là các dự án có liên quan đến môi
trường, đánh giá những ảnh hưởng tiềm năng và từ đó xem xét các chỉ số
để tính toán là vấn đề đòi hỏi một kỹ thuật cao. Để xác định các tác động
tới môi trường khi thực hiện một dự án và xác định các tác động đó một
cách đầy đủ là rất khó. Không chỉ việc xác định khó mà việc lựa chọn
những chỉ số để đo lường, định tính là việc vô cùng khó.
Nếu bước này không làm chính xác, không đảm bảo tính toàn diện thì
quá trình thực thi dự án dễ gặp phải rủi ro. Mặt khác, nếu tính không đầy
đủ xét về mặt dài hạn thì những tiềm năng mà chúng ta không dự đoán
được trước sẽ là nguyên nhân trong việc đưa ra những quyết định kinh
doanh sai lầm.
Bước 4: Dự đoán, tính toán những ảnh hưởng về lượng trong suốt
quá trình dự án
Tác động của dự án xảy ra trong một không gian, thời gian cụ thể trên cơ
sở chúng ta đã liệt kê xác định được những ảnh hưởng có tính tiềm
năng,vấn đề quan trọng là những ảnh hưởng tiềm năng đó phải được
lượng hoá như thế nào dựa vào các nguyên lý và các chỉ tiêu để chúng ta
xác định về mặt lượng.
Bước 5: Lượng hoá bằng tiền của tất cả các tác động đã xác định.
Từ thực tế của những người đã thực hiện CBA cũng như vận dụng lý
luận kinh tế để xem xét vấn đề này thì ở bước 5 đòi hỏi các nhà phân tích
phải tiền tệ hoá. Trong vấn đề quy đổi thành tiền của các tác động thì vấn
đề cơ bản là giá. Có hai dạng giá mà chúng ta cần sử dụng trong quá trình
lượng hoã bằng tiền:
+ Giá thị trường
8
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường ĐHKTQD
=++
n
t
tn
ECECECEC
1
21
...
Tổng quát ta có tổng chi phí cho hoạt động là:
0
11
CECC
n
t
t
n
t
t
++
∑∑
==
Trong đó:
C
0
: Chi phí ban đầu như khảo sát, thiết kế hay xây dựng và
thiết bị …
EC
t
: Chi phí môi trường cho dự án hoạt động ở năm thứ t.
t
: là lợi ích tính bằng tiền ở năm thứ t.
B
t
: là lợi ích dự án ở năm thứ t.
t: là thời gian hoạt động của dự án, t = 1,2,…,n năm.
Bước 6: Quy đổi giá trị tiền tệ.
9
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường ĐHKTQD
Đây là việc bất cứ nhà phân tích nào cũng phải làm vì đối với tất cả
các dự án được triển khai trong thực tế không hoàn toàn theo đúng như
trong kế hoạch, luôn có sự thay đổi khi dự án tiến hành trong nhiều năm.
Để phả ánh đúng bản chất của nó, người ta đưa tất cả các giá trị lợi ích và
tất cả các giá trị chi phí về các thời điểm sau để so sánh:
+ Giá trị trong hiện tại
+ Giá trị trong tương lai
Hệ số được sử dụng để tính giá trị hiện tại và tương lai là hệ số chiết
khấu ( tỷ lệ chiết khấu). Cơ sở xác định giá trị chiết khấu căn cứ vào hệ
sốdo chính phủ đề ra: có thể lấy ra từ phần quản lý ngân sách, Bộ tài chính
hay kho bạc hoặc phòng tổng hợp kế toán quốc gia.
Giả sử có khoản tiền P gửi ngân hàng với lãi suất hàng năm là r ( r
được tính bằng %). Thì số tiền thu được sau t năm là:
P(t) = P(1+ r)
t
Ngược lại số tiền gửi ban đầu là:
t
r
P
+ Lạm phát.
Đối với nhà phân tích phải căn cứ vào sự biến thiên giá trị đồng tiền, thị
trường có liên quan đến lạm phát… để lựa chọn các chỉ số r phù hợp.
Bước 9: Tiến cử những phương án có lợi ích xã hội cao nhất.
Phương án được ưa thích nhất trong tiến cử là phương án đem lại lợi ích
nhất, hiệu quả nhất, đạt được các chỉ tiêu mong muốn như y đồ ban đầu
đưa ra. Đối với người làm CBA chỉ có quyền tiến cử các phương án nên
lựa chọn chứ không thể đưa ra một quyết định nào, còn quyết định là do
cấp cao hơn hoặc là đối tượng yêu cầu tiến hành CBA. Vì trong thực tế
giữa quan điểm nhìn nhận của người phân tích chuyên môn có sự khác
nhau với nhà quản lý và lãnh đạo vì nhà chuyên môn chỉ nhìn nhận dưới
góc độ chuyên môn: lãi ròng thông qua gia trị tiền tệ. Còn nhà quản lý lãnh
đạo, đặc biệt là người lãnh đạo chính quyền còn phải quan tâm đến nhiều
yếu tố khác: chính trị, an ninh, xã hội.
Tóm lại: Như vậy thông qua 9 bước nêu trên, người làm CBA và các nhà
phân tích phải tuân thủ nghiêm ngặt các bước đồng thời hiểu rõ các quy
định của từng bước, đó là sự kế thừa lẫn nhau.
11
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường ĐHKTQD
1.2.2- Các hạn chế của phương pháp phân tích chi phí- lợi ích
Trong thực tế, CBA được sử dụng nhiều vào phân tích dự án thực thi
hoạch định chính sách từ đó đưa ra những quyết định phù hợp. Từ thực
tiễn vận dụng phương pháp này, các nhà phân tích CBA thường vấp phải
những hạn chế trước khi đưa ra những quyết định. Các hạn chế đó là:
+ Hạn chế về mặt kỹ thuật gây ra những khó khăn trong việc chúng ta
định lượng, tiếp theo là tiền tệ hoá các tác động liên quan đến chi phí- lợi
ích.
+ Các mục tiêu ngoài tính hiệu quả liên quan đến dự án.
1.2.2.1- Hạn chế về mặt kỹ thuật của CBA.
hưởng lợi ích từ đầu tư này đẫn đến phải điều tra lấy ý kiến của những
người được hưởng những lợi ích đó. Khi xác định được về mặt định tính
và định lượng những lợi ích mà dự án cải tạo mang lại một cách chính xác,
hoàn toàn không được áp đặt tính chủ quan.
*Phương pháp phân tích chi phí hiệu quả:
Những phân tích tác động không tiền tệ hoá được, trong trường hợp đó
ngoài cách tiếp cận trên thì còn có một phương thức tiếp cận nữa đảm bảo
thích hợp hơn đó là phân tích chi phí hiệu quả. Đây là phương pháp khắc
phục trường hợp không sử dụng được CBA nghĩa là không tính được toàn
bộ chi phí về mặt kỹ thuật mà chỉ tính được một khoản nào đó.
Nguyên tắc của phương pháp này: Dựa trên nguyên lý là xây dựng hệ số
liên quan đến lợi ích định lượng nhưng lại không tiền tệ hoá được so với
tổng chi phí bằng tiền. Chúng ta so sánh các hệ số đó với các chính sách
lựa chọn khác để đưa cùng một hệ số sắp xếp thứ tụ cho lựa chọn và mục
tiêu cần đạt là chi phí mà bỏ ra cho các sự lựa chọn thì chi phí nào là chi
phí hiệu quả nhất. Hiệu quả hoàn toàn khác biệt với lợi ích cao nhất.
1.2.3.2- Biện pháp khắc phục những mục tiêu ngoài tính hiệu quả mà nó
liên quan đến.
* Phương pháp phân tích đa mục tiêu.
13
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường ĐHKTQD
Vấn đề quan trọng của phương pháp phân tích đa mục tiêu là những
phạm trù để lựa chọn chính sách cần được so sánh được với nhau trên cơ
sở quy đổi về các giá trị liên quan. Để thực hiện nó, thường tiến hành theo
trình tự 3 bước sau:
Bước 1:
Người làm phân tích phải chuyển tất cả các giá trị liên quan đến mục
tiêu chug sang các mục tiêu cụ thể mà có thể được sử dụng như là các tiêu
chuẩn để đánh giá các chính sách lựa chọn.
II- PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH- PHÂN TÍCH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ
PHÂN TÍCH KỸ THUẬT CỦA DỰ ÁN.
2.1- Phân tích tài chính- phân tích kinh tế xã hội của dự án:
* Phân tích tài chính của dự án:
+ Phân tích tài chính của một dự án phản ánh lợi ích của chủ doanh
nghiệp.
+ Phân tích tài chính dựa trên phương pháp phân tích quá trình luân
chuyển dòng tiền tệ trong đời dự án mà khi thực hiện dự án có thể xảy ra.
*Phân tích kinh tế- xã hội của dự án:
+ Phân tích kinh tế, xã hội và môi trường phản ánh lợi íc của dự án đưa
lại trên quan điểm nền kinh tế quốc dân.
+ Phân tích kinh tế, xã hội và môi trường dựa trên phương pháp phân
tích lợi ích-chi phí.
+ Hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của dự án đầu tư là chênh lệch
giữa các lợi ích mà nền kinh tế thu được so với các đóng góp của nền kinh
tế cà xã hội bỏ ra khi thực hiện dự án.
Những lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đáp ứng của dự án đối
với cuệc thực hiện các mục tiêu chung của xã hội, của nền kinh tế. Những
sự đáp ứng này có thể được xem xét mang tính chất định tính như đáp ứng
các mục tiêu phát triển kinh tế, phục vụ việc thực hiện chính sách của Nhà
nước, góp phần phòng chống ô nhiễm, cải tạo môi trường môi sinh…, hoặc
có thể đo lường bằng các tính toán định lượng như tăng thu ngân sách,
15
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường ĐHKTQD
mức tăng số người có việc làm, mức gia tăng sử dụng tài nguyên, mức tăng
thu ngoại tệ…
Chi phí mà xã hội phải gánh chịu khi một công cuộc đầu tư được thực
hiện bao gồm toàn bộ các tài nguyên thiên nhiên, của cải vậ chất, sức lao
động mà xã hội dành cho đầu tư thay vì sử dụng vào các công cuộc khác
đi lặp lại.
Cả hai loại phân tích đều xem xét dự án dựa trên chi phí và lợi ích.
*Khác nhau: Phương pháp kỹ thuật là lựa chọn những thiết bị ,
công nghệ … để đánh giá dự án, xem xét dự án và đưa ra những
rằng buộc mà dự án phải tuân theo như về vốn kỹ thuật, trình độ quản lý
kỹ thuật.
Phương pháp phân tích kinh tế xem xét dụa án dựa trên góc độ kinh tế, nó
chỉ phản ánh lợi ích của doanh nghiệp sẽ đạt được nếu dự án được thực thi
III- CÁC CHỈ TIÊU SINH LỜI CỦA DỰ ÁN
3.1- Giá trị hiện tại ròng (NPV)
+ Khái niệm: Giá trị hiện tại ròng của dự án là hiệu số giữa giá trị hiện tại
của các khoản thu nhập và chi phí trong tương lai có nghĩa là tất cả lợi
nhuận hàng năm được chiết khấu về thời điểm bắt đầu bỏ vốn theo tỷ suất
chiết khấu đã định trước, dự án chỉ được chấp nhận khi giá trị hiện tại ròng
có giá trị dương (
NPV
0
≥
)
Chỉ tiêu này là số thu nhập ròng sau khi đã trừ đi mọi chi phí và thiệt hại
kể cả chi phí để trả lãi vốn vay ở mức lãi suất tối thiểu. ở đây mọi chỉ tiêu
thu chi đều được qui về thời điểm hiện tại.
+ Công thức:
t
n
t
t
tt
n
t
t
, EC
t
hàng năm là không đổi thì công thức trên NPV
sẽ được tính theo công thức sau:
17
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường ĐHKTQD
nn
n
tt
n
n
tt
r
SV
rr
r
ECC
rr
r
EBBCNPV
)1()1(
1)1(
)(
)1(
1)1(
)(
0
+
Nếu dự án cho NPV< 0 thì dự án không khả thi bị loại bỏ
Nếu trong tường hợp một dự án có nhiều phương án mà các phương
án này đều ci NPV> 0 phương án nào cho NPV lớn nhất thì dự án đó sẽ
được lựa chọn.
+ Ưu nhược điểm:
Ưu điểm
. Có tính đến giá trị theo thời gian của tiền, tính đến trượt giá và lạm phát
thông qua việc điều chỉnh B
t
, C
t
, mức tỷ suất chiết khấu r.
. Tính toán tương đối đơn giản so với các chỉ tiêu khác
Nhược điểm
. Chỉ tiêu nếu này xét đến sự vận động của vốn vay sẽ bị xét 2 lần. Lần thứ
nhất số vốn đó nhân với hệ số
t
r)1(
1
+
, lần thứ hai sẽ tính đến chi phí trả lãi
vốn vay.
. Chỉ tiêu này chỉ cho biết quy mô lãi nhiều hay ít chứ không phản án được
mức độ hiệu quả của dự án.
18
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường ĐHKTQD
. Chỉ tiêu này chỉ thực sự có ý nghĩa đối với các dự án có cùng quy mô và
tuổi thọ.
. Để tính được NPV cần phải xác định được mức tỷ suất chiết khấu thích
EBB
C
B
1
0
1
)1(
)(
)1(
)(
Trong đó:
r: tỷ suất chiết khấu
B
t
: Lợi ích ở năm t
EB
t
: Lợi ích môi trường năm t
C
t
: Chi phí năm t
EC
t
: Chi phí môi trường năm t
t: là thời gian hoạt động của dự án (t=1,2,…, n năm)
n: Số năm hoạt động của dự án
+ Nguyên tắc quyết định:
B/C
≥
1 khi đo tổng các khoản của dự án để bù đắp các khoản chi phí
1
)(
12
1
ii
i
NPVNPV
iiNPV
iIRR
−
−
+=
Trong đó: i
1
,i
2
: Tỷ suất chiết khấu (i
2
> i
1
)
21
,
ii
NPNNPV
: Giá trị hiện tại ròng của i
1
và i
Sản lượng hàng năm
Hơn 500.000 áo len, 300.000
đôI tất, 85 tấn len nhuộm
1.500 tấn giấy
Các hoạt động nhằm
áp dụng sản xuất sạch
hơn
Hoàn lưu sử dụng nước làm
mát để tiết kiệm nhiệt
Thay quạt nồi hơI và hoàn
lưu nước ngưng tụ: thu hồi
sợi giấy từ nước thải
Lượng nhiên liệu than
tiết kiệm được mỗi
năm
140 tấn (26%) 124 tấn (16%)
Giảm thiểu tro than
phát thải mỗi năm
42 tấn 37 tấn (31%)
Lợi ích kinh tế mỗi
năm
94 triệu đồng 90 triệu đồng
21
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường ĐHKTQD
Nguồn: Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004 – Chất thải
rắn
Trong hoạt động tái chế chất thải rắn nhờ áp dụng phương pháp CBA
nên các nhà Kinh tế Môi trường đã lượng hóa được bằng tiền vụ thể như
sau: Năm 1995, tổng giá trị của các loại vật liệu tái chế lưu thông trên thị
tầng bờ biển có 6100 dặm đường cống, 14 trạm xử lý ô nhiễm nước, 80
nhà máy điện và rất nhiều đường hầm, ống thông hơI, đường ray, các trạm
lọc dầu, các đường ống chất thải độc hại và các bể chứa. Tất cả những thứ
này đều bị đe dọa bởi mực nước biển tăng. Những vấn đề do mực nước
biển tăng tạo ra có thể là nước và nước thải tràn vào đường phố, rò rỉ chất
thải độc hại, rò rỉ đường ống nước, úng lụt trong các đường ống thông hơi
và thoát khí, các hệ thống vận chuyển và điện không vận hành được, xói
mòn và sụt lún nề đường và các phương tiện khác, làm hư hại các cơ cấu
hỗ trợ khác. Ngoài việc thay đổi cơ sở hạ tầng, có thể phải từ bỏ các thành
phố và chuyển lên các khu vực cao hơn với chi phí hàng tỷ đô la.
23
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44
Báo cáo thực tập tốt nghiệp trường ĐHKTQD
Chương II- THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH VÀ PHÁT TRIỂN TẠI CÔNG TY PHÂN LÂN VĂN ĐIỂN
I-TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY PHÂN LÂN VĂN ĐIỂN
1.1- Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty phân lân Văn Điển là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc
Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam. Năm 1960 được sự giúp đỡ của Trung
Quốc từ khâu thiết kế xây dựng đến các trang thiết bị, Công ty được khởi
công xây dựng từ tháng 2/1960 đến cuối năm 1963 được đưa vào hoạt
động với mục đích là cung cấp phân bón cho ruộng, công suất là 2vạnT/
năm.
Ban đầu nhà máy chỉ có khoảng 200 lao động bao gồm 24 người thực
tập, 150 công nhân viên và 3 kỹ sư. Với lực lượng lao động như trên cộng
với dây chuyền công nghệ sản xuất thủ công, lạc hậu phải ngừng hoạt động
để sửa chữa, nguyên vật liệu để sản xuất bị phụ thuộc nên không đủ cung
cấp thường xuyên và kịp thời cho nhà máy hoạt động tối đa công suất.
Sản lượng phân lân từ năm 1961- 1964
Bên cạnh đó, hệ thống xử lý nước thải tuần hoàn khép kín cũng thu hồi
được một khối lượng phân lân khá lớn mà không ai khác chính là tập thể
các kỹ sư của công ty đã thiết kế và xây dựng đã tiết kiệm được cho nhà
nước hàng chục tỷ đồng nếu phải nhập công nghệ tương tự từ nước ngoài.
Trước đây công ty sử dụng quặng Apatit loại I nhưng từ khi
chuyển sang sử dụng loại II để sản xuất, chất lượng phân bón giảm. Để
giải quyết Công ty đã sử dụng sa thạch là quặng giàu silic làm phụ gia
thích hợp và đem lại tác động hạ nhiệt độ nóng chảy của quặng làm giảm
tiêu hao nhiệt. Hàm lượng P
2
O
5
cũng được tăng lên từ 15,5% lên 16%
(năm 1992) đây là loại sản phẩm được xếp vào sản phẩm hàm lượng P
2
O
5
hữu hiệu >15%.
Cơ cấu tổ chức của Công ty bao gồm Giám đốc, 3 Phó Giám đốc-
PGĐ kỹ thuật, PGĐ kinh tế thị trường, PGĐ đời sống tương ứng là các
phồng ban: Phòng kỹ thuật, Phòng kinh tế, Phòng tổ chức, 4 phân xưởng
25
Phạm Nguyễn Thuỳ Linh KT & QLMT 44