CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM - Pdf 31

TÓM TẮT NỘI DUNG
PHẦN I: KHÁI NIỆM LÃI SUẤT
PHẦN II: NHỮNG LOẠI LÃI SUẤT CƠ BẢN
PHẦN III: NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LÃI SUẤT
PHẦN IV: CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
PHẦN I: KHÁI NIỆM LÃI SUẤT
1. Một số khái niệm lãi suất:
• Lãi suất là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức thu được trong một thời
gian nhất định với tổng số vốn bỏ ra cho vay trong cùng thời gian đó.
• Lãi suất là giá của vốn, chi phí phải trả cho việc thuê vốn.
• Lãi suất là chi phí phải bỏ ra cho việc vay tiền, là giá cả của việc được
sử dụng tiền tệ trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử
dụng phải trả cho người sở hữu nó.
2. Đặc điểm của lãi suất
• Là giá cả của tín dụng
• Là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước
• Là công cụ tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế; là công cụ kìm
hãm sự phát triển của nền kinh tế
3. Cơ sở hình thành lãi suất tín dụng
• Khả năng chuyển đổi trên thị trường vốn
• Rủi ro sai hẹn của người đi vay
• Rủi ro không thanh toán.
• Độ dài của kì hạn hoàn trả
4. Vai trò
Trước đây, trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp thì vai trò
của lãi suất hết sức mờ nhạt và lệ thuộc nhiều yếu tố. Nhiều khi được hiểu
như là một sự phân phối cuối cùng của sản phẩm giữa người đi vay và người
cho vay. Ngày nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, lãi suất đã giữ
một vai trò hết sức quan trọng, tác động đến tất cả lĩnh vực của nền KT
• Là công cụ để khuyến khích tiết kiệm đầu tư

tăng so với ngoại tệ
Như vậy bằng cách giảm lãi suất, NHNN có thể tạo điều kiện cho các
hoạt động KT phát triển. Tương tự NHNN có thể phát triển lãi suất khi
muốn thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, giảm bớt khối lượng tiền cần
thiết cho việc mở rộng hoạt động SXKD và chi tiêu của người tiêu dùng
• Là công cụ phân phối có hiệu quả nhằm khai thác và sử dụng triệt để
các nguồn lực của nền KT
Khi NN muốn khuyến khích một ngành nghề quan trọng nào đó trong
nền KT, NN có thể thực hiện bằng cách ưu đãi về lãi suất cho vay
( như giảm lãi suất cho vay) và ngược lại khi muốn hạn chế phát triển
của các ngành chua cần thiết để dành nguồn lực cho các ngành khác
thì NN có thể phát triển lãi suất cho vay của ngành đó. Như vậy,
những ngành được hỗ trợ sẽ phát triển, còn các ngành bị hạn chế sẽ ít
phát triển hơn. Do đó chính sách lãi suất là một công cụ để phân phối
cơ cấu của nền KT nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực.
• Là công cụ đo lường nền KT
Thực tế cho thấy , trong giai đoạn phát triển thì lãi suất thường có xu
hướng tăng do cung cầu quỹ cho vay đều tăng. Trong đó tốc độ tăng
của cầu quỹ cho vay lớn hơn tốc độ cung cua quỹ cho vay. Ngược lại
trong giai đoạn suy thoái LS thường có xu hướng giảm. Do đó khi


nhìn vào sự biến động của lãi suất ta có thể thấy được tình trạng của
nền KT. Căn cứ vào sự biến động lãi suất người ta có thể dự báo được
các yếu tố của nền KT như tính sinh lời của các dự án đầu tư, mức độ
lạm phát, mức độ thiếu hụt ngân sách và qua đó còn có thể dự báo
được tình hình nền KT trong tương lai.
PHẦN II: PHÂN LOẠI LÃI SUẤT
1. Phân loại theo giá trị thực
• Lãi suất thực: là lãi suất được hình thành khi giả định rằng trong nền

FVn= PV(1 + i)n
– FV: số tiền gốc và lãi thanh toán vào kỳ thứ n
– PV: số tiền gốc ban đầu
– i: lãi suất
– n: thời hạn
4. Phân theo loại tiền.
• Lãi suất nội tệ: là loại lãi suất được áp dụng để tính toán cho đồng
nội tệ.
• Lãi suất ngoại tệ: là lãi suất được áp dụng để tính toán cho đồng
ngoại tệ.
5. Phân loại theo độ dài thời gian.
• Lãi suất ngắn hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động
và khoản vay ngắn hạn, có thời hạn dưới 1 năm.
• Lãi suất trung hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động
và các khoản vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
• Lãi suất dài hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và
các khoản vay có thời hạn trên 5 năm
6.Các loại lãi suất thông dụng.
• Lãi suất cơ bản của ngân hàng.
Lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của
NHNN trong ngắn hạn. Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất
thị trường liên NH, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu
hướng biến động cung cầu vốn. Theo Luật Dân sự, các tổ chức tín dụng
không được cho vay với lãi suất cao gấp rưỡi lãi suất cơ bản.
Làm cơ sở tính toán cho các khoản vay khác.
Mức lãi suất cơ bản hiện nay là 8% một năm.
Lãi suất cho vay = lãi suất cơ bản + CP phát sinh
• Lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu.
- Lãi suất chiết khấu: là lãi suất cho vay ngắn hạn của ngân hàng
thương mại đối với khách hàng dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá

lên.
2. Lạm phát
Lạm phát ảnh hưởng rất lớn tới lãi suất, khi lạm phát tăng lên trong
một thời kỳ nào đó thì lãi suất có xu hướng tăng lên. Bởi vì:
- Do những người có khả năng cho vay vốn sẽ không dám cho vay vì
vốn gốc và tiền lời thu được đã bị hao mòn do tác động của lạm phát, khi đó
họ không muốn giử tiền mặt mà chuyển sang dự trữ hàng hóa, ngoại tệ…
điều này dẫn đến cung vốn giảm,lãi suất sẽ tăng lên.
- Lạm phát tăng kéo theo việc tăng thêm quy mô về cầu quỹ cho vay.
Bởi với lãi xuất danh nghĩa cho trước, khi lạm phát dự tính tăng lên, chi phí
thưc của việc vay tiền giảm xuống, kích thích người ta đi vay hơn là cho
vay.Người đi vay sẽ kiếm được khoản thu lợi do giá hàng hóa được mua
bằng tiền đi vay sẽ tăng lên.
- Một sự giảm xuống của cung và một sự tăng lên của cầu sẽ làm lãi
suất tăng lên.
3. Rủi ro và kỳ hạn của tín dụng


• Mức độ rủi ro của các khoản vay càng cao thì lãi suất cho vay càng
lớn do phần bù rủi ro làm cho lãi suất tăng lên.
• Kỳ hạn cho vay càng dài thì lãi suất cho vay càng cao, do thời hạn cho
vay dài thường làm rủi ro đối với các khoản vay lớn hơn như rủi ro
thanh khoản, rủi ro lạm phát …
4. Các Chính Sách của chính phủ
• Chính sách tỷ giá: Tỷ giá sẽ tác động đến quá trình sản xuất kinh
doanh và xuất nhập khẩu hàng hóa của một nước.
- Tỷ giá hối đoái tăng sẽ làm tăng giá của hàng nhập khẩu, dẫn đến
tăng chi phí đầu vào của các xí nghiệp, giá hàng hóa trong nước tăng lên, lợi
nhuận giảm,nhu cầu đầu tư giảm, cầu tiền tệ giảm, lãi suất giảm.
- Khi tỷ giá hối đoái tăng, đồng tiền tăng giá, không kích thích xuất

5. Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại.
• Trong khung lãi suất cho phép, để tăng khối lượng nguồn vốn huy
động đồng thời để mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng, các
NHTM có thể nâng lãi suất tiền gửi và hạ lãi suất cho vay. Đây chính
là hoạt động cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại. Thực chất
của quá trình này là phân chia khối lượng tiền gửi và mở rộng phạm vi
ảnh hưởng của ngân hàng ra thị trường.
• Để đảm bảo cạnh tranh thắng lợi, mỗi ngân hàng thương mại đều có
chiến lược khách hàng của mình. Chiến lược này được thực hiện bằng
lãi suất ưu đãi. Muốn vậy các ngân hàng thương mại đều tìm mọi biện
pháp giảm thấp chi phí kinh doanh và chi phí quản lý. Sự cạnh tranh
lành mạnh giữa các NHTM sẽ tạo ra lợi ích kinh tế chung cho toàn bộ
nền kinh tế quốc dân.
6. Sự chi tiêu của chính phủ.
Trong khi lượng cung ứng tiền tệ (M1 hay M2) không thay đổi mà
chính phủ chi tiêu nhiều hơn sẽ làm giảm bớt nhu cầu chi cho đầu tư và tiêu
dùng của cá nhân, nhu cầu tiền của nhân dân trở nên khan hiếm, nguồn cung
ứng vốn nhỏ hơn nhu cầu vốn, lãi suất sẽ tăng lên.
PHẦN IV: CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA NHNN VIỆT NAM
Trong những thập kỷ gần đây, thị trường tài chính-tiền tệ thế giới có
sự phát triển vượt bậc về quy mô và chiều sâu, cơ chế điều hành lãi suất của
NHTW các nước thay đổi theo hướng tự do hóa. Tuy nhiện ở mỗi nước,
NHTW căn cứ vào luật định, điều kiện và bối cảnh phát triển KT-XH, thi
trường tài chính-tiền tệ, cũng như địa vị pháp lý của NHTW, mục tiêu của
chính sách tiền tệ để áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp trong từng
thời kỳ nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động NH và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền KT.
Đối với nước ta, cơ chế điều hành lãi suất có sự thay đổi qua nhiều
giai đoạn
1.Cơ chế thực thi chính sách lãi suất cố định (3.1989 - 5.1992)

bố định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ
công bố điều chỉnh kịp thời.
• Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng
thương mại, các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ
sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn trong nước của từng
loại ngoại tệ. Theo cơ chế lãi suất này cho thấy Ngân hàng Nhà nước
VN đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa và
từng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu vực và thế giới.
5. Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6.2002 – 2006)
Trong thực tế, cơ chế lãi suất này được Ngân hàng Nhà nước chuyển
đổi từng bước bắt đầu từ tháng 5.2001 áp dụng cho hình thức vay bằng
ngoại tệ, tiếp theo 5.2002 là áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt
động tín dụng trong nước. Nhìn một cách tổng quát thì quá trình thực thi cơ
chế tự do hóa lãi suất ở VN bước đầu đã có kết quả nhất định.
6.Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản:
• Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mà theo đó, các NHTM ấn
định lãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công
bố trong từng thời kỳ
• Thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên NH với biên độ chênh
lệch khoảng 2% để điều tiết thị trường:


- “Trần” là lãi suất tái cấp vốn, “sàn” là lãi suất tái chiết khấu (hiện
nay là 7%-5%/năm); lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở biến
động trong phạm vi hành lang này
- Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò định hướng và thực
hiện việc “bơm” tiền ra hoặc hút tiền về, từ đó tác động đến cung-cầu vốn,
lãi suất thị trường liên NH và lãi suất huy động, cho vay của NHTM



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status