Phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánhQuảng Ngãi - Pdf 31

Chuyên đề tốt nghiệp

Trường Đại Học Kinh Tế Huế

PHẦN I : GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1. Sự cần thiết của nghiên cứu:
Ngày nay hội nhập thế giới là một xu hướng tất yếu không chỉ đối với Việt
Nam mà của cả thế giới .Đặt biệt là sau khi Việt Nam tham gia tổ chức thương mại
thế giới (WTO) đã đem đến cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách
thức; đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ.
Năm 2008 là năm với nhiều biến động lớn của cuộc khủng hoảng tài chính –
suy thoái kinh tế, doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn, lòng tin của dân chúng
bị sụp đổ, sức mua cùng với giá cả thị trường bị giảm sút nghiêm trọng .Từ đó ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động của ngân hàng. Bên cạnh những mặt tiêu cực đó, ta
cũng thấy mặt tích cực, nó là bài kiểm tra sức khoẻ mức chịu đựng của nền kinh tế
Việt Nam nói chung cũng như của hệ thống ngân hàng nói riêng và đó cũng là cơ
hội để khẳng định, cũng cố và tự hoàn thiện bản thân.
Để làm được những điều nói trên đòi hỏi các ngân hàng thương mại cũng như
ngân hàng nhà nước phải phân tích những điểm mạnh điểm yếu của mình kết hợp
với những rủi ro và cơ hội để đưa ra những chiến lược phù hợp với từng thời kỳ của
sự phát triển cũng như những biến động của thế giới và Việt Nam trên nguyên tắc
hài hoà lợi ích quốc gia và lợi ích của doanh nghiệp.
Theo các ngân hàng, lĩnh vực tín dụng cá nhân tuy khá mới mẻ ở Việt Nam
nhưng lại có tiềm năng rất lớn để phát triển. Điểm thuận lợi lớn là quy mô thị trường
lớn với dân số trên 84 triệu người. Đa số trong đó có độ tuổi trẻ, có thu nhập, phong
cách sống hiện đại và nhu cầu mua sắm lớn. Với sự nhạy bén của mình ngân hàng
thương mại Việt Nam hiện nay đang tập trung phát triển trên thị trường bán lẻ đầy
tiềm năng này mà trong đó sản phẩm nổi trội là cho vay tiêu dùng. Có thể nói cho
vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay là sản phẩm phù
hợp với tình hình kinh tế Việt Nam và chủ trương của Việt Nam hiện nay, vừa có tác


2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Hệ thống hoá vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động ngân hàng nói chung
và hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại nói riêng.
- Phân tích đánh giá kết quả hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng
Sacombank trong thời gian từ 2008 đến 2009.
- Khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả cho vay tiêu dùng tại Ngân
Hàng Sacombank - CN Quảng Ngãi.

SVTH : Huỳnh Ngọc Nhân

trang

2


Chuyên đề tốt nghiệp

Trường Đại Học Kinh Tế Huế

- Đưa ra những đề xuất và các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
của hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – CN
Quảng Ngãi.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a. Đối tượng: đề tài này tập trung nghiên cứu hoạt động cho vay tiêu dùng.
b. Phạm vi:
-Về không gian: nghiên cứu được tiến hành tại ngân hàng Sacombank - CN
Quảng Ngãi.
-Về thời gian: từ năm 2008 đến 2009.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành đề tài này trong quá trình phân tích tôi đã sử dụng các phương

- Chương II: Thực trạng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Sài Gòn Thương
Tín chi nhánh Quảng Ngãi.
- Chương III: Một số đề xuất và kiến nghị .
Phần III: Kết luận .

SVTH : Huỳnh Ngọc Nhân

trang

4


Chuyên đề tốt nghiệp

Trường Đại Học Kinh Tế Huế

PHẦN II : NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại:
Theo luật các tổ chức tín dụng ban hành theo quyết định số 07/1997/QHX:
“ Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp có hoạt động chủ yếu và thường xuyên là thực
hiện một, một số hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ
chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. ”.
Theo đó thì: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện tất cả hoạt
động ngân hàng theo quy định của Luật này”.
1.1.2 Những hoạt động cơ bản của NHTM:
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn:
Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu của các NHTM. Thực chất đó là tài sản

các tổ chức tài chính khác.
Vốn đi vay chỉ nên chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu nguồn vốn của mỗi
ngân hàng (do chi phí đối với các khoản vay này thường rất cao nên nếu tỷ trọng lớn
lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm).Tuy nhiên nghiệp vụ đi vay này là vô cùng quan
trọng để đảm bảo cho các ngân hàng hoạt động một cách bình thường.
1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động sử dụng vốn chính là tạo ra nguồn lực để SXKD, một khi nguồn
lực đã có, các NHTM sẽ sử dụng nó để đáp ứng các mục tiêu kinh doanh, cụ thể là
các hoạt động sau:
a) Nghiệp vụ dự trữ tiền mặt:
Hoạt động của NHTM là nhằm mục tiêu sinh lợi, nhưng cần phải đảm bảo an
toàn để giữ vững lòng tin cho khách hàng. Để có được sự tin cậy đó, trước hết phải
đảm bảo khả năng thanh toán làm sao để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng.
Muốn vậy, các ngân hàng phải dự trữ một phần nguồn vốn để sẳn sàng đáp ứng nhu
cầu thanh toán. Tuy nhiên, dự trữ tiền mặt là một khoản không sinh lời, hoặc nếu có
thì cũng rất thấp. Do đó các NHTM phải có kế hoạch để duy trì loại tài sản này sao
cho vừa bảo đảm khả năng thanh khoản vừa đảm bảo khả năng sinh lời một cách
hợp lý.

SVTH : Huỳnh Ngọc Nhân

trang

6


Chuyên đề tốt nghiệp

Trường Đại Học Kinh Tế Huế


7


Chuyên đề tốt nghiệp

Trường Đại Học Kinh Tế Huế

1.2 CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Tính pháp lý của hoạt động cho vay tiêu dùng:
Hoạt động CVTD ra đời ở Việt Nam cách đây chưa lâu, vào những năm
1993-1994. Cơ sở pháp lý lúc đó là quyết định số 18/QĐ-NH5 ngày 16/02/1994 của
thống đốc NHNN ban hành “ Thể lệ cho vay vốn phát triển kịnh tế hộ gia đình và
CVTD”. Theo đó, một trong những điều kiện vay vốn là cơ quan quản lý hoặc cơ
quan trả lương, trợ cấp cho viên chức đó cam kết trích lương, trợ cấp hàng tháng trả
nợ cho TCTD nếu đến hạn người vay không trả được nợ gốc và lãi. Sau một thời
gian hoạt động, do mở rộng đối tượng khách hàng, quy mô cho vay, các hình thức
cho vay nhưng không có sự hỗ trợ đầy đủ của các công cụ pháp luật, các TCTD gặp
nhiều vướng mắc.
Các TCTD gặp nhiều khó khăn hơn khi luật các TCTD ra đời có hiệu lực
ngày 01/10/1998 quy định cho vay có tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay và việc
cho vay không có tài sản đảm bảo đối với khách hàng thực hiện quy định của chính
phủ và quyết định 324/1998/QĐ-NHNN1 ngày 30/09/1998 ( sau đó được thay thế
bằng quyết định 284/2000/QĐ-NHNN1 ngày 25/8/2000) của thống đốc NHNN ban
hành quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng, quy định các tổ chức tín dụng
thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay của Chính phủ và hướng dẫn của
NHNN. Thực tế quyết định 324 đã thay thế toàn bộ quyết định ban hành các thể lệ
cho vay trước đây (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, đầu tư xây dựng cơ bản ,…) và tất
nhiên thay thế luôn thể lệ CVTD.
Mặt khác, nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của chính phủ về
giao dịch đảm bảo được ban hành sau đó hoàn toàn không quy định cụ thể trường

Tuy nhiên, ngày 29/12/1999, Chính phủ đã ban hành nghị định
178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của TCTD, cho phép các TCTD cho vay có
bảo lãnh bằng tín chấp của các tổ chức đoàn thể xã hội cho cá nhân, hộ gia đình
nghèo. Trên cơ sở nghị định 178, văn bản số 34/CV-NHNN ngày 07/01/2000 và văn
bản số 98/CV-NHNN ngày 28/01/2000 của thống đốc NHNN Việt Nam hướng dẫn
cho phép các TCTD không có tài sản đảm bảo đối với CBCNV và thu nợ từ lương,
trợ cấp và các khoản thu nhập khác. Đến ngày 04/04/2000 NHNN ban hành thông tư
số 06/2000/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện nghị định 178.
Nhằm hướng dẫn cụ thể hơn nữa, tạo điều kiện cho các TCTD chủ động trong kinh
doanh mà vẫn tuân thủ pháp luật, NHNN ban hành một số văn bản khác, đó là quyết
định 266/2000/QĐ-NHNN ngày 18/08/2000 về việc cho vay không có tài sản đảm
bảo đối với NHTMCP, công ty tài chính cổ phần và ngân hàng liên doanh, quyết

SVTH : Huỳnh Ngọc Nhân

trang

9


Chuyên đề tốt nghiệp

Trường Đại Học Kinh Tế Huế

định 284/2000/QĐ-NHNN ngày 25/08/2000 về quy chế cho vay của các TCTD đối
với khách hàng.
Căn cứ tình hình thực tế, ngày 3/12/2001, thống đốc NHNN đã ra quyết định
1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của TCTD với khách hàng
thay thế cho quyết định 284/2000/QĐ-NHNN. Quy chế này tạo cơ hội cho các ngân
hàng mở rộng, tăng năng lực hoạt động kinh doanh để cạnh tranh hiệu quả hơn. Đến

lãnh của bên thứ 3 bằng tài sản gửi tại ngân hàng.
• Không có bảo đảm ( cho vay tín chấp ) : Là loại tín dụng chỉ dựa vào tình
hình dự trước đây và uy tín của khách hàng. Bao gồm tín dụng thấu chi và thẻ tín
dụng cấp cho những khách hàng có quan hệ thường xuyên, có khả năng tài chính
mạnh và có uy tín với ngân hàng. Loại tín dụng này thường áp dụng đối với cán bộ
công nhân viên chức làm việc tại các cơ quan nhà nước.
1.2.3.3 Theo phương thức hoàn trả :
• Trả nhiều lần theo định kỳ : Là loại tín dụng có sự thoả thuận hoàn trả vốn
gốc theo định kỳ thường là hàng tháng.
• Trả một lần : Là loại hình tín dụng có sự thoả thuận trả hết nợ gốc một lần
khi đáo hạn thông thường hình thức này chỉ áp dụng trong trường hợp vay ngắn hạn.
1.2.3.4 Theo tiêu thức nguồn gốc :
• Cho vay gián tiếp : Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các
khoản nợ phát sinh của các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hoá hoặc đã cung cấp
dịch vụ cho người tiêu dùng, hình thức này ngân hàng cho vay thông qua doanh
nghiệp bán hàng hoặc làm dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng.
Khi sử dụng hình thức này ngân hàng dễ dàng mở rộng và tăng doanh số cho
vay, tiết kiệm và giảm chi phí khi cho vay lam cơ sở để mở rộng quan hệ với khách
hàng và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động khác của ngân hàng, nếu NHTM
có quan hệ tốt với các doanh nghiệp bán lẻ thì hình thức cho vay tiêu dùng gián tiếp
có mức độ rủi ro thấp hơn hình thức cho vay trực tiếp. Tuy nhiên, hình thức này có
những hạn chế như khi cho vay ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng
mà thông qua doanh nghiệp nên thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi doanh nghiệp

SVTH : Huỳnh Ngọc Nhân

trang 11


Chuyên đề tốt nghiệp


SVTH : Huỳnh Ngọc Nhân

trang 12


Chuyên đề tốt nghiệp

Trường Đại Học Kinh Tế Huế

- Mang nặng tâm lý ngại phiền phức giao dịch với ngân hàng.
- Ngại giao dịch với ngân hàng sẽ lộ thông tin về thu nhập, phương thức hoạt
động của mình.
Những đặc điểm tâm lý này đã trở thành thói quen với nhóm khách hàng này,
do vậy nếu các ngân hàng nắm bắt được tâm lý trên và đề ra những chính sách thích
hợp thì sẽ thu hút được một lượng khách hàng lớn đến với ngân hàng của mình.
Cũng theo ông thì đặc điểm giao dịch của khách hàng:
-Có số lượng tài khoản và số hồ sơ giao dịch lớn nhưng doanh số vay tính trên
từng khách hàng thấp.
-Số lượng khách hàng đông nhưng lại phân tán rộng khắp khiến cho việc thực
hiện giao dịch không thuận tiện.
-Tài sản đảm bảo của họ phần lớn là giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu đất, hay
tài sản hình thành từ vốn vay.
1.2.5 Các hình thức bảo đảm trong cho vay:
1.2.5.1 Thế chấp tài sản:
Theo luật dân sự thì thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản là
BĐS thuộc sở hữu hợp pháp của mình thế chấp cho cơ quan có quyền để đảm bảo
thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Trong quan hệ tín dụng : thế chấp là việc người đi vay đem tài sản là BĐS
thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình thế chấp cho ngân hàng để vay một số tiền

Một số phương thức bảo lãnh :
• Bảo lãnh bằng tài sản.
• Bảo lãnh bằng năng lực chi trả.
• Bảo lãnh bằng uy tín.
1.2.5.3 Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay :
Bên cho vay (ngân hàng) và bên đi vay (khách hàng) có thể thoả thuận dùng
tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo nợ vay. Nếu khi đáo hạn mà bên đi vay
không thực hiện việc trả nợ thì ngân hàng cho vay sẽ xử lý tài sản hình thành bằng
vốn vay để thu nợ.
1.2.5.4 Không có tài sản đảm bảo (Tín chấp):
Những khách hàng có uy tín, có thu nhập ổn định, không có nợ nần dây dưa
khi vay vốn ngân hàng, có thể được ngân hàng cho vay tín chấp dựa trên cơ sở xem

SVTH : Huỳnh Ngọc Nhân

trang 14


Chuyên đề tốt nghiệp

Trường Đại Học Kinh Tế Huế

xét nguồn thu nhập và khả năng trả nợ của khách hàng – nghĩa là khách hàng không
phải thế chấp ,cầm cố hay phải có bảo lãnh của bên thứ 3. Thường thì hình thức này
được áp dụng khi cho vay đối với cán bộ công nhân viên chức.
1.2.6 Vai trò của cho vay tiêu dùng
1.2.6.1 Đối với nền kinh tế:
Cho vay tiêu dùng là đòn bẫy quan trọng kích thích nền sản xuất phát triển, tạo điều
kiện thúc đẩy kinh tế phát triển. Bởi vì, sản xuất và tiêu dùng là hai hoạt động không
thể tách rời, sự phát triển của hoạt động tiêu dùng góp phần cho sản xuất phát triển,

1.2.6.3 Đối với khách hàng :
Cho vay tiêu dùng là phương thức góp phần cải thiện đời sống của người dân
khi họ chưa có đủ thu nhập để trang trải nhu cầu hiện tại đặc biệt trong trường hợp
chi tiêu cấp bách như nhu cầu về y tế … thì lợi ích của cho vay tiêu dùng đóng vai
trò cực kỳ quan trọng. Cho vay tiêu dùng là loại hình dịch vụ giải quyết hài hoà mối
quan hệ giữa yếu tố nhu cầu và yếu tố thời gian.
Nhu cầu của con người ngày càng đa dạng và phong phú luôn vượt quá khả
năng tích luỹ trong hiện tại. Việc đáp ứng việc đáp ứng được những nhu cầu đó
không chỉ đáp ứng được giúp cho đời sống của con người được nâng cao, người đi
vay sẽ được hưởng các điều kiện sống tốt hơn trước khi có đủ khả năng tích luỹ.
Thông qua cho vay tiêu dùng, khách hàng có thể tiếp cận nhanh các tiện ích hiện đại
trong đời sống hàng ngày như : vật dụng và thiết bị, nhà cửa, phương tiện đi lại, học
tập, ….
Cho vay tiêu dùng kích thích khả năng phấn đấu có một công việc tốt trong
tương lai với những khách hàng có trình độ học vấn và ý thức đạo đức. Mặt khác, họ
có thể đáp ứng được các nhu cầu bức thiết như: giáo dục, y tế…qua vay tiêu dùng.
Tuy nhiên, nếu vay tiêu dùng cao hơn khả năng tích luỹ trong tương lai sẽ dẫn đến
mất khả năng thanh toán ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người đi vay
Mở rộng cho vay tiêu dùng qua các ngân hàng sẽ giảm hiện tượng cho vay
nặng lãi. Đối với các nước có hệ thống ngân hàng chậm phát triển như nước ta, cho
vay nặng lãi không chỉ tồn tại để đáp ứng nhu cầu sản xuất của cá nhân mà cả nhu
cầu tiêu dùng nhất là các nhu cầu cấp thiết. Qua cho vay tiêu dùng sẽ giúp khách
hàng xoá đi áp lực khi một lần phải trả tiền vay lúc đáo hạn khi mà khách hàng đi
vay nặng lãi và hơn nữa giúp khách hàng có ý thức tiết kiệm hơn để có tiền thanh
toán nợ cho ngân hàng.

SVTH : Huỳnh Ngọc Nhân

trang 16



SVTH : Huỳnh Ngọc Nhân

trang 17


Chuyên đề tốt nghiệp

Trường Đại Học Kinh Tế Huế

1.2.7.6 Tỷ trọng cho vay tiêu dùng:
Đây là chỉ tiêu nói lên phần trăm doanh số cho vay tiêu dùng trong toàn bộ
doanh số cho vay của ngân hàng hoặc dư nợ cho vay tiêu dùng trong tổng dư nợ cho
vay của ngân hàng. Đây là chỉ tiêu có ý nghĩa tương đối.
1.2.7.7 Chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động cho vay tiêu dùng:
Bất kỳ hoạt động tín dụng nào cũng không thể xem là có chất lượng nếu
không đem lại lợi nhuận thực tế cho NHTM. Bởi lẽ, sự tồn tại và phát triểu của ngân
hàng được quyết định phần lớn bởi nguồn lợi nhuận tạo ra từ hoạt động kinh doanh
của ngân hàng đó. Ta có 2 chỉ tiêu để phản ánh sau:
Tỷ suất sinh lợi của CVTD = Lơi nhuận từ hoạt động CVTD/ Dư nợ CVTD.
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản CVTD của ngân hàng,
cho biết mỗi đồng dư nợ CVTD mang lại bao nhiêu lợi nhuận.
Đóng góp của CVTD = Lợi nhuận từ hoạt động CVTD/ Thu nhập thuần từ HĐCV
Chỉ tiêu này cho biết mức độ đóng góp của hoạt động CVTD trong toàn bộ
hoạt động của ngân hàng. Nếu tỷ trọng này ở mức cao chứng tỏ hoạt động tín dụng
này của ngân hàng mang lại hiệu quả cao nhưng cũng đồng nghĩa với việc ngân
hàng chấp nhận đối mặt với nguy cơ rủi ro cao từ hoạt động CVTD.
1.3 Tình hình nghiên cứu về cho vay tiêu dùng ở các NHTM:
Trước đây, hầu hết các đề tài thường đi vào phân tích hoạt động cho vay sản
xuất kinh doanh hoặc phân tích rủi ro tín dụng, nhưng ít đề tài đi sâu vào việc

Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương Tín ( Sacombank ) được
thành lập theo quyết định số 05/GP-UB ngày 03/01/1992 của uỷ ban nhân dân TP
HCM và hoạt động theo quyết định số 006/NH-GP ngày 05/12/1992 của NHNN
Việt Nam. Sacombank chính thức đi vào hoạt động từ ngày 31/12/1992 với số vốn
ban đầu là 3 tỷ đồng trên cơ sở chuyển thể Ngân hàng Phát Triển Kinh Tế Gò Vấp
và sáp nhập với 3 hợp tác xã tín dụng Tân Bình – Thành Công – Lữ Gia với nhiệm
vụ là huy động vốn, cấp tín dụng và thực hiện các dịch vụ ngân hàng.
Sacombank có 02 đối tác chiến lược nước ngoài uy tín đang nắm gần 30%
vốn cổ phần:

SVTH : Huỳnh Ngọc Nhân

trang 19


Chuyên đề tốt nghiệp

Trường Đại Học Kinh Tế Huế

 Dragon Financial Holdings thuộc Anh Quốc, góp vốn năm 2001;
 Tập đoàn Ngân hàng Australia và Newzealand (ANZ), góp vốn năm 2005;
Sau hơn 18 năm hoạt động, Sacombank vươn lên dẫn đầu khối Ngân hàng
Thương Mại Cổ Phần tại Việt Nam về tốc độ tăng trưởng với tỷ lệ hơn 50%/năm,
vốn điều lệ 6.700 tỷ, 9.502 tỷ đồng vốn tự có 98.474 tỷ đồng tài sản. Ngoài ra,
Sacombank có hơn 320 điểm giao dịch tại 45/63 tỉnh thành trong cả nước, 01 văn
phòng đại diện tại Trung Quốc, 01 Chi nhánh tại Lào, 01 Chi nhánh tại Campuchia;
và 6.180 đại lý thuộc 289 ngân hàng tại 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng Sacombank chi
nhánh Quảng Ngãi :
Sacombank Quảng Ngãi là một chi nhánh thuộc NHTM cổ phần Sài Gòn

nhà, Sacombank sẽ dự định trong thời gian tới sẽ thành lập PGD trực thuộc chi
nhánh Quảng Ngãi – 01 PGD ở Bình Sơn và 01 PGD ở Đức Phổ nhằm tạo điều kiện
cho người dân địa phương tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng tốt nhất của mình.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức:

BanGĐ

Ban

P.DVKH
DVKH
P.

P.Hỗ
Hỗtrợ
trợ
P.

TP.
TP.

TP.Hỗ
Hỗ
TP.

DVKH
DVKH

Trợ
Trợ

Chính
Chính

TPKế
Kế
TP
Toán
Toán
BP.Kế
Kế
BP.
ToánTH
TH
Toán

BPQuỹ
Quỹ
BP

NVQuan
Quan
NV
HệKH
KH
Hệ

Sơ đồ 2.1 : Cơ cấu tổ chức

SVTH : Huỳnh Ngọc Nhân


năng theo quy định.
- Thông báo các quyết định cho vay hoặc không cho vay tới Khách hàng.

SVTH : Huỳnh Ngọc Nhân

trang 22


Chuyên đề tốt nghiệp

Trường Đại Học Kinh Tế Huế

- Thực hiện các thủ tục công chứng các hợp đồng cầm cố, thế chấp và đăng
ký các giao dịch đảm bảo.
- Tham gia tiếp nhận các tài sản cầm cố.
- Lập chứng từ bảo lãnh với các chứng từ bảo lãnh nội địa.
- Đôn đốc, theo dõi, thu hồi gốc và lãi đến hạn định kỳ của từng khách hàng.
- Đề xuất các biện pháp xử lý các khoản nợ trễ hạn, quá hạn theo phạm vi
trách nhiệm theo quy định của NH
- Xây dựng kế hoạch hành động định kỳ theo tuần, tháng, năm; theo dõi, và
đánh giá tình hình thực hiện và đề xuất cho Giám đốc Chi nhánh các biện pháp khắc
phục khó khăn trong công tác.
- Thực hiện đạt chỉ tiêu huy động vốn, chỉ tiêu bán hàng do cấp trên đề ra.
- Phối hợp với bộ phận quản lý tín dụng xây dựng bảng giá đất trên địa bàn
hàng năm để phục vụ cho công tác thẩm định và cấp phát tín dụng.
* Nhân viên tư vấn khách hàng:
- Hướng dẫn và giới thiệu tất cả các sản phẩm, dịch vụ.
- Tư vấn cho khách hàng trong việc sử dụng các sản phẩm và dịch vụ.
- Thực hiện các thủ tục ban đầu khi khách hàng sử dụng sản phẩm và hướng
dẫn Khách hàng tới quầy giao dịch liên quan.

- Hoàn chỉnh hồ sơ, lập thủ tục giải ngân, thanh lý và lưu trữ hồ sơ tín dụng.
- Quản lý danh mục nợ và tình hình thu hồi nợ.
- Hướng dẫn, hỗ trợ, kiểm soát về mặt nghiệp vụ đối với các đơn vị trực
thuộc.
2.1.2.3 Phòng kế toán và quỹ:
a) Bộ phận kế toán:
- Hướng dẫn và hậu kiểm việc hạch toán kế toán đối với các đơn vị trực thuộc
Chi nhánh.
- Đảm nhận công tác thanh toán của Chi nhánh đối với nội bộ ngân hàng và
các Ngân hàng khác.
- Tổng hợp kế hoạch kinh doanh tài chính của toàn Chi nhánh.

SVTH : Huỳnh Ngọc Nhân

trang 24


Chuyên đề tốt nghiệp

Trường Đại Học Kinh Tế Huế

- Hướng dẫn kiểm tra công tác hạch toán và kiểm soát các hoạt động thanh
toán trong nội bộ Chi nhánh, giữa Chi nhánh đối với các đơn vị khác thuộc hệ thống
Ngân hàng và giữa Chi nhánh thanh toán trực tiếp với các Ngân hàng khác.
- Chịu trách nhiệm hậu kiểm kịp thời chứng từ kế toán tại chi nhánh do các
đơn vị trực thuộc Chi nhánh thực hiện, đề xuất các biện pháp xử lý các trường hợp
sai sót.
- Lưu trữ và bảo quản kho chứng từ kế toán theo quy định.
- Đầu mối tiếp nhận các yêu cầu về thanh tra, kiểm tra.
- Xây dựng kế hoạch chi phí điều hành và quản lý chi phí điều hành toàn CN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status