HOÀN THIỆN QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ VI NHÂN GIỐNG ĐỂ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ CÂY TRỒNG CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ PHỤC VỤ CHO CHƯƠNG TRÌNH NÔNG LÂM NGHIỆP BỀN VỮNG CỦA VIỆT NAM - Pdf 31

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

CHƯƠNG TRÌNH KHCN CẤP NHÀ NƯỚC KC-04

BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ DỰ ÁN
“ HOÀN THIỆN QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ VI NHÂN GIỐNG ĐỂ
PHÁT TRIỂN MỘT SỐ CÂY TRỒNG CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ PHỤC
VỤ CHO CHƯƠNG TRÌNH NÔNG LÂM NGHIỆP
BỀN VỮNG CỦA VIỆT NAM”
(Mã số: KC. 04. DA. 08 /06 – 10)

Cơ quan chủ trì : Viện KHNN Việt Nam
Chủ nhiệm dự án : GS.TSKH. Trần Duy

8407
Hà Nội - 2010


BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

CHƯƠNG TRÌNH KHCN CẤP NHÀ NƯỚC KC.04/06-10


Báo cáo thống kê
CHƯƠNG I
1.1
1.2
1.2.1
1.2.2
1.2.3
1.3
1.3.1
1.3.2
1.4
1.5
1.5.1
1.5.2
1.5.3
1.5.4
1.5.5
CHƯƠNG II
2. 1
2. 2
2.2.1
2.2.2
2.2.3

MỞ ĐẦU
Trang
Đặt vấn đề
1
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1

THỰC HIỆN
Mô tả sơ đồ quy trình công nghệ (là xuất xứ của Dự
án) để triển khai Dự án
Phân tích những vấn đề Dự án cần giải quyết công
nghệ
Hoàn thiện quy trình nhân giống bạch đàn và keo
lai
Hoàn thiện quy trình nhân giống hoa lan
Hoàn thiện quy trình vi nhân giống cam Xã Đoài,
bưởi Diễn

25

24

26
26
27
28
28
32
32
33
36


2.2.4
2.2.5
2.3


Xây dựng các mô hình thử nghiệm
Đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân kĩ thuật, các lớp
tập huấn
ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN DỰ
ÁN
Địa điểm thực hiện Dự án
Thời gian thực hiện dự án
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
NỘI DUNG 1: HOÀN THIỆN QUY TRÌNH
CÔNG NGHỆ NHÂN GIỐNG BẠCH ĐÀN
KEO LAI
Quy trình nhân giống bạch đàn, keo lai bằng invitro
Hoàn thiện kĩ thuật chăm sóc cây con, nghiên cứu
cải tiến chế độ dinh dưỡng, phòng trừ sâu bệnh của
cây bạch đàn, keo lai ngoài vườn ươm
Một số loại sâu bệnh hại trên 2 giống bạch đàn và
keo lai trong giai đoạn vườn ươm và biện pháp
phòng trừ
NỘI DUNG 2: HOÀN THIỆN QUY TRÌNH
NHÂN GIỐNG HOA LAN BẢN ĐỊA VÀ LAN
CÔNG NGHIÊP
Quy trình nhân nhanh giống hoa lan bản địa và lan
công nghiệp bằng Invitro
Hoàn thiện kĩ thuật chăm sóc, cải tiến chế độ dinh
dưỡng cho cây lan giống ngoài vườn ươm
Nghiên cứu cải tiến các các giá thể khác nhau đưa
ra được các thông số về chế độ giá thể, dinh dưỡng
phù hợp cho lan giống

38

CHƯƠNG V
5. 1
5. 2
CHƯƠNG VI

Các loại bệnh lan và các biện pháp phòng trừ
NỘI DUNG 3: HOÀN THIỆN QUY TRÌNH VI
GHÉP CÂY CAM XÃ ĐOÀI, VÀ BƯỞI DIỄN
Nghiên cứu ảnh hưởng của mắt ghép, thời vụ ghép
trong quá trình vi ghép mắt cây cam Xã Đoài và
bưởi Diễn
Nghiên cứu kĩ thuật chăm sóc, cải tiến chế độ dinh
dưỡng và phòng trừ sâu bệnh cho cây cam Xã Đoài
và bưởi Diễn sau khi ghép ngoài vườn ươm
Các loại bệnh trên cây cam Xã Đoài, bưởi Diễn và
cách phòng trừ sâu bệnh
NỘI DUNG 4. XÂY DỰNG CÁC MÔ HÌNH
Mô hình bạch đàn, keo lai
Mô hình hoa lan
Mô hình cam xã Đoài, bưởi Diễn
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO

87
89
89
90
93

Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội năm 2008
Bảng 9: Ảnh hưởng các loại giá thể đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh
trưởng của bạch đàn và keo lai từ nuôi cây mô (sau 4 tháng ra ngôi) tại
Quốc Oai, Hà Nội năm 2009
Bảng 10: Ảnh hưởng của loại giá thể đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh
trưởng của bạch đàn và keo lai giâm hom tại Phù Ninh, Phú Thọ năm
2009
Bảng 11: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến tỷ lệ sống và sinh
trưởng của cây bạch đàn và keo lai khi ra ngôi và giâm hom (sau 4 tuần
theo dõi) tại Phù Ninh, Phú Thọ năm 2009
Bảng 12: Ảnh hưởng của độ ẩm đất bầu và không khí đến tỷ lệ sống và
sinh trưởng của các giống bạch đàn U6, PN14, keo lai BV10 và BV16
ở giai đoạn ra ngôi và giâm hom (sau 4 tuần theo dõi) tại Phù Ninh Phú
Thọ, năm 2009.
Bảng 13: Ảnh hưởng của số lần bón phân N: P: K tỷ lệ: 5: 10: 15 trên
cây bạch đàn, keo lai tại Quốc Oai, Hà Nội năm 2009
Bảng 14: Kết quả điều tra tình hình sâu bệnh hại trên 2 giống bạch đàn
U6, PN14, tại vườn ươm ở Phú Lãm Quốc Oai – Hà Nội, năm 2009
Bảng 15: Danh mục các loại vi sinh vật gây bệnh hại ở keo lai tại Việt Nam

Bảng 16: Thành phần sâu bệnh hại phát hiện được ở trên 2 giống keo
lai được thí nghiệm tại vườn ươm Phú Lãm, Quốc Oai, Hà Nội năm
2009

46
47
49
51
52
53

Bảng 22: Ảnh hưởng của thời gian và cường độ chiếu sáng đến khả
năng phát sinh chồi, hệ số nhân chồi của các giống lan Hồ Điệp và lan
Xanh thơm Đà Lạt tại Thanh Trì, Hà Nội năm 2009
Bảng 23: Ảnh hưởng của cường độ chiếu sáng đến tỷ lệ tái sinh cây
hoàn chỉnh, sinh trưởng và phát triển trên Hồ Điệp hoa trắng môi vàng
và Xanh Thơm Đà Lạt tại Thanh Trì, Hà Nội năm 2009
Bảng 24: Ảnh hưởng của nhiệt độ phòng nuôi cây đến khả năng tái sinh
protocorm, hệ số nhân và tái sinh cây hoàn chỉnh ở 2 giống hoa lan (8
tuần nuôi) tại Thanh Trì, Hà Nội năm 2009
Bảng 25: Ảnh hưởng của các loại giá thể khác nhau đến tỷ lệ sống và
sinh trưởng của lan Hồ Điệp khi ra ngôi tại Tam Đảo, Vĩnh Phúc năm
2009
Bảng 26: Ảnh hưởng của mắt ghép đến tỷ lệ sống sau ghép
Bảng 27: Ảnh hưởng của thời vụ ghép đến tỷ lệ sống của cây sau ghép
Bảng 28: Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến sinh
trưởng của cây cam Xã Đoài tại Đông Anh, Hà Nội năm 2009
Bảng 29: Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến sinh
trưởng của cây Bưởi Diễn tại Đông Anh, Hà Nôi năm 2009
Bảng 30: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến tỷ lệ cây ghép
sống và tỷ lệ cây xuất vườn của cây bưởi Diễn tại Đông Anh, Hà Nội
năm 2009
Bảng 31: Ảnh hưởng của độ tăng chiều dài và số lá đến các chỉ tiêu
sinh trưởng, tốc độ sinh trưởng của bạch đàn và keo lai tại lai tại xã Phú
Mãn Huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, 2009

70
72

74



Hình 10: Cây địa Lan Kiếm và lan Hồ Điệp 2 tháng sau khi ra cây ở
vườn ươm được che sáng bằng 2 lớp lưới đen tại mô hình Tam Đảo,
Vĩnh Phúc
Hình 11: Lan kiếm được trồng trên các giá thể khác nhau tại Viện Di
truyền Nông nghiệp năm 2009-2010
Hình 12: Lan kiếm đóng bầu trên các giá thể khác nhau: dớn dương xỉ và
mụn xơ dừa tỷ lệ 1:1:1 tại vườn Tam Đảo, Vĩnh Phúc 2009-2010
Hình 13: Lan Hồ Điệp trồng trên rổ nhựa chứa giá thể xơ dừa, và rong
biển tỷ lệ 1:1 hay giá thể rong biển trộn với dớn dương xỉ theo tỷ lệ 1:1
tại Tam Đảo, Vĩnh phúc 2008-2009
Hình 14: Một số loại sâu bệnh thường gặp ở cây hoa lan
Hình 15: Kĩ thuật vi ghép mắt cây cam Xã Đoài, bưởi Diễn trong phòng
thí nghiệm
Hình 16: Một số loại sâu bệnh hại cam Xã Đoài và bưởi Diễn
Hình 17: Mô hình sản xuất bạch đàn và keo lai tại xã Phú Mãn Huyện
Quốc Oai, tỉnh Hà Tây và Xã Phù Ninh, Huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
Hình 18: Mô hình trồng Hoa lan tại Thị trấn Tam Đảo, Vĩnh Phúc
Hình 19: Mô hình cây cam Xã Đoài, bưởi Diễn tại là Hợp tác xã Tằng
My, xã Nam Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

83

39
39
47
59
62
72
81

nông, lâm nghiệp bền vững trước hết phải kể đến các loại cây như: bạch đàn
lai, keo lai phục vụ cho các nhà máy giấy; các loại cây ăn quả: cam Xã Đoài,
chất lượng cao; bưởi Diễn đặc sản để phục vụ nhu cầu trong nước và tiến tới
xuất khẩu trong những năm tới. Và đặc biệt là các giống hoa cao cấp như lan,
địa lan, hoa lily…có giá trị kinh tế rất cao để phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
trong tương lai, hạn chế việc nhập hoa từ một số nước như Trung Quốc, Thái
Lan, Đài Loan đang là vấn đề cấp thiết trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Vì vậy trên cơ sở kế thừa phát triển tiếp những kết quả nghiên cứu về
công nghệ tế bào và chương trình giống nông, lâm nghiệp giai đoạn 20012005, đồng thời nhằm góp phần giải quyết những vấn đề cấp thiết nêu trên,
chúng tôi tiến hành thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm “Hoàn thiện quy
trình vi nhân giống để phát triển một số cây trồng có giá trị kinh tế phục
vụ cho chương trình nông, lâm nghiệp bền vững”.
1. 2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1. 2.1. Cây bạch đàn và keo lai
1.2.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Từ năm 1987, Gupta và Mascarenha đã cho biết có trên 20 loài bạch
đàn đã được nhân giống thành công bằng nuôi cấy mô và tạo được cây mô
(Gupta và cs., 1987). Các nhà khoa học Ấn Độ đã tạo thành công cây mô từ
các cây trội bạch đàn E. camaldulensis, E. globolus, E. tereticornis, E.
torelliana và cả từ cây trội có hàm lượng tinh dầu cao của Bạch đàn chanh E.
citriodora (Nguyễn Hoàng Nghĩa , 2000).
Cây mô còn ra hoa và tạo hạt ngay ở hai tuổi rưỡi. Cây mô có nguồn
gốc từ cây ưu việt sinh trưởng nhanh gấp 3 lần và đồng đều hơn là cây mọc từ
hạt của cùng cây mẹ. Tại Australia, nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy
mô đã được áp dụng để nhân nhanh các cây được chọn có tính chịu mặn trong
đất và đang được đưa vào sản xuất lớn cho loài E.camladulensis. Vào năm
1



(species) mọc từ các vùng đồng bằng có độ cao ngang mực nước biển cho đến
các vùng bình nguyên cao nguyên, từ các thung lũng đến đèo núi cao. Ở Việt
Nam chỉ du nhập khoảng 10 loại bạch đàn như:
+ Bạch đàn đỏ : Eucalyptus camaldulensis thích hợp vùng đồng bằng;
+ Bạch đàn trắng: Eu.alba, thích hợp vùng gần biển;
+ Bạch đàn lá nhỏ: Eu. tereticornis, thích hợp vùng đồi Thừa Thiên Huế.
+ Bạch đàn liễu: Eu. exserta , thích hợp vùng cao miền Bắc Việt Nam
+ Bạch đàn chanh: Eu. citriodora, thích hợp vùng thấp, lá có chứa tinh
dầu mùi sả;
+ Bạch đàn lá bầu: Eu. globules, thích hợp vùng cao nguyên;
+ Bạch đàn to: Eu. grandis, thích hợp vùng đất phù sa;
+ Bạch đàn ướt: Eu. saligna, thích hợp vùng cao nguyên Ðà Lạt;

2


+Bạch đàn Mai đen: Eu. maidenii, thích hợp vùng cao như Lâm Đồng
v.v.
Bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla) có nguyên sản ở Indonesia, phân
bố từ 7o30 đến 10o vĩ nam và 122 - 127o kinh đông trên các dốc núi và trong
các thung lũng trên các loại đất bazan, diệp thạch (schits) và phiến thạch, đôi
khi mọc ở núi đá vôi. Bạch đàn urô phân bố ở độ cao 300 - 2960 m trên mặt
biển (chủ yếu là ở độ cao 1000 - 2000 m), lượng mưa trung bình hàng năm
600 - 2200 mm với 2 - 8 tháng khô. Các đảo chính có bạch đàn Urô phân bố
tự nhiên là Flores (Egon và Lewotobi), Adona, Pantar, Alor, Wetar và Timor.
Nơi nguyên sản bạch đàn Urô có thể cao 25 - 45 m, cá biệt có thể cao 55 m,
đường kính có thể đạt 1 - 2 m (Turnbull và Brooker, 1978; ldridge và c.s,
1993; Davidson, 1998). Ở những nơi thấp bạch đàn Urô có thể mọc lẫn với
bạch đàn E. alba (Martin and Cossalter, 1975 - 1976). Bạch đàn Urô là loài
cây thích hợp với các lập địa có đất sâu ẩm ở các tỉnh miền Bắc, Bắc Trung

trong cả nước (Nguyễn Tiến Bân và cs., 2003), song hầu hết đều ở dạng cây
3


bụi hoặc dây leo, ít giá trị kinh tế, trong lúc ở Australia (Úc) có đến hơn 660
loài keo Acacia (BoLand và cs.,), với nhiều loài cây gỗ lớn. Một số nước như
Papua New Guinea (PNG) cũng có các loài Acacia kích thước lớn, sinh
trưởng nhanh, dễ thích ứng với điều kiện đất trống đồi núi trọc ở nước ta. Vì
thế việc nhập nội một số loài Keo nhiệt đới từ các nước này để trồng khảo
nghiệm nhằm chọn được loài và xuất xứ thích hợp với một số vùng sinh thái
chính của nước ta là hết sức cần thiết. Từ đầu những 1960, keo lá tràm
(Acacia auriculiformis) đã được nhập vào trồng thử ở vùng Đông Nam Bộ,
một số loài Keo khác cũng được trồng thử tại Đà Lạt, trong đó có loài
A.podariifolia mà về sau đã trở thành cây tượng trưng cho vùng Đà Lạt với
tên gọi quen thuộc là cây "Mimosa". Từ năm 1980, đặc biệt là từ đầu những
năm 1990, một số loài Keo khác được tiếp tục nhập vào trồng thử và được
đưa vào khảo nghiệm ở nước ta. Các loài keo nhập vào Việt Nam được chia
thành ba nhóm là các loài keo vùng thấp, các loài keo chịu hạn và các loài keo
vùng cao. Đến nay, sau khoảng 10 năm khảo nghiệm đã thấy được một số loài
và xuất xứ có triển vọng gây trồng ở một số vùng sinh thái của nước ta.
Các loài keo vùng thấp là những loài có diện tích trồng rừng lớn nhất ở
nước ta. Có thể nói gần 40% diện tích trồng rừng ở vùng đồi thấp hiện nay là
keo lá tràm và keo tai tượng, vì thế nghiên cứu chọn giống cho các loài keo
vùng thấp từ khâu khảo nghiệm xuất xứ đến chọn lọc cây trội, lai giống và
khảo nghiệm giống là có ý nghĩa rất thiết thực trong sản xuất lâm nghiệp. Đầu
những năm 1980 bốn loài keo vùng thấp là keo lá tràm (A.ausiculiformit), keo
tai tượng (A.mangium), keo lá liềm (A.crassicarpa), và keo nâu (A.
alaucocarpa) đã được nhập trồng thử tại Ba Vì (Hà Tây), Hóa Thượng (Thái
Nguyên) và Trảng Bom (Đồng Nai). Đánh giá sơ bộ năm 1991 đã thấy trong
4 loài Keo được trồng thử năm 1982 tại Ba Vì và năm 1984 tại Hóa Thượng

thể chịu được lượng mưa 500 - 1000 mm/năm Doran và cs., 1997). Keo lá
tràm thường có kích thước trung bình, thân ngắn nhiều cành nhánh, song trên
các lập địa tốt loài này có thể cao 30 m với đường kính 80 cm và thân thẳng
đơn trục (Pinyopusarerk, 1990), gỗ có tỷ trọng 0,5 - 0,6, thậm chí 0,7 nhiệt trị
4800- 4900 Cal/kg (Viện Hàn lâm khoa học Mỹ, 1984), có thể dùng làm gỗ
củi, làm giấy, làm gỗ xây dựng và gỗ đồ mộc. Keo lá tràm ở nước ta được
trồng lần đầu ở Đồng Nai vào năm 1960, đến nay đã trở thành giống địa
phương được dùng trồng rừng ở nhiều nơi.
+ Keo tai tượng (A.mangium) có nguồn gốc từ Australia, Papua New
Guinea và Indonesia, chúng phân bố chủ yếu ở vĩ độ 8 - 18o Nam, độ cao 300
m trên mặt biển, lượng mưa 1500 – 3000 mm/năm (Doran, Turnbull, và cs.,
1997). Tuy mới được đưa vào nước ta đầu những năm 1980, song Keo tai
tượng đang được trồng rất phổ biến ở nhiền nơi. Keo tai tượng có thân cây
thẳng đẹp, sinh trưởng nhanh hơn keo lá tràm. Gỗ keo tai tượng có tỷ trọng
0,45 - 0,50 ở giai đoạn sau 12 tuổi có thể đạt 0,59 (Razali & Mohd, 1992),
thích hợp cho sản xuất gỗ lớn, gỗ dán, ván dăm, làm giấy. Keo tai tượng đang
được trồng ở nhiều nơi để làm nguyên liệu cho công nghiệp.
+ Keo lá liềm (A.crasscicarpa) có nguồn gốc từ Australia, Papua New
Guinea và Indonesia, có phân bố ở vĩ độ 8 - 20o Nam, độ cao 5 - 200 m trên
mặt biển, lượng mưa 1000 -3500 mm/năm, gỗ có tỷ trọng 0,6 - 0,7 thích hợp
cho xây dựng, làm đồ mộc (Doran, Turnbull và cs., 1997). Keo lá liềm là loài
cây mới được đưa vào trồng ở nước ta vào đầu những năm 1980, là loài có
sinh trưởng nhanh nhất trong các loài keo ở vùng thấp, có thể gây trồng trên
đất cát nội đồng có lên líp ở tỉnh Thừa Thiên Huế, đồng thời có thể sinh
trưởng trên các lập địa đất đồi ở nhiều vùng trong cả nước.
+ Keo nâu (A.aulacocarpa) có nguồn gốc từ Australia, Papua New
Guinea và Indonesia (Thomson, 1994). Những xuất xứ được nhập vào Việt
Nam chủ yếu ở các nhóm thuộc vĩ độ 6 - 20o Nam, có lượng mưa 1000 - 3000
mm/năm (Thomson, 1994), trong đó nhóm xuất xứ Papua New Guinea có
kích thước lớn, có thể cao 40m, nhóm ở Australia có thể có dạng cây bụi hoặc

đã thấy các xuất xứ Bloomfield (Qld) và Pongaki (PNG) có sinh trưởng nhanh
nhất trong 4 xuất xứ của keo tai tượng. Các xuất xứ Coen River (Qld) và
King's Plain (Qld) có sinh trưởng nhanh nhất trong 4 xuất xứ của keo lá tràm.
Keo quả xoắn là loài có sinh trưởng kém nhất. Keo lá liềm (xuất xứ ChiliBeach - Qld) chỉ được khảo nghiệm trên đất phân hoá từ đá granit và là loài
có sinh trưởng nhanh nhất ở đây. Những xuất xứ có triển vọng này về cơ bản
vẫn giống với những xuất xứ đã được đánh giá và đề xuất trước đây (Lê Đình
Khả, 1996, Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1997, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Lê Đình Khả,
1997, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Lê Đình Khả, 2000).
b. Tình hình nghiên cứu nhân giống mô và hom đối với cây bạch đàn và
keo lai
* Cây bạch đàn
Từ năm 1993 cùng với việc nhập công nghệ nuôi cấy mô của Trung
Quốc thì Xí nghiệp giống thành phố Hồ Chí Minh (Công ty giống lâm nghiệp)
đã nhập một số dòng vô tính bạch đàn như U6, GU8, W4, W5, W6; Trung
tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh cũng nhập công nghệ nuôi cấy mô và
dòng U6. Từ năm 1995 đến năm 2003, Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù
Ninh đã tiếp tục chọn lọc và đưa vào khảo nghiệm một số dòng bạch đàn Urô
tại vùng Trung tâm miền Bắc có so sánh với một số dòng bạch đàn được nhập
từ Trung Quốc. Sau khi có kết quả khảo nghiệm Bộ NN&PTNT đã có quyết
định công nhận một số dòng vô tính là giống tiến bộ kỹ thuật và cho trồng
trên diện rộng ở những nơi có điều kiện tương tự. Dưới đây là một số kết quả
nghiên cứu khảo nghiệm dòng vô tính cho các dòng đã được nhập hoặc chọn
lọc nói trên.
6


- Chọn dòng vô tính bạch đàn urô (E. urophylla)
Chọn lọc cây trội bạch đàn urô phối hợp với nhân giống sinh dưỡng và
khảo nghiệm dòng vô tính đã được Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh
thực hiện từ năm 1995 đến nay nhằm tạo các dòng vô tính có năng suất cao

miền Bắc.
Các nghiên cứu về cải thiện giống cho loài cây này đã được tiến hành
và bước đầu đã đạt được những kết quả rất triển vọng, như đã chọn lọc được
một số xuất xứ tốt là Lewotobi, Lembata và Egon; một số tổ hợp lai UC (E.
urophylla x E. camaldulensis), UE (E. urophylla x E. exserta) có thể tích thân
cây vượt từ 24 đến 140% so với xuất xứ tốt nhất (Lê Đình Khả và cs., 2003).
Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ chú trọng về cải thiện khả năng sinh
trưởng và chất lượng thân cây mà chưa chú trọng nhiều đến cải thiện các tính
chất gỗ như tỷ trọng gỗ, hàm lượng xenlulose. Các nghiên cứu về ảnh hưởng
của khả năng sinh trưởng và tính chất gỗ của bạch đàn đến hiệu quả của quá
trình sản xuất cho thấy các tính trạng có ảnh hưởng lớn nhất đến nâng cao
7


hiệu quả trồng rừng, cũng như giảm giá thành của quá trình sản xuất bột giấy
là sinh khối, tỷ trọng gỗ và hiệu suất bột giấy (Borallho và cs., 1993; Greaves
và cs., 1997).
- Chọn dòng vô tính và khảo nghiệm bạch đàn Caman (E.
camaldulensis)
Chọn lọc và khảo nghiệm dòng vô tính bạch đàn Caman sinh trưởng
nhanh được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện Khoa học lâm
nghiệp Viêt Nam thực hiện từ năm 1993 cho 38 cây trội của bạch đàn Caman,
nhân giống bằng hom và khảo nghiệm dòng vô tính tại Cẩm Quỳ (Hà Tây).
Kết quả đánh giá khảo nghiệm ở giai đoạn 7 tuổi cho thấy trong 38 dòng được
đưa vào khảo nghiệm chỉ dòng 22 và dòng 7 có thể tích thân cây đặc biệt cao
(103 dm3 và 80 dm3/cây), tiếp đó là các dòng số 24 và 26 có thể tích thân cây
75,9 và 70 dm3/cây, trong lúc giống đối chứng là bạch đàn urô có thể tích thân
cây 52,2 dm3/cây, còn đối chứng là bạch đàn thể tích thân cây 29 dm3/cây,
một nửa số dòng cây trội được chọn có thể tích thân cây chỉ đạt 14,4-28,5
dm3/cây (Lê Đình Khả và cs., 2003). Điều đó cho thấy để có dòng vô tính



Nghiên cứu tiềm năng bột giấy đã được thực hiện cho một số tổ hợp lai
đại diện như E1C4, U29C4, U29E1, E1U29 và các bố mẹ của chúng là U29,
E1, xuất xứ Kenendy River của bạch đàn trắng Caman, xuất xứ Egon Flores
của bạch đàn urô v.v.. Các số liệu thu được cho thấy ở giai đoạn 3 tuổi cây lai
có tỷ trọng gỗ và hàm lượng cellulose tương đương hoặc cao hơn các loài bố
mẹ, trong lúc hiệu suất bột giấy và các tính chất cơ học của giấy như độ chịu
kéo, độ chịu gấp, chỉ số xé và độ trắng của giấy lại tương tương với các loài
cây bố mẹ. Chứng tỏ cây lai không những sinh trưởng nhanh mà tiềm năng
bột giấy cũng không kém các loài cây bố mẹ (Lê Đình Khả, Hoàng Quốc
Lâm, Nguyễn Việt Cường, 2002). Từ khảo nghiệm giống lai đã chọn được
hơn 30 cây lai tốt nhất thuộc 8 tổ hợp lai khác nhau được Bộ NN và PTNT
công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật. Sau khi nhân giống sinh dưỡng và khảo
nghiệm dòng vô tính tại một số vùng sinh thái đã thấy một số dòng vô tính rất
có triển vọng. Những giống này không những tiếp tục sinh trưởng nhanh hơn
các loài bố mẹ mà còn nhanh hơn các dòng E. urophylla được chọn lọc PN2
và PN14 cũng như các dòng U6 và GU8 được nhập vào Việt Nam trong
những năm gần đây. Những dòng có sinh trưởng nhanh nhất là những dòng
thuộc các tổ hợp U29E1, U29E2, U15E4, C2U17 và U29C3 được khảo
nghiệm tại Tam Thanh. Khảo nghiệm giống lai tại một số nơi khác cũng thu
được kết quả tương tự (Nguyễn Việt Cường, 2003). Điều đó chứng tỏ lai nhân
tạo có ý nghĩa to lớn trong cải thiện giống bạch đàn.
Bạch đàn dòng U6 được ưa chuộng bởi tính vượt trội của nó, như sinh
trưởng nhanh, dáng thon, tỉa cành tự nhiên tốt, độ che phủ của tán lá cao và
chất lượng sợi gỗ đạt hiệu quả cao cho sản xuất giấy. Độ tăng chiều cao có thể
đạt tới 3,9m - 4,1m/năm. Theo dự kiến dòng bạch đàn U6, sau 7- 8 năm sản
lượng cây đứng có thể đạt từ 120-150m3/ha, nếu được trồng ở tầng đất sâu,
ẩm, được chăm sóc tốt có thể rút ngắn chu kỳ, nó lại phù hợp với nhiều lập
địa khác nhau. Ngoài ra, trồng bạch đàn dòng U6 còn có tác dụng cải tạo môi

acid), NAA (naphthyl acetic acid), 2,4-D (2,4-dichlorophenoxyacetic
acid),v.v.
Trước năm 1995 các chất này được dùng chủ yếu ở dạng dung dịch có
nồng độ thấp, khoảng 50-300 ppm xử lý trong thời gian 3 giờ. Từ năm 1996
đến nay thuốc bột (0,25- 1,0%) là dạng thuốc được dùng chủ yếu khi nhân
giống hom ở quy mô sản xuất; ngoài ra, dạng dung dịch nồng độ cao 1000 3000 ppm cũng được dùng để xử lý hom giâm trong thời gian 1- 3 giây.
Nghiên cứu của nhiều tác giả đã thấy rằng thuốc giâm hom có hiệu quả nhất
và được dung phổ biến nhất là IBA dạng bột ở nồng độ 0,75 - 1,0%, tiếp đó là
dạng thuốc nước nồng độ cao (1000 - 3000 ppm). Đây là những dạng thuốc
rất tiện dụng trên quy mô lớn ở điều kiện sản xuất. IBA đang được dùng làm
thuốc gốc để sản xuất các chế phẩm dạng thuốc bột kích thích ra rễ trên thị
trường thế giới (Lê Đình Khả, Đoàn Thị Mai, 2002). Giá thể giâm hom
thường dùng là cát sông, hoặc hỗn hợp cát sông + than trấu, hoặc cát sông +
xơ dừa. Độ ẩm giá thể thích hợp thay đổi theo từng loài cây, song thích hợp
nhất thường là 50-70%. Mùa giâm hom có tỷ lệ ra rễ cao nhất cho các loài cây
lá rộng thường là mùa mưa và thường là tháng 5 đến tháng 10. Đây cũng là
những tháng cây có khả năng ra chồi nhiều nhất, cắt được nhiều hom nhất.
- Nhân giống bạch đàn bằng kĩ thuật nuôi cấy mô
Nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu và khảo nghiệm xuất xứ
cũng như khả năng chọn cây trội bạch đàn từ giai đoạn còn nhỏ, thử nghiệm
giâm hom bạch đàn bằng một số loại thuốc và nồng độ thuốc khác nhau.
+ Trung tâm nghiên cứu nguyên liệu giấy Phù Ninh đã nghiên cứu xuất
xứ bạch đàn E.urophylla trong vùng nguyên liệu giấy sợi Bắc Bộ.
+ Viện Khoa học Lâm nghiệp đã có nhiều công trình nghiên cứu về thử
nghiệm thuốc giâm hom cho các loài bạch đàn khác nhau.
+ Trường Đại học Lâm nghiệp trong những năm vừa qua đã có một số
đề tài và công trình nghiên cứu về thử nghiệm giâm hom loài bạch đàn và
bước đầu đã có một số kết quả nhất định.
+ Nguyễn Ngọc Tân và Trần Hồ Quang thuộc Viện Khoa học Lâm
nghiệp Việt Nam nghiên cứu nhân giống cây lai giữa bạch đàn liễu và bạch

giống cây trồng chính để làm nguyên liệu cho công nghiệp. Năm 1995 diện
tích trồng keo lai mới 160 ha thì đến hết năm 2004 diện tích trồng keo lai
trong cả nước đã hơn 130.000 ha, riêng năm 2003 đã trồng 46.000 ha. Đến
nay diện tích trồng keo lai đạt gần 450.000 ha. Keo lai của ta cũng đang được
một số nước quan tâm gây trồng.
- Nhân giống keo lai bằng giâm hom
Keo lai là giống lai đời F1 nên khi dùng hạt lấy từ cây keo lai để trồng
rừng thì rừng trồng mới (tức đời F2) sẽ bị thoái hoá và phân ly không những
về hình thái mà cả sinh trưởng, làm cho năng suất rừng keo lai giảm xuống
thấp hơn cả rừng trồng keo tai tượng (Lê Đình Khả, và cs., 1998). Vì thế ngay
từ năm 1997, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có khuyến nghị
không dùng hạt keo lai để gây trồng rừng mới mà nên dùng phương pháp
nhân giống sinh dưỡng bằng giâm hom hoặc cây nuôi cấy mô để tạo cây con
keo lai cho trồng rừng. Ngay khi keo lai được chọn tạo Trung tâm nghiên cứu
giống cây rừng đã nghiên cứu nuôi cấy mô và giâm hom thành công cho keo
lai (Nguyễn Ngọc Tân, và cs., 1995; Đoàn Thị Mai, và cs., 1999; Lê Đình
Khả và cs., 1999) và đã tổ chức nhiều lớp tập huấn về kỹ thuật nhân giống
hom cho hơn 40 tỉnh ở Việt Nam. Hiện nay kỹ thuật nhân giống hom keo lai
đã được nhiều cơ sở trong nước áp dụng thành công. Nhiều lâm trường và
hợp tác xã đã có thể nhân giống keo lai bằng hom để trồng rừng.

11


- Nhân giống keo lai bằng nuôi cấy mô
Cùng với việc gây trồng keo lai là sự phát triển của kỹ thuật nhân giống
bằng nuôi cấy mô và giâm hom, đặc biệt kỹ thuật nhân giống hom đã mở rộng
đến tận các lâm trường và hợp tác xã. Nuôi cấy mô keo lai ở nước ta người
đầu tiên tiến hành nuôi cấy mô là Nguyễn Ngọc Tân và cs.,1995. Sau đó Đoàn
Thị Mai và cs., 1998, 2004) đã hoàn thiện thêm một số khâu và đã chuyển

đạt 9 m3/ha/năm (Nguyễn Ngọc Dao, 2003). Tại các tỉnh vùng Đông Nam Bộ
và được trồng thâm canh keo lai có thể cho năng suất 35 - 40 m3/ha/năm trên
diện rộng (Lê Đình Khả, và cs., 1999, Nguyễn Ngọc Dao, 2003), vì thế keo
lai đang được phát triển mạnh ở các tỉnh miền Trung và miền Nam nước ta.
Ngoài ra, một số thí nghiệm cũng cho thấy các biện pháp thâm canh cũng có
vai trò rất trọng trong tăng năng suất giống (Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh,
1998).
Những dòng keo lai có sinh trưởng nhất cũng là những dòng có thân
cây thẳng, đơn trục và cành nhánh nhỏ, chỉ số chất lượng thân cây cao nhất.
12


Những dòng keo lai sinh trưởng kém cũng là những dòng có chất lượng thân
cây kém nhất. Từ kết quả khảo nghiệm dòng vô tính đã chọn được 5 dòng keo
lai BV10, BV16 BV29, BV32 và BV33 có năng suất và chất lượng thân cây
cao nhất được Bộ NN&PTNT cho khảo nghiệm trên diện rộng ở một số vùng
sinh thái chính trong nước từ năm 1996. Đây cũng là những dòng có khả năng
chịu hạn khá hơn hoặc tương đương các loài keo bố mẹ, có hàm lượng
cellulose cao, có hiệu suất bột giấy và độ bền cơ học của giấy cao hơn các loài
keo bố mẹ, cũng như cao hơn bạch đàn Caman được trồng làm đối chứng.
Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã phối hợp với CSIRO xác đinh các
alen trên các locus của các phân tử ADN bằng phương pháp "in dấu vân tay
ADN" (DNA fingerprinting) theo 2 microsatelite A030 và A435 và đã thấy
rằng các dòng vô tính này có các alen thật sự khác nhau (Butcher, 2001). Từ
kết quả khảo nghiệm giống trong những năm qua, một số dòng keo lai đã
được Bộ NN&PTNT công nhận giống là:
- Giống quốc gia gồm các dòng keo lai BV10, BV16 và BV32 (theo
Quyết định số 132/ KHCNNNNT ngày 17 tháng 1 năm 2000).
- Giống tiến bộ kỹ thuật gồm các dòng keo lai TB03, TB05, TB06,
TB12 (theo Quyết định số 3118/ KHCN-NNNT ngày 9 tháng 8 năm 2000),

400 triệu USD trong đó hoa lan chiếm hơn 150 triệu USD tập trung chủ yếu
vào các loại hoa lan Hồ Điệp, lan Vũ Nữ và lan Kiếm Cymbidium. Thái Lan
là nước trồng và xuất khẩu hoa lan lớn nhất thế giới với 610 loài và 1.000
giống trên diện tích 2.300 ha đạt tới 25.900 tấn và doanh thu đạt 500 triệu
USD (ITC 2008).
Hiện nay, Thái Lan là nước xuất khẩu hoa lan đứng đầu thế giới, có
180 phòng nuôi cấy invitro hiện đại và hoa lan thương mại ở Băng Cốc và các
vùng phụ cận (Đồng Văn Khiêm, 1995). Nhờ khả năng thực hiên công nghệ
nuôi cây mô và lai tạo, năm 1993 Thái Lan cung cấp 80% cho thị trường Anh,
75% cho Hà Lan về hoa cắt cành, 5 triệu cành cho Nhật (Ngô Quang Vũ Hoa cảnh T10, 2002). Ở Đài Loan do có điều kiện khí hậu thuận lợi nên có
thể sản xuất hoa tươi quanh năm. Đài Loan chú trọng nhiều vào sản xuất hoa
lan Hồ Điệp, hiện nay nước này đã tạo ra một số giống lan Hồ Điệp qúy với
nhiều màu sắc và hình dạng khác nhau.
1.2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam chúng ta diện tích trồng hoa cây cảnh cả nước là 15.000 ha
bao gồm nhiều loại hoa chủ yếu là cúc, hồng, đồng tiền, cẩm chướng, lay ơn
còn hoa lan thì rất ít khoảng 150-180 ha tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng, thành
phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, SaPa… Doanh thu trồng hoa đạt từ 230 – 450 triệu
đồng/ha. Có những mô hình trồng hoa lan kết hợp nuôi cá cảnh, hay trồng hoa
Lily đạt 1-2 tỷ đồng/ha. Cả nước xuất khẩu chỉ được 25 triệu USD bằng 1/10
so với Singapo, 1/16 so với Đài Loan và bằng 1/20 so với Thái Lan. Trồng
hoa lan hiệu quả hơn 70-80 lần so với trồng lúa, nhưng đầu tư ban đầu lớn,
trong đó chi phí nhập khẩu giống tới 70% vì giống ở trong nước còn thiếu,
chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng mặc dù đã có hàng chục cơ
sở nuôi cấy mô nhưng qui mô nhỏ, công nghệ lạc hậu (Phạm S., 2009).
Đối với hoa lan, sản xuất của nước ta còn mới mẻ, chưa đáp ứng được
nhu cầu tiêu thụ trong nước và ngoài nước cả về số lượng và chất lượng,
chủng loại hoa. Hiện nay các phòng nuôi cấy mô nhân giống hoa lan bằng
phương pháp gieo hạt trong phòng thí nghiệm hoặc nuôi cấy đỉnh sinh trưởng,
sau đó cấy chuyển và tạo cây hoàn chỉnh. Từ năm 2004, Viện Khoa học kĩ

Nghiên cứu về các giá thể: Theo Việt Chương, Nguyễn Việt Thái
(2002), Trần Duy Quý và cs., 2005 có thể sử dụng than hoa, dớn, xơ dừa, rễ
lục bình, vỏ thông để trồng lan Hồ Điệp, còn đối với các loại địa lan Kiếm là
các loại dớn, xơ dừa, xỉ than, bọt núi lửa .. đây là các vật liệu dễ kiếm ở Việt
Nam. Có thể dùng một lọai giá thể phối trộn các loại giá thể trên với nhau tùy
thuộc vào điều kiện từng vùng và từng độ tuổi của lan.
Nghiên cứu về về phân bón đã được tác giả Nguyễn Xuân Linh (1998)
khuyến cáo nên tưới phân cho lan lúc sáng hay chiều mát, không nên tưới
vào buổi trưa. Bình thường tưới 1lần trên 1 tuần. Nguyễn Công Nghiệp
(2000) đã kết luận, mùa tăng trưởng của hoa lan nên dùng phân tổng hợp N:
P: K loại 30:10:10 con khi cây chuyển sang giai đoạn hình thành, phân hóa
chồi hoa và khi chớm nở hoa thì phải dùng phân có nồng độ lân cao để màu
sắc hoa thắm và đậm hơn như phân N:P:K loại 6: 30: 30.
1.2. 3. Cây cam Xã Đoài (Citrus sinentis), bưởi Diễn (Citrus grandis)
1.2.3.1.Nguồn gốc của cây cam Xã Đoài và bưởi Diễn
Cam là loài cây ăn quả cùng họ với bưởi. Nó có quả nhỏ hơn quả bưởi,
vỏ mỏng, khi chín thường có màu da cam, có vị ngọt hoặc hơi chua. Loài cam
là một cây lai được trồng từ xưa, có thể lai giống giữa loài bưởi và quýt. Nó là
cây nhỏ, cao đến khoảng 10 m, có cành gai và lá thường xanh dài khoảng 410 cm. Cam bắt nguồn từ Đông Nam Á, có thể từ Ấn Độ, Việt Nam hay miền
nam Trung Quốc. Vương quốc của cam Xã Đoài chính là bốn xã Sông Con,
Vân Du, Xã Đoài 1, Xã Đoài 2 của tỉnh Nghệ An một trong những vùng đặc
chủng của cây ăn trái có múi nổi tiếng với có gần 8.000 ha trồng cam. Ðây là
loại cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế khá cao, nên được nhà vườn trồng
nhiều trong những năm gần đây.
Cam Xã Đoài không phải là giống cam bản địa của Việt Nam mà nó
được người Pháp nhập nội đưa vào trồng từ những năm 40 của thế kỉ trước và
trồng đầu tiên ở Thôn Xã Đoài, xã Nghi Diên, Nghi Lộc tỉnh Nghệ An nên
được gọi là cam Xã Đoài. Giống này có cây cao trung bình từ 3,5-4m, tán lá
rộng 4-4,5 cm, phân cành tương đối thấp, ít gai và gai ngắn. Lá to, chiều dài
lá 8-9 cm, rộng 5-6 cm và có cánh lá rộng, khung cành thưa hơn các giống

là hai giống khác nhau về mặt di truyền. Điều này đã loại bỏ giả thuyết mà
dân gian lâu nay vẫn cho rằng bưởi Diễn có nguồn gốc từ bưởi Đoan Hùng
mà thực ra bưởi Diễn được người dân chọn lọc và biến thành loại quả đặc sản
nổi tiếng của vùng Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội. Điều này đã được khẳng định
là bưởi Diễn khi đem trồng ở những nơi khác thì không còn ngon bằng trồng
tại chính Phú Diễn. Sau ngày Cách mạng thành công, sinh thời Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã về thăm Phú Diễn, Bác trồng cây đa lưu niệm, căn dặn cán bộ
nhân dân đẩy mạnh sản xuất, quan tâm tới trồng cây ăn quả. Từ đó phong trào
trồng cây ăn quả tại vườn nhà và vườn quả của người cao tuổi Phú Diễn ra
đời. Sau khi có chủ trương đổi mới kinh tế, Đảng Ủy Phú Diễn đã mạnh dạn
đưa vào nghị quyết việc "chuyển đổi đất trồng lúa sang trồng cây ăn quả, tập
trung trồng bưởi - một giống cây đặc sản của địa phương." Thế là cây bưởi đã
từ vườn nhà trở thành hàng hóa chính.
Bưởi Diễn có mùi thơm đặc biệt, đến vườn bưởi, chưa thấy bưởi đã
thấy thơm ngan ngát. Khi cây có tuổi từ 7 tuổi, năng suất >100 kg/cây; khối
lượng quả trung bình từ 800-1000g; độ đồng đều và hình dạng, kích thước
quả >70%; tỉ lệ phần ăn được >60%; số lượng hạt trên quả
năm/người ở một số nước như Trung Quốc là ít hơn 1kg/người/năm trong khi
đó ở Nhật Bản là 18kg/người/năm, ở Mỹ là 6kg/người/năm so với mức bình
chuẩn của thế giới là 7kg/người/năm (FAO, 2010).
Trên thế giới hiện nay tập chung rất mạnh vào cải tạo các giống cam,
quýt, bưởi không hạt nhờ kết hợp kĩ thuật lai xa, cứu phôi, tạo dòng tứ bội để
lai với lưỡng bội để tạo ra các dòng tam bội không hạt hay xử lý đột biến
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status