MỞ ĐẦU
Nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì thế phát triển
trang trại là bước đi tất yếu. Kinh tế trang trại góp phần khai thác có hiệu quả các
nguồn lực, tạo ra khối lượng nông sản hàng hóa ngày càng nhiều, thu hút nhiều lao
động, tạo ra khả năng to lớn trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật…
Theo kết quả tổng hợp sơ bộ của Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông
nghiệp và thuỷ sản Trung ương, năm 2011, cả nước có 20.065 trang trại (tính theo tiêu
chí mới). Trong đó, riêng đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ có 11.697 trang
trại, chiếm 58,3% tổng số trang trại trong cả nước.
Tại Đồng Tháp, việc phát triển kinh tế đang được đẩy mạnh với nhiều loại hình
trang trại: trang trại chăn nuôi, trang trại nuôi trồng thủy sản, trang trại trồng trọt…
Riêng ở huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp thì sản xuất lúa giống theo quy mô trang
trại đã xuất hiện ở nhiều địa phương. Mô hình đã đem lại nhiều lợi nhuận và hiệu quả
kinh tế cao. Đồng thời mô hình này góp phần đảm bảo đủ lúa giống cho việc canh tác.
Bên cạnh những mặt thuật lợi khi sản xuất lúa giống theo quy mô trang trại như:
điều kiện tự nhiên thuận lợi (đất đai, khí hậu, sông ngòi chính sách ưu đãi của nhà
nước… thì mô hình còn gặp phải nhiều khó khăn. Trình độ quản lý của chủ trang trại
chưa cao, kinh tế trang trại mang tính tự phát, thị trường giá cả chưa ổn định, thiếu vốn
đầu tư, sự hợp tác lỏng lẻo giữa các khâu sản xuất – chế biến – tiêu thụ, chất lượng sản
phẩm chưa đồng đều, chưa chú ý đến an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn lao động…
Trước thực trạng đó, nhóm chúng tôi tiến hành “Điều tra, đánh giá các mặt
sản xuất, kinh doanh và quản lý rủi ro trong sản xuất, kinh doanh của trang trại
sản xuất lúa giống Ngô Khuê tại huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp” nhằm hiểu
rõ hơn về sản xuất lúa giống theo quy mô trang trại và cách quản lý một trang trại,
đồng thời đánh giá được các mặt rủi ro và đề ra hướng khắc phục để tăng năng suất,
chất lượng sản phẩm, và hiệu quả kinh doanh.
1
Chương 1
sét ảnh hưởng ngày càng ngiêm trọng, thường xuyên hơn. Mùa mưa có xu hướng thất
thường.
Thường xảy ra các đợt hạn hán cục bộ. Nhiệt độ có xu hướng tăng, nhiều đợt
nắng nóng kéo dài, nhiệt độ giữa trưa rất cao, có hiện tượng khô hạn thiếu nước cho
sản xuất.
1.1.4 Thủy văn
Chế độ thủy văn theo 2 mùa: mùa lũ và mùa khô với 2 đỉnh thủy triều trong ngày.
Mùa lũ thường từ tháng 7-11 và mùa kiệt từ tháng 12-6 năm sau.
Có hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt. Sông chính là sông Tiền chạy qua
tỉnh với chiều dài 132 km. Dọc theo 2 bên bờ sông Tiền là hệ thống sông ngang dọc.
Nước ngọt quanh năm, không bị nhiễm mặn. Sông Tiền là nguồn cung cấp chủ
yếu với lưu lượng bình quân 11.500 m3/giây, lưu lượng lớn nhất vào mùa lũ đạt 41.504
m3/ giây, lưu lượng nhỏ nhất vào mùa cạn 2.000 m3/giây.
1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội của huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
Với tinh thần tích cực, khẩn trương và quyết tâm cao của các ngành, các cấp nên
tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn Huyện tiếp tục tăng trưởng tích cực. Kinh tế tiếp
tục duy trì nhịp độ tăng trưởng cao, ước đạt 14,75% vượt kế hoạch đề ra; cơ cấu kinh tế
chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng, lợi thế của từng khu vực, từng ngành; sản
xuất nông nghiệp đạt kết quả nổi bật, sản lượng lúa đạt 275.878 tấn; sản lượng nuôi
trồng thủy sản đạt 104.414 tấn (số liệu năm 2011).
Hoạt động giáo dục - đào tạo phát triển; công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân,
xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, thực hiện các chính sách an sinh xã hội được
quan tâm thực hiện tốt; các phong trào: xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân
cư, văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao... tiếp tục được đẩy mạnh. Quốc phòng, an
ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội ổn định
Huyện đã đẩy mạnh việc cơ giới hóa trong sản xuất, tiếp tục triển khai đề án máy
gặt đâp liên hợp và xây dựng đề án phát triển trạm bơm điện,… phấn đấu đến năm
2015 toàn huyện có trên 150 máy gặt đập liên hợp, diện tích thu hoạch bằng máy gặt
3
1.4.2 Lịch sử hình thành và tình hình phát triển trang trại trên thế giới và ở Việt
Nam
1.4.2.1 Lịch sử hình thành và tình hình phát triển trang trại trên thế giới
Kinh tế trang trại có lịch sử phát triển lâu đời, các chuyên gia về sử học và kinh tế
học thế giới đã chứng minh từ thời đế quốc La Mã, các trang trại đã hình thành trong
đó lực lượng sản xuất chủ yếu là các nô lệ. Ở Trung Quốc trang trại có từ đời nhà
Đường. Trang trại trên thế giới bắt đầu phát triển mạnh khi chế độ tư bản chủ nghĩa ra
đời. Năm 1802 ở Pháp có 5.672.000 trang trại, năm 1882 ở Tây Đức có 5.278.000, năm
1990 ở Mỹ có 5.737.000, năm 1963 Thái Lan có 3.214.000 và Ấn Độ có hơn 44 triệu
trang trại.
Quá trình phát triển công nghiệp, số lượng các trang trại giảm, nhưng quy
mô về diện tích và quy mô về doanh thu tăng lên. Hiện nay ở Mỹ có 2,2 triệu trang trại,
ở Pháp có 0,98 triệu trang trại và ở Hà Lan là 1.500 trang trại. Như vậy, trang trại là
một mô hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nông nghiệp, xu thế tất yếu của sản xuất
nông nghiệp hàng hoá.
1.4.2.2 Lịch sử hình thành và tình hình phát triển trang trại ở Việt Nam
Trang trại nước ta được hình thành từ thời nhà Trần với hình thức điền trang. Đến
thời Hậu Lê, nhà nước chủ trương mở rộng khẩn hoang lập đồn điền. Đồn điền cũng
đồng nghĩa với trang trại. Đến đời nhà Nguyễn, nhà nước ban hành 25 quyết định về
khẩn hoang với hình thức chủ yếu là chiêu mộ dân phiêu tán để khai hoang lập ấp trại
hoặc xã. Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, nhằm mục đích khai thác thuộc địa, làm
giàu cho chính quốc. Năm 1888, toàn quyền Đông Dương ra nghị định cho bọn địa chủ
thực dân được quyền lập các đồn điền – trang trại.Từ Cách mạng Tháng Tám năm
1945 đến năm 1975. Ở miền Nam, vẫn duy trì và phát triển hình thức đồn điền tư bản
thực dân ở những vùng địch chiếm đóng. Ở miền Bắc, nhà nước tịch thu các đồn điền
của thực dân Pháp và địa chủ phản động chia cho nông dân, một số chuyển thành cơ sở
sản xuất nông nghiệp của Nhà nước. Từ năm 1975 đến năm 1986: miền Nam được giải
5
nông nghiệp, đảm bảo thực hiện chiến lược phát triển nền nông nghiệp hàng hóa thích
ứng với sự hoạt động của các quy luật kinh tế thị trường, nó đa và đang “đánh thức
dậy” nhiều vùng đất hoang hóa, đồi trọc, sử dụng một phần sức lao động dư thừa tại
chỗ để sản xuất ra nông sản hàng hóa. Nó có vai trò quan trọng trong việc khôi phục,
bảo vệ, phát triển môi trường, xây dựng và phát triển nông thôn mới.
1.4.3.2 Lợi ích của trang trại
Theo Trần Kiên và Phúc Kỳ (2000) thì việc hình thành các trang trại đã mang lại
nhiều lợi ích. Đẩy mạnh tích tụ ruộng đất, sử dụng có hiệu quả đất đai, tích tụ vốn,
nâng cao trình độ thâm canh, tạo điều kiện ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, sử
dụng công nhân có hiệu quả, thu hút vốn nhàn rỗi trong các hộ gia đình để mở rộng sản
xuất, làm giàu cho mỗi gia đình và đất nước, tạo điiều kiện cho các nhà đầu tư nước
ngoài đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, góp phần tạo ra sức mạnh bền vững cho nền
kinh tế.
Đồng thời, việc hình thành trang trại gắn liền với quá trình phân công lại lao động
ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm các ngành phi
nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa trong nông nghiệp và nông thôn.
1.4.4 Đặc trưng chủ yếu của trang trại và kinh tế trang trại
1.4.4.1 Đặc trưng chủ yếu của trang trại
Theo tổng cục thuế, mỗi trang trại đều hội tụ 4 đặc trung cơ bản sau: Có quy mô
sản xuất tương đối lớn so với mức trung bình của kinh tế hộ tại địa phương, tương ứng
với từng ngành sản xuất cụ thể như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy
sản; có dử dụng lao động thường xuyên; chủ trang trại phải là người có kiến thức, kinh
nghiệm về nông, lâm, ngư nghiệp và trực tiếp điều hành sản xuất tại trang trại; lấy sản
xuất hàng hóa làm hướng chính và có thu nhập vượt trội so với mức trung bình của
kinh tế hộ tại địa phương.
7
trại.
1.4.5.2 Lập kế hoạch hành động
Từ những phân tích về phương hướng, mục tiêu kinh doanh mà người quản lý
trang trại cần lập ra những kế hoạch hành động chi tiết để phát triển trang trại. Kế
hoạch hành động có thể là kế hoạch dài hạn (phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế của cây
trồng và vật nuôi), kế hoạch trung hạn (khoảng 5 năm), kế hoạch hằng năm (cụ thể hóa
kế hoạch trung hạn).
1.4.6 Bốn điều cần ưu tiên trong quản lý kinh doanh
1.4.6.1 Thị trường
Phải nắm được nội dung và đặc trưng của từng loại thị trường và các quy luật vận
động sản xuất hàng hóa. Nắm chắc thông tin thị trường như: tình hình cung cầu về số
lượng, chất lượng hình thức mẫu mã, chủng loại sản phẩm.
Dự đoán xu hướng phát triển và thay đổi của thị trường trên cơ sở xây dựng chiến
lược kinh doanh để mang lại hiệu quả nhất cho trang trại.
1.4.6.2 Sản phẩm
Sau khi nắm được nhu cầu, thị hiếu của khách hàng, trang trại quyết định chiến
lược sản phẩm trên cơ sở xác định chuyên môn hóa, tập trung hóa sản xuất sản phẩm
hàng hóa ở một quy mô hợp lý, đồng thời xác định các ngành phối hợp phù hợp với tài
nguyên, với những yếu tố kinh doanh của trang trại, đảm bảo doanh thu được lợi nhận
cao.
1.4.6.3 Vốn
Vốn là một trong những điều kiện quan trọng nhất để tiến hành sản xuất kinh
doanh trang trại. Vì vậy việc đảm bảo nguồn vốn kinh doanh sẽ là yếu tố quyết định
việc thành bại của một trang trại và nó cũng là yếu ảnh hưởng đến việc thúc đẩy và
9
phát triển trang trại trong tương lai. Vốn có thể được hình thành từ hai nguồn: Vốn tự
có và vốn vay.
dài với trang trại.
1.4.8 Quản lý rủi ro
Quản lý rủi ro là áp dụng một cách có hệ thống của chính sách quản lý, thủ tục,
thực hiện việc xác định, phân tích, đánh giá, xử lý và kiểm soát các rủi ro. Những rủi ro
trong sản xuất trang trại quy mô nông nghiệp: Rủi ro trong sản xuất, rủi ro về thị
trường, rủi ro về tài chính, rủi ro về pháp luật, rủi ro về nhân lực.
1.4.8.1 Rủi ro trong sản xuất
Bất lợi do thời tiết, thiên tai, dịch bệnh, côn trùng, di truyền, yếu tố chất lượng
đầu vào,… ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt, thiên tai ngày một nhiều có nguy cơ
làm giảm chất lượng nông sản. Cây giống chất lượng không đảm bảo làm giảm chất
lượng sản phẩm đầu ra.
1.4.8.2 Rủi ro về thị trường
Trong sản xuất nông nghiệp thời tiết là yếu tố cực kỳ quan trọng tác động trực
tiếp đến toàn bộ quá trình. Việc thay đổi cung cầu của thị trường và thị hiếu của người
tiêu dùng sẽ dẫn đến giá cả và đầu ra của sản phẩm gặp nhiều khó khăn, đồng thời việc
cạnh tranh với nước ngoài cũng hết sức gay gắt do người tiêu dùng sẽ có sự lựa chọn
về giá cả cũng như chất lượng và hình thưcs sản phẩm.
1.4.8.3 Rủi ro về tài chính
Tiền là yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại trong sản xuất kinh
doanh. Nhưng hầu hết các chủ trang trại đều thiếu tiền mặt, như vậy không thể duy trì
hoạt động của trang trại một cách tốt nhất được. hiện nay có rất nhiều trang trại có nhu
cầu vay vốn nhưng thức tế mới chỉ có rất ít trong số đó được vay vốn từ ngân hàng.
1.4.8.4 Rủi ro về pháp lý
Có sự không thích hợp về mặt quản lý trong cấu trúc doanh nghiệp. Chủ trang
11
trại không nắm vững kế hoạch thuế và chuyển giao tài sản, về hợp đồng, luật lao
động….
có lãi, có quyền tự chủ hoàn toàn về tài chính và nghiệp vụ kinh doanh, thực hiện giám
đốc bằng tiền đối với các hoạt động kinh doanh của trang trại, thực hiện khuyến lợi ích
vật chất và trách nhiệm vật chất.
1.5 Cây lúa và trang trại lúa giống
1.5.1 Sơ lược về cây lúa
Cây lúa (Oryza sativa) thuộc họ hòa bản (Gramineae), tộc Oryzae, loài Sativa,
glaberrima. Lúa là một trong các cây lương thực quan trọng nhất trên thế giới và vùng
nhiệt đới, vì nó cung cấp lương thực cho khoảng 1/2 dân số trên trái đất (Nguyễn
Thành Hối, 2011).
Tùy theo giống và môi trường trồng, cây lúa thường cần 3-6 tháng từ nảy mầm
đến trưởng thành. Và sự sinh trưởng của cây lúa chia làm ba giai đoạn chính: giai đoạn
tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạn sinh sản (sinh dục), giai đoạn chín
(Yoshida,1981).
1.4.2 Yêu cầu điều kiện sinh thái của cây lúa
1.4.2.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ có tác dụng quyết định đến tốc độ sinh trưởng của cây lúa nhanh hay
chậm. Trong phạm vi giới hạn (20-30oC), nhiệt độ càng tăng cây lúa càng phát triển
mạnh. Nhiệt độ trên 40oC hoặc dưới 17oC thì cây lúa phát triển chậm lại (Nguyễn Ngọc
Đệ, 2008).
1.4.2.2 Ánh sáng
Ánh sáng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và phát dục của cây lúa
trên hai phương diện: cường độ ánh sáng và độ dài chiếu sáng trong ngày (quang kỳ).
Cường độ chiếu sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sự quang hợp, cây lúa chỉ sử dụng 65%
13
năng lượng ánh sáng mặt trời chiếu tới ruộng lúa. Trong điều kiện bình thường lúc bức
xạ trung bình 250-300 cal/cm/ngày thì cây lúa sinh trưởng tốt (Nguyễn Ngọc Đệ,
2008).
thống sản xuất giống nông hộ của các tổ sản xuất, câu lạc bộ, hợp tác xã đã tập trung
sản xuất lúa siêu nguyên chủng, nguyên chủng và giống xác nhận. Toàn tỉnh có 6 đơn
vị sản xuất lúa giống đạt tiêu chuẩn “Địa chỉ xanh” và 1 đơn vị sản xuất giống lúa được
công nhận danh hiệu “Bạn nhà nông Việt Nam” và giải thưởng “Bông lúa vàng Việt
Nam”. Hàng năm các hệ thống sản xuất và cung ứng trong tỉnh đáp ứng cho nông dân
hơn 35% (19.800/55.000 tấn) giống lúa các loại.
Việc xã hội hóa sản xuất và cung ứng giống lúa tại Đồng Tháp chia thành 3 hệ
thống: Trung tâm giống Nông nghiệp và các trại giống huyện, Doanh nghiệp và các cơ
sở tư nhân nhân giống lúa và hệ thống Hợp tác xã (HTX), câu lạc bộ (CLB) và nông hộ
sản xuất giống.
Đối với hệ thống các doanh nghiệp và các cơ sở tư nhân, toàn tỉnh có 5 đơn vị
tham gia sản xuất, cung ứng khoảng 800 tấn giống nguyên chủng và xác nhận các loại
cho bà con. Ngoài ra, tỉnh còn có 23 HTX, 16 CLB và 1.881 nông hộ tham gia sản xuất
giống với diện tích 2.000ha, sản lượng giống đạt trên 15.000 tấn/năm..
1.5.6 Những khó khăn về sản xuất lúa giống
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động sản xuất lúa giống hiện còn gặp
nhiều khó khăn do yêu cầu thực hiện quy trình sản xuất khá nghiêm ngặt từ chăm sóc
đến thu hoạch, phải thường xuyên khử lẫn và đảm bảo độ khô của hạt lúa để lưu trữ lâu
dài. Trong khi đó, nông dân thường sử dụng lúa thịt để làm giống gây ảnh hưởng
không nhỏ đến năng suất lúa. Ngoài ra công tác hướng dẫn, tạo điều kiện hỗ trợ, bảo
15
quản giống của các cấp ngành vẫn chưa thực hiện hiệu quả. Các đơn vị sản xuất lúa
giống cũng gặp nhiều rủi ro do thiếu thông tin thị trường, không nắm bắt nhu cầu của
mùa vụ.Tình trạng thiếu quỹ đất sản xuất theo quy chuẩn cũng tác động không nhỏ đến
chất lượng sản phẩm. Nhiều bờ thửa chia cắt nhỏ lẻ, manh mún nên lúa giống dễ bị lẫn
tạp dẫn đến chất lượng suy giảm”. Ngoài ra, tại nhiều địa phương, việc xếp lịch thời vụ
chưa hợp lý nên các loại giống mới chưa phát huy được chất lượng như mong muốn.
làm sẵn, trao đổi, ghi nhận cụ thể. Tham quan thực tế tình hình sản xuất của trang trại.
17
Chương 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên
Qua kết quả điều tra, điều kiện tự nhiên ở Thanh Bình nói chung và trang trại
nói riêng rất thuận lợi cho cây lúa phát triển. Đất ở đây là phù sa màu mỡ, không nhiễm
phèn, không nhiễm mặn. Tuy nhiên, tại vùng điều tra có ngập úng nhưng nhờ có hệ
thống đê bao nên không ảnh hưởng đến sản xuất. Nguồn nước chính sử dụng là từ sông
Tiền. Đây là nguồn nước ngọt quanh năm dồi dào nên rất thuận lợi cho việc tưới tiêu.
3.2 Thông tin trang trại
3.2.1 Thông tin về chủ trang trại
Ngô Khuê hay còn gọi là ông Tư Khuê, là một nông dân cố cựu, sinh ra và lớn lên tại
huyên Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp. Ông Tư Khuê bắt đầu làm lúa giống từ năm 1995
thông qua Hội Nông dân huyện Thanh Bình phát động phong trào làm lúa giống, huyện
bao tiêu để cung cấp cho bà con trong vùng.
Năm 2002 ông hoàn thành thủ tục đăng ký kinh doanh sản xuất giống cây trồng,
nông dân Tư Khuê lúc này bước vào thương trường với cái tên mới: doanh nghiệp Ngô
Khuê.
Qua nhiều lần học hỏi, hợp tác và mở rộng sản xuất, lúa giống Ngô Khuê tăng
dần sản lựơng từ 100 tấn/năm 2002 lên 400 tấn năm 2004. Năm 2005 tăng lên 800 tấn.
Đầu năm 2005, nông dân 52 tuổi này đã nộp hồ sơ đến Sở Khoa học - công nghệ Đồng
Tháp và Cục Sở hữu công nghiệp (Bộ KH-CN) để đăng ký thương hiệu “lúa giống Ngô
Khuê”.
Hiện nay ông có hệ thống đại lý cung cấp giống ở năm tỉnh Đồng Tháp, An
Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng.
3.3.2 Cây chắn gió
Qua kết quả điều tra thì trang trại không co trồng cây chắn gió, xung quanh
ruộng canh tác của trang trại là các ruộng khác và đê bao. Theo Nguyễn Ngọc Đệ
(2008), gió có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển, làm đòng, thụ phấn, thụ tinh
của bông lúa làm tăng tỉ lệ hạt lép lửng. Tuy nhiên, gió nhẹ giúp cho quá trình trao đổi
khí trong ruộng được tốt hơn, tạo điều kiện cho quan hợp và hô hấp của ruộng lúa góp
phần tăng năng suất.
3.3.3 Đê bao, cống bọng
Có một bờ bao chung cho toàn vùng 5 xã thuộc huyện Thanh Bình, cao khoảng 7-9
m và rộng khoảng 4-5 m. Nhờ có hệ thống đê bao việc canh tác không bị ảnh hưởng
bởi ngập lũ.
Trang trại có hệ thống cống riêng, gồm hai cống hở rộng khoảng 2,5m để bơm tưới
và dẫn nước phù sa vào ruộng, có một cống thoát nước có đường kính 1 m, vì vậy mà
trang trại chủ động được nước tưới, ít phụ thuộc và chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố khác
(tự nhiên, các hộ xung quanh...)
3.3.4 Nhà kho, nhà xưởng
Trang trại có kho thuốc trừ sâu, phân bón đặt gần nhà ở, với diện tích là 40 m 2 , còn
có kho dụng cụ dùng để chứa các vật tư nông nghiệp và các vật dụng cần thiết cho việc
sản xuất với diện tích 200 m2, nhà đóng gói sản phẩm để đảm bảo thương hiệu riêng
của trang trại , nằm liền kề với kho dự trữ, tổng diện tích khoảng của nhà đóng gói và
kho dự trữ khoảng 360 m 2. Trong sản xuất trang trại viêc đầu tư cho kho chứa là hết
sức quan trọng, nó sẽ giúp thuận lợi hơn trong các khẩu quản lý và giúp nông sản một
cách tốt nhất. Việc sản xuất một loại cây trồng nào đó theo quy mô lớn cũng cần có
một hệ thống kho chứa phân, thuốc, đóng gói và bảo quản. Kho phân thuốc phải được
chứa trong một khu riêng, tách biệt với khu đóng gói và bảo quản.
3.3.5 Hệ thống tưới tiêu
Tưới tiêu chủ yếu làm bằng thủ công, sử dụng máy bơm để tưới nước (2 máy bơm)
Hình 3.1 Máy làm sạch hạt giống
22
Tên giống
Chiều cao Rầy
TGST (ngày)
(cm)
nâu
Đạo
ôn
Năng suất
(T/ha)
Đặc tính
ĐX
HT
JASMINE
95 – 105
VD20
95 – 105
(Thơm nút)
IR
90 – 95
HK
TB
6-9
5-6
Chịu pheennf khá, thích hợp cả 3 vụ
95 – 100
TB
TB
7-9
6-7
Bông to, đùm. Năng suất rất cao
OM 576
100 – 105
95 – 100
95 – 100
TB
TB
6-8
5-6
Bông to, đùm. Chịu phèn mặn
OM 4218
90 – 95
90 – 95
TB
TB
6-8
5-6
Thích nghi rộng. Chịu phèn nhẹ
OM 4900
Bông to, đùm. Chịu phèn nhẹ
OM 6162
95 – 100
95 – 100
TB
TB
6-8
5-6
Bông to, đùm. Chịu phèn nhẹ
95 – 100
HK
TB
6-8
5-6
Bông to, đùm, Năng suất cao. Thích nghi 3 vụ
Trước khi xuống giống thì có một giai đoạn là sửa soạn đất cày ảy phơi khoảng 15
ngày, sau đó trục đất kết hợp với sang bằng mặt ruộng 1 – 2 lượt, đánh rãnh thoát nước
xong thì tiến hành cấy và bón phân:
- Lần 1: Giai đoạn mạ bón 5 kg Urea trên 1000 m2.
- Lần 2: Từ 7 - 10 ngày sau khi cấy bón 10 kg (DAP + Urea) trên 1000 m2.
- Lần 3: 22 ngày sau khi cấy thì bắt đầu bón 20 kg (DAP + Urea + NPK 20-20-15 +
Kali) trên 1000 m2.
24
- Lần 4: Từ 35 – 40 ngày sau khi cấy bón 25 kg (Urea + NPK 16-16-8) trên 1000 m2
Ở giai đoạn trổ bông có bón thêm một số loại thuốc để giúp cho cây lúa có
nhiều hạt chắc.
3.4.3.2 Quản lý nước
Trang trại đầu tư hai máy bơm nhằm điều tiết được nước tưới trong ruộng lúa
cũng như chủ động được việc rút nước ra ngoài khi cần. Tùy từng giai đoạn sinh
trưởng của lúa mà trang trại quản lý việc bơm nước vào và rút nước ra phù hợp. Giai
đoạn mạ (từ lúc gieo đến 10 ngày sau khi gieo) tưới nước đủ ẩm. Giai đoạn từ lúc cấy
đến 32 ngày sau khi cấy (NSKC) cho nước vào cách mặt ruộng 7-10 cm (lưu ý từ 2530 NSKC thì phải rút nước). Tiếp theo giai đoạn từ 32-55 NSKC trang trại tiến hành
giữ nước cách mặt ruộng 3-5 cm và sau đó giữ mực nước từ 2-3 cm cho đến 85 NSKC.
Cuối cùng giai đoạn 7-10 ngày trước khi thu hoạch tiến hành rút cạn nước. Theo chú
Khuê thì việc rút nước giai đoạn này giúp thuận lợi cho việc cơ giới hóa và hạn chế đỗ
ngã.
3.5 Thu hoạch và bảo quản
3.5.1 Thu hoạch
Tùy theo giống lúa, mùa vụ trồng và điều kiện chăm sóc mà khâu thu hoạch của
trang trại được tiến hành khi bông lúa đã chín vàng khoảng 90-95% số hạt chín trên
bông, do trang trại thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp nên thu hoạch rất nhanh. Năng
suất thu hoạch trung bình 5-6 tấn/ha vụ Hè Thu và 6-8 tấn/ha vụ Đông Xuân. Theo