Thực trạng và giải pháp phát triển nghề ương nuôi cá giống của các hộ nông dân tại xã Phi Mô - Lạng Giang - Bắc Giang - Pdf 31

PHẦN 1I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành nuôi trồng thuỷ sản của Việt Nam được coi là một trong 5năm
ngành kinh tế quan trọng nhất đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội. Việt
Nam có tiềm năng lớn để phát triển NTTS, với bờ biển dài 3260km, 112 cửa
sôong, lạch và 12 đầm phá, eo vịnh và hệ thống sôong phong phú đã tạo ra
hàng vạn ha mặtmăth nước ao hồ, đầm, hàng trăm con song lớn nhỏ tạo điều
kiện thuận lợi cho phát triển NTTS quanh năm. NTTS được coi như một giải
pháp hữu hiệu trong xoá đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân,
cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị, tạo công ăn việc làm tăng thu nhập, tăng
kim ngạch xuất khẩu và nguồn thu ngân sách, tận dụng và phát huy một cách
hợp lý nguồn lực tự nhiên sẵn có mà không ảnh hưởng đến nguồn lợi tự nhiên
thì việc NTTS Việt Nam trong những năm gần đây đã được phát triển mạnh
và có vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Đây là lĩnh vực
đã và đang được đảng và nhà nước ta tạo điều kiện phát triển để đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của con người. Tổng sản lượng thuỷ sản Việt Nam năm
2008 là 2465,6 nghìn tấn đạt giá trị sản xuất 76895,1 tỷ đồng .[19]
Trong chiến lược phát triển nông nghiệp toàn diện, xây dựng nền nông
nghiệp hàng hoá bền vững, Bắc Giang khuyến khích phát triển nghề nuôi
trồng thuỷtuỷ sản cả diện tích, năng suất và chất lượng. Những năm qua nghề
NTTS đã góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho hàng nghìn
hộ dân trong tỉnh.
Là một tỉnh miền núi nhưng Bắc Giang có lợi thế lớn vể NTTS, từ
4.643 ha ao hồ nhỏ nhưng đến nay toàn tỉnh có 11.966ha mặt nước đang được
khai thác và chăn nuôi thuỷ sản. Năm 2009 sản lượng thuỷ sản hàng hoá đạt

1


14.122 tấn tăng gấp 2 lần so với năm 2001.

trạng và giải pháp phát triển nghề ương nuôi cá giống của các hộ nông
dân tại xã Phi Mô - Lạng Giang - Bắc Giang: thực trạng và kiến nghị”.
Nhằm tìm hiểu rõ thực trạng nghề ương nuôi cá giống tại địa phương từ đó có
cơ sở đưa ra một số giải pháp phù hợp để giải quyết các khó khăn đó tạo điều
kiện cho nghề ương nuôi cá tại địa phương ngày càng phát triển.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng ương nuôi cá giống qua đó đề xuất một số giải
pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả hiệu quả ương nuôi cá giống tại xã
Phi Mô – huyện Lạng Giang.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề ương nuôi cá
giống.
(2) Thực trạng nghề ương nuôi cá giống từ đó phân tích điểm thuận lợi
và khó khăn ảnh hưởng đến kết quả ương nuôi cá giống của các hộ.
(3) Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nghề ương nuôi cá
giống tại địa phương.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Báo cáo tập trung nghiên cứu thực trạng, giải pháp phát
triển và nâng cao hiệu quả nghề ương nuôi cá giống tại các hộ nông dân xã
Phi Mô – Lạng Giang - Bắc Giang.
- Chủ thể: các hộ ương nuôi cá giống tại địa phương, các đối
tượng liên quan.

3


1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình ương nuôi cá

đổi lượng đầu ra do tăng thêm chút ít yếu tố đầu vào thay đổi được biểu thị
bằng đơn vị riêng của nó. Khi sản phẩm cận biên bằng 0 thi tổng sản phẩm là
lớn nhất.
+ Sản phẩm bình quân (AP) của yếu tố đầu vào thay đổi. Đem chia
tổng sản phẩm có số lượng yếu tố đầu vào thay đổi ta sẽ cxó AP. Khi một yếu
tố đầu vào được sử dụng ngày một nhiều hơn, mà các yếu tố đầu vào khác
không thay đổi thì mức tăng tổng sản phẩm này càng nhỏ đi.

5


- Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sản xuất
+ Vốn sản xuất: Là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị,
phương tiện vận tải, kho tàng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Vốn đối với quá trình
sản xuất là vô cùng quan trọng. Trong điều kiện năng suất lao động không đổi
thì tăng tổng vốn sẽ dẫn tới tăng thêm sản lượng sản phẩm hàng hoá. Tuy
nhiên trong thực tế việc tăng thêm sản lượng hàng hoá còn phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác nữa, chẳng hạn như chất lượng lao động, trình độ kỹ thuật.
+ Lực lượng lao động: là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sản
xuất. Mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất
là lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nhgiệm và kỹ năng lao động. Do đó chất
lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất.
+ Đất đai: là yếu tố sản xuất không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với
ngành nông nghiệp, mà còn rất quan trọng đối với ngành công nghiệp và dịch
vụ. Đất đai là yếu tố cố định lại bị giới hạn bởi quy mô, nên người ta phải đầu tư
thêm vốn và lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
đất đai. Các loại tài nguyên khác trong lòng đất như khoáng sản, tài nguyên
rừng, biển và tài nguyên thiên nhiên đều là đầu vào quan trọng của sản xuất.
+ Khoa học công nghệ: Quyết định đến sự thay đổi năng xuất lao
động và chất lượng sản phẩm. Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng

+ Hiện nay, xuất hiện tình trạng tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị
khai thác cạn kiệt nên phát triển còn đi đôi với khái niệm phát triển bền vững,
đã hình thành hai khái niệm phổ biến về phát triển kinh tế và phát triển bền
vững như sau:
- Phát triển kinh tế là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt
của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng lên
về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội.
- Phát triển bền vững
Khái niệm của Heman Daly (World Bank) một thế giới bền vững
là một thế giới không sử dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo như nước,
thổ nhưỡng, sinh vật… nhanh hơn sự tái tạo của chúng. Một xã hội bền vững

7


cũng không sử dụng các nguồn tài nguyên không tạo như nhiên liệu hóa
thạch, khoáng sản… nhanh hơn quá trình tìm ra loại thay thế chúng và không
thải ra ngoài môi trường các chất độc hại nhanh hơn quá trình trái đất hấp thụ
và vô hiệu hóa chúnh.
Khái niệm của Bumetlend: Phát triển bền vững là loại phảt triển lành
mạnh vừa đáp ứng nhu cầu hiện đồng thời không xâm phạm đến lợi ích của
thế hệ tương lai.
Tóm lại, phát triển bền vững là một sự phát triển lành mạnh trong
đó sự phát triển của cá nhân này không làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân
khác, sự phát triển của cá nhân không làm thiệt hại đến sự phát triển của cộng
đồng, sự phát triển của cộng đồng người này không ảnh thiệt hại đến lợi ích
của cộng đồng người khác và sự phát triển của thế hệ hôm nay không xâm
phạm đến lợi ích của thế hệ mai sau và sự phát triển của loài người thì không
đe dọa sự sống còn hay làm suy giảm điều kiện sống của cá loài sinh vật khác
trên hành tinh.

hiện phương pháp chất lượng kinh doanh vốn của một phương thức sản xuất
kinh doanh. Đó là sự so sánh về lượng giữa kết quả sản xuất và chi phí sản
xuất”.
Lệ Thu cho rằng: “Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu tổng hợp nhất về chất
lượng của sản xuất kinh doanh. Nội dung của nó là so sánh kết quả thu được và
chi phí bỏ ra”.
Thực chất đây là dòng quan điểm tổng hợp của ba dòng quan điểm trước,
nó phản ánh một cách khái quát mối tương quan giữa kết quả và chi phí.
Khi xem xét hiệu quả kinh tế trên dòng quan điểm thứ nhất: hiệu quả là
tỷ số giữa kết quả và chi phí, quan điểm này phản ánh được mức độ hiệu quả
kinh tế nhưng chưa phản ánh được quy mô của nó.
Ngược lại dòng quan điểm thư hai, nghiên cứu hiệu quả kinh tế trong
mối quan hệ hiệu số giữa kết quả và chi phí, quan điểm này phản ánh được
quy mô của hiệu quả kinh tế nhưng lại không phản ánh được mức độ của nó.

9


Dòng quan điểm thứ ba, xem xét hiệu quả kinh tế trong mối quan hệ
giữa chi phí tăng thêm. Quan điểm này sẽ đưa ra được điểm dừng tối ưu cho
sự đầu tư, nhưng nó không phản ánh được tổng thể hiệu quả kinh tế chung.
Dòng quan điểm thứ tư, phản ánh khái quát chung về hiệu quả kinh tế,
do vậy có thể xem nó như một lý luận chung nhất về hiệu quả kinh tế. Các
dòng quan điểm khác sẽ là sự cụ thể và chi tiết của dòng quan điểm này có thể
xem nó như những chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế.
Như vậy khi xem xét hiệu quả kinh tế, chúng ta phải căn cứ trên những
quan điểm khác nhau để phản ánh một cách đầy đủ, cụ thể nhất, đồng bộ nhất
về hiệu quả kinh tế.
Theo tôi hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả
đạt được và chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mối tương


10


Mè trắng
Mè hoa
Trăm cỏ
Chép
Trôi, Rohu, Mrigal
Rô phi (Or. niloticus)

0,5 -– 0,7
0,5 - – 0,7
0,5 -– 0,7
0,5 -– 0,7
0,5 -– 0,7

2,5 -– 3
2,5 -– 3
2,5 -– 3
2,5 -– 3
2,5 -– 3

5 -– 6
5 -– 6
5 -– 6
5 -– 6
5 -– 6

10 -– 12

a) ● a) Giai đoạn 1 ưƯơng cá bột lên thành cá hương
○1.1 Điều kiện môi trường ao ương
1.1.1◦ Chọn ao ương
Ao là môi trường sống, sinh trưởng và phát triển của cá, điều kiện môi
trường ao nuôi hay xấu đều ảnh hưởng đến đời sống của cá. Ở giai đoạn ương
từ cá bột lên cá hương thì môi trường có ý nghĩa nhiều hơn. Ao ương cá bột
lên cá hương cần đảm bảo tốt một số yêu cầu sau đây:
Nguồn nước: nguồn nước lấy vào ao phải chủ động, sạch, không có cá
tạp, lấy nước và tiêu nước thuận tiện, ở giai đoạn này yêu cầu không gian hoạt
động của cá ngày càng tăng, vì vậy phải thường xuyên thay nước mới nhằm
mục đích sau:
+ Điều chỉnh màu nước trong ao
+ Cấp nước mới vào ao làm tăng hàm lượng ôxy tạo điều kiện cho cá
sinh trưởng và phát triển tốt.
+ Cấp nước mới vào làm tăng thể tích nước trong ao, làm tăng không
gian hoạt động của cá, cá sinh trưởng nhanh.
1.1.2◦ Chất đáy thích hợp:
- Chất đáy ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước của ao, nó điều chỉnh độ
béo của nước.
- Nếu chất đáy là bùn cát, pH = 7 - 8 dễ gây màu nước, vi sinh vật, thực
vật phù du phát triển mạnh.
- Nếu chất đáy là cát sỏi hoặc chua mặn pH giảm 7 - 8 khó gây màu nước,
vi sinh vật phù du phát triển kém. Độ dày bùn đáy từ 15 - 20cm, độ dày bùn đáy
dày hoặc quá mỏng đều ảnh hưởng không tốt đến quá trình ương nuôi.
◦ 1.1.3 Diện tích và độ sâu của ao:
- Diện tích ao ương cá bột lên cá hương quá nhỏ hoặc quá lớn đều ảnh
hưởng xấu đến tỷ lệ sống ở giai đoạn này. Ao có diện tích lớn khó gây màu

12




- Phương pháp tu bổ và tẩy dọn ao:
+ Tháo hết nước trong ao, sữa lại bờ ao, vét bớt bùn đáy, trang đáy
bằng phẳng. Việc tu bổ ao phải được tiến hành trước khi thả cá 7 - 10 ngày
hoặc có thể trước 15 ngày, tuỳ diều kiện của từng cơ sở.
+ Tẩy ao bằng vôi bột hoặc vôi sống: lượng vôi thường dùng là 7- 10
g/ao (vôi bột) hoặc 10 - 15 kg/ao (vôi tôi) tuỳ theo độ pH của ao để xác định
lượng vôi bón cho thích hợp.

1.2.2 ◦ Bón phân
- Sau khi tẩy vôi, tiến hành tháo nước vào ao, nước đưa vào ao phải
được lọc qua lưới động vật phù du hoặc qua vài lần vải màn. Mực nước ban
đầu lấy vào là 30- 40cm nước, rồi tiến hành bón phân chuồng, phân xanh.
+ Phân chuồng 30 -– 50 kg/ao (rãi đều khắp ao)
+ Phân xanh 30 -– 50 kg/ao (bó thành từng bó đặt xuống 1 - 2 góc ao)
- Sau khi tẩy trùng, bón lót tiến hành ngâm ao, thời gian ngâm ao dài
hay ngắn tuỳ thuộc vào nhiệt độ. Sau khi lá dầm phân huỷ hết, vớt bỏ những
phần cứng không phân huỷ được lên bờ rồi cho nước tiếp tục vào ao đảm bảo
mực nước trong ao từ 0,8 - 1,2m khi dó mới tiến hành thả cá bột.
1.3 ○ Thả cá bột
Thường thả cá bột vào buổi sáng hoặc chiều tối. Nếu nhiệt độ lớn hơn
300C thì không thả cá ra ao. Mật độ cá thả tuỳ theo từng loại, thường dao
động từ 200 - 300 con/m2. Mật độ cá thả còn phụ thuộc vào từng vùng: vùng
đồng bằng mật độ thả 250 - 300 con/m2, ở miền núi, trung du mật độ thả 200 250 con/m2.
1.4 ○ Chăm sóc và quản lý
1.4.1 ◦ Bón phân và cho ăn thức ăn tinh:

14




+ Vào lúc sang sớm cá nổi đầu từ 2 -– 3 giờ, nếu động nhẹ không thấy
cá lặn chứng tỏ trong ao thiếu ôxy.
+ Cá bơi lờ đờ, bơi lẻ từng con như vậy là có hiện tượng bị bệnh.
+ Diệt địch hại có trong ao: Ở giai đoạn từ cá bột lên cá hương, một
trong những yếu tố quyết định đến tỷ lệ sống của cá là yếu tố địch hại, địch
hại của cá ở giai đoạn này là bọ gạo, nòng nọc, bắp cầy và các sinh vật địch
hại đối với cá khác.
- Định kỳ cấp nước vào ao với mục đích nhằm cải thiện môi trường
nước trong ao, sinh vật làm thức ăn cho cá phát triển mạnh, mặt khác còn kích
thích cho cá tăng trưởng nhanh. Bình thường cứ 3 - 5 ngày thêm nước vào ao
một lần, mỗi lần dâng 20 - 30 cm nước. Nếu ương với mật độ dày, trong quá
trình ương có thể thay 1 - 2 lần, mỗi lần bằng 1/3 lượng nước trong ao.
- Phòng trị bệnh cho cá: Thường xuyên quan sát cá trong ao, nếu thấy
cá bơi theo đàn hoạt động nhanh nhẹn là cá khoẻ. Nếu thấy nhiều con bơi lờ
đờ trên mặt nước, bơi tản mạn ven bờ chứng tỏ cá có hiện tượng bị bệnh. Kịp
thời bắt cá lên kiểm tra và có biện pháp phòng trừ kịp thời. Trường hợp
nghiên trọng nếu thấy cá chết trong ao phải thay nước, ngừng bón phân và
cho cá ăn.
- Kiển tra tốc độ sinh trưởng: Trong quá trình ương, định kỳ kiểm tra
tốc độ tăng trưởng của cá. Một tuần kiểm tra tốc độ tăng trưởng 1 lần. Cách
làm: dung vợt cá bột bắt lên 15 - 30 con kiểm tra chiều dài và trọng lượng
(nếu có điều kiện). Quan sát độ no của cá, từ đó điều chỉnh lượng thức ăn,
phân bón cho hợp lý.
- Luyện cá: Sau khi ương được 1 tuần, cứ 4 - 5 ngày dung cào đẩy sát
đáy ao 1 lần hoặc dung trâu đùa luyện. Cuối giai đoạn cá hương có thể dung
lưới cá hương để luyện cá: dùng lưới kéo cá vào góc ao sau 10 - 15 phút thả
cá ra. Tác dụng luyện cá là:
+ Làm cho cá quen với điều kiện môi trường thiếu ôxy.

từng vùng và từng loài cá khác nhau). Chú ý cá đưa vào ương nuôi ở giai

17


đoạn tiếp theo phải chọn những con đồng cỡ, khoẻ mạnh, đúng tiêu chuẩn để
ương nuôi thành cá giống. Ở giai đoạn này có thể ương đơn hoặc ương ghép
nhiều đối tượng trong cùng một ao (mè trắng + mè hoa, trắm cỏ + mè trắng,
mè trắng + trôi).
○ * Chăm sóc và quản lý
- Bón phân và cho ăn:
+ Ao ương cá mè trắng, mè hoa có chế độ bón phân tương tự như thời
kỳ ương từ cá bột lên cá hương.
+ Ao ương cá trắm cỏ hàng ngày cho ăn bèo tấm, bèo hoa dâu, cỏ non,
cây họ đậu (băm nhỏ) lượng thức ăn hàng ngày 30 - 40 kg/1 vạn cá, kết hợp
cho ăn thức ăn tinh với lượng 300 - 400 g/ao/ngày. Cá tra cho ăn ốc xay + lá
gón, những sản phẩm của lò sát sinh lượng thức ăn tinh từ 5 - 10% trọng
lượng thân cá.
Thường xuyên theo dõi tình hình sử dụng thức ăn của cá, sự hoạt động
của cá. Đối với cá tra, cá trắm cỏ phải thường xuyên vệ sinh sáng ăn, nơi cho
cá ăn, thường xuyên làm tốt công tác phòng trừ địch hại cho cá. Định kỳ cho
nước mới vào ao để cải thiện môi trường sống của cá trong ao. Định kỳ kiểm
tra tốc độ tăng trưởng của cá.
- Trước khi thu cá 4 - 5 ngày phải tiến hành luyện cá. Công việc luyện
cá được tiến hành vào 8 - 9 giờ sang, đồng thời ngừng cho cá ăn trước khi thu
hoạch 1 ngày. Khi thu hoạch phải cân đo, đong đếm chính xác, trên cơ sở đó
nhận xét đánh giá rút kinh nghiệm cho chu kỳ ương nuôi sau.[3], [10], [8]
● c) KỸ ỹ thuật vận chuyển cáTHUẬT VẬN CHUYỂN CÁ
○ *Phương pháp vận chuyển hở
◦ • Vận chuyển bằng thùng tôn, sọt chở bằng xe đạp:

+ Cỡ cá 300- 700 g/con mật độ vận chuyển từ 120- 150 kg/1m 3
nước.
- Vận chuyển 5- 6 giờ phải thay nước, lượng nước thay bằng 1/2

19


lượng nước trong bạt. Nếu sau 15 giờ phải thay nước toàn bộ, trong khi thay
nước phải cho ca nghỉ và cho cá ăn.
○ * Phương pháp vận chuyển kín
- Vận chuyển bằng túi PE (polyetylen) hay PVC (polivininclo)
hoặc vận chuyển bằng can nhựa là phương pháp vận chuyển tiên tiến nhất
hiện nay, được nhiều nước trên thế giới áp dụng.
- Ưu điểm của phương pháp: phương tiện vận chuyển đa dạng
như xe đạp, ôtô, máy bay, tàu hoả... vận chuyển được mật độ dày, trên một
quãng đường dài, tỷ lệ cá sống cao, hiệu quả kinh tế cao hơn so với các
phương pháp khác.
◦ • Vận chuyển bằng túi PE hay PVC:
- Túi có độ dày 0,14- 0,18 mm, túi thường có màu trắng, dạng
hình ống, chiều dài túi1,2- 1,4 m chiều cao 60- 70 cm.
- Cấu trúc phụ của túi:
+ Ống cao su ở đầu để tiếp ôxy, đường kính từ 0,5- 0,6 cm, chiều
dài từ 20- 25 cm. Trong ống cao su có lắp thêm một ống trúc với mục đích khi
buộc ống cao su khồn bị tắc.
+ Dây cao su để buộc túi
+ Bình ôxy: bình ôxy có nhiều cỡ khác nhau (10, 20, 40 lít), bình
to nếu chứa đầy, áp suất có thể lên tới 150at, bình này có thể bơm cho 150180 túi.
+ Phương tiện vận chuyển: ôtô, máy bay, tàu hoả, xe máy...
- Khâu chuẩn bị cá: Khi cá được luyện ép trong giai, trong bể,
cần phải xác định mẫu cá trước khi đóng cá vận chuyển.

+ Khi đến địa điểm tiếp nhận cá, phải đưa túi xuống ao
ngay. Túi được ngâm trong ao từ 5- 10 phút mới tiến hành thả cá ra ao (mục
đích cho nhiệt độ nước trong túi vận chuyển cân bằng với nhiệt độ ngoài môi
trường làmn cho cá không bị sốc nhiệt do chênh lệch nhiệt độ trong túi và

21


ngoài môi trường, nâng cao tỷ lệ sống trong quá trình vận chuyển), sau đó mở
túi cho cá từ từ bơi ra ngoài.
+ Cá được thả trực tiếp xuống ao hoặc thả vào giai để hai
bên tiến hành xác định lại số lượng cá, xác định tỷ lệ sống sau khi vận
chuyển.
2.2 Thực tiễn ương nuôi cá giống một số địa phương tai Việt Nam
Theo chương trình giống thuỷ sản vừa được Chính phủ phê duyệt, đến
2010 Việt Nam sẽ có tập đoàn giống thuỷ sản đa dạng, có giá trị kinh tế, xuất
khẩu, Trong chăn nuôi thuỷ sản nước ngọt, cả nước sẽ có 3,5 tỷ con giống
tôm càng xanh, trên 700 triệu con giống cá da trơn và khoảng 500 triệu con
giống rô phi đơn tính đực, 12 tỷ cá giống khác. Cũng theo chương trình trên,
sẽ có 6 trung tâm quốc gia giống thuỷ sản được đầu tư xây dựng, hoàn thiện
tại Hải Dương, Đắc Nông, Tiền Giang, Hải Phòng, Khánh Hoà, Vũng Tàu và
16 trung tâm giống thuỷ sản cấp I gồm 5 trung tâm giống hải sản và 11 trung
tâm giống thuỷ sản nước ngọt.
Một trại sản xuất cá giống nằm trong dự án TRẠI CHĂN NUÔI HEO
GIỐNG VÀ CÁ GIỐNG CAO SẢN với tổng diện tích hơn 100 ha tại Xã Hoà
Thành, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Trong đó, trại cá giống khoảng 40
ha bao gồm khu sinh sản cá tra, khu nuôi cá bố mẹ, hệ thống ao ương nuôi cá
giống…có thể sản xuất trên 70 triệu cá giống/năm. Với định hướng phát triển:
- Xây dựng trại sản xuất và ương nuôi cá giống sạch theo tiêu chuẩn
SQF1000 CM.

nhưng việc chủ động sản xuất cá Tra bột tại chỗ vẫn còn rất hạn chế.[16]

2.2.2 Thực tiễn tại Tân Yên Bắc Giang
Xã Ngọc Thiện có địa hình bằng phẳng, chủ động nguồn nước nhờ hệ
thống kênh Chính chảy qua nên thuận lợi để phát triển nghề ương nuôi cá
giống. Cách đây gần 30 năm, ở Ngọc Thiện đã hình thành trại nuôi cá giống
thuộc HTX nông nghiệp. Năm 1992, thực hiện chủ trương của Nhà nước giao

23


ruộng đất lâu dài cho nông dân, một số xã viên HTX đã mạnh dạn đào ao,
nuôi cá giống ngay trong vườn của gia đình. Do cách làm tự phát, quy mô nhỏ
lẻ nên hiệu quả kinh tế không cao. Để phát triển nghề nuôi cá giống, những
năm gần đây, UBND xã đã khuyến khích nông dân chuyển đổi diện tích
ruộng trũng hiệu quả cấy lúa thấp sang nuôi cá giống. Những năm gần đây,
nhiều hộ dân ở xã Ngọc Thiện (Tân Yên) mạnh dạn đầu tư mở rộng diện tích,
nâng cấp hệ thống ao, hồ nuôi cá giống thâm canh mang lại thu nhập cao.
Cùng đó, xã phối hợp với Chi cục Thủy sản tỉnh tổ chức chuyển giao kỹ thuật
ương nuôi cá giống cho nông dân. Đồng thời liên hệ với Trường Cao đẳng
Thủy sản (Bắc Ninh) mở lớp dạy NTTS cho các hộ nuôi cá trong thời gian
một năm. Do được tập huấn kỹ thuật nuôi và phòng bệnh cho cá nên đã hạn
chế được tình trạng cá chết hàng loạt như nhiều năm trước đây. Nhiều hộ dân
mạnh dạn chuyển đổi diện tích ruộng trũng, nhận thầu thêm ao, hồ để phát
triển nghề nuôi cá giống. Đến nay, toàn xã có gần 20 ha mặt nước sản xuất cá
giống với 20 hộ tham gia, tập trung ở 4 thôn: Trung, Đồng Lầm, Tam Hà và
Tân Lập 1. Cá được ương nuôi cũng đa dạng với các chủng loại: mè, trôi,
trắm, rô phi đơn tính, chép lai ba máu, chim trắng, vược…
Hệ thống ao nuôi cá giống của các hộ được xây dựng kiên cố, tập trung
trên các khu đồng bao quanh thôn. Gia đình anh Nguyễn Văn Lượng nuôi cá

Năm 2008 được sự quan tâm của chương trình dự án hỗ trợ ngành thủy
sản FSPS II Sơn La; Trung tâm Khuyến nông tỉnh, Trạm Khuyến nông huyện
Mộc Châu đã tổ chức triển khai dự án hỗ trợ ngành thuỷ sản; trong đó có nội
dung tập huấn kỹ thuật ương nuôi cá giống kết hợp với xây dựng mô hình
trình diễn kỹ thuật tại hiện trường.
Tại 5 xã thuộc vùng dự án của huyện Mộc Châu đã tổ chức 5 lớp tập
huấn, trong đó mỗi lớp có 20 học viên (là các nông dân nghèo có điều kiện
nuôi trồng thuỷ sản) tham gia, 3 học viên trực tiếp tham gia xây dựng mô
hình. Mỗi khóa tập huấn được tổ chức 6 lần (1 ngày/ lần). Ngày đầu tiên tập
huấn lý thuyết chung về kỹ thuật ương nuôi cá giống. Các lần tập huấn tiếp
theo thực hiện tại hiện trường là chính. Các đợt tập huấn tại hiện trường, học
viên được ra thực địa tại ao ương cá giống của mô hình để học thông qua các
thao tác thực tế theo tiến độ công việc triển khai mô hình trình diễn kỹ thuật

25


Trích đoạn Thuận lợi và khó khăn Một số giải pháp chủ yếu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status