sự kế thừa và đổi mới trong thơ đường luật tản đà - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NV
BỘ MÔN NGỮ VĂN

LÊ THÁI VƯƠNG

SỰ KẾ THỪA VÀ ĐỔI MỚI TRONG THƠ
ĐƯỜNG LUẬT TẢN ĐÀ
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: HUỲNH THỊ LAN PHƯƠNG

Cần Thơ, năm 2011

1


A.PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Văn học trung đại là giai đoạn văn học phát triển rực rỡ nhất. Với những
nhà thơ tên tuổi như: Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, …Trong giai đoạn này thơ
đường luật là một thể thơ phổ biến, thể hiện tư tưởng “văn dĩ tải đạo”, thi ngôn
chí”. Tản Đà vốn xuất thân từ một gia đình có truyền thống khoa cử từ nhỏ đã
được lớn lên trong tư tưởng của Nho gia nên trong ông luôn thấm đẫm nền văn
hóa truyền thống, vì vậy trong thơ ông luôn có sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ thơ
truyền thống hay nói cách khác là thơ ca trung đại.
Tuy nhiên, nói như vậy không phải là thơ Tản Đà hoàn toàn bị chi phối bởi
nền thơ ca trung đại, ở ông mang cả dáng dấp của những phong lưu tài tử của một
thời người bảo vệ danh giáo, luân lý truyền thống lẫn những nét cách tân vô cùng

thuật của dân tộc và những kỹ thuật được ông sử dụng trong sự nghiệp sáng tác
của mình.
“Tản Đà tác giả và tác phẩm”. Đây là tập tuyển chọn và giới thiệu về tác
giả, tác phẩm được sưu tầm từ những bài viết trong thời gian chống Pháp – Mỹ,
những bài viết nghiên cứu trong nhiều năm gần đây giúp người đọc hiểu hơn về
cuộc đời cũng như giá trị thơ văn của Tản Đà, cuốn sách do Trịnh Bá Đĩnh và
Nguyễn Đức Mậu tuyển chọn và giới thiệu, nhà xuất bản giáo dục xuất bản năm
2000, trong quyển sách này có các bài viết của Phạm Văn Diêu “Tản Đà-một nhà
văn tài tử và lãng mạng, một nhà thơ giữa hai thế kỉ” Xuân Diệu “công của thi sĩ
Tản Đà”, Phạm Thế Ngũ “nhà thơ lãng mạng”, Trần Ngọc Vương “Tính dân tộc
và tính hiện đại, truyền thống và cách tân của nhà thơ Tản Đà” … các nhà phê
bình chủ yếu xoay quanh vấn đề kế thừa và đổi mới trong thơ của Tản Đà.
Ngoài ra còn phải kể đến cuốn “Thơ Tản Đà và những lời phê bình” đây là
tổng hợp những lời phê bình về thơ của Tản Đà do Phạm Xuân Thạch tuyển chọn
và biên soạn nhà văn hóa thông tin Hà Nội năm 2000, trong cuốn sách này có các
bài viết của các nhà phê bình nổi tiếng như: Xuân Diệu với bài viết “Tìm hiểu Tản
Đà”, Phạm Văn Diêu “Ngôn ngữ và giọng điệu thơ Tản Đà”, Phạm Thế Ngũ
3


“Một gạch nối sang thơ mới của Tản Đà”, Vũ Ngọc Phan “Thi sĩ Tản Đà”…. Đó
là tổng hợp những lời bình về Tản Đà từ thân thế, con người cho đến sự kế thừa và
cách tân trong thơ của ông cả về nội dung lẫn nghệ thuật.
Một công trình nghiên cứu cũng không kém phần nổi bật nữa là: Tản Đà thơ
và đời Nhà xuất bản văn học-Hà Nội 1995 của Nguyễn Khắc Xương đây là công
trình nghiên cứu về gia thế và những nhận định của Nguyễn Khắc Xương về Tản
Đà. Nhìn chung, công trình này đã tìm hiểu khá cụ thể về con người, cá tính của
Tản Đà. Ngoài “Tản Đà thơ và đời” Nguyễn Khắc Xương còn có một công trình
nghiên cứu khác nữa đó là cuốn “Tản Đà trong lòng thời đại” – Nhà xuất bản Hà
Nội nhà văn – Hà Nội 1997. Đây là tập hợp rất nhiều những hồi ức kĩ niệm những

đường luật cả về nội dung lẫn nghệ thuật.
Với phạm vi đề tài như thế, nên trong luận văn này người viết chủ yếu tham
khảo vào các sáng tác thơ của ông trong hai quyển: “Thơ Tản Đà” và cuốn “Tản
Đà thơ và đời”. Ngoài ra người viết còn tham khảo nhiều bài viết, các công trình
nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.

5. Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành luân văn này người viết đã sử dụng những phương pháp sau:
Đầu tiên là đọc hết những bài thơ đường luật, cuộc đời, sư nghiệp sáng tác
của Tản Đà cùng những công trình nghiên cứu về ông, kết hợp với sự hướng dẫn
tận tình của cán bộ hướng dẫn,kiến thức bản thân người viết đã tiến hành lập đề
cương tổng quát, chi tiết, viết bản thảo và cuối cùng là hoàn thành luận văn.
Trong quá trình nghiên cứu người viết đã sử dụng những phương pháp:
phân tích, tổng hợp, so sánh ,chứng minh, thống kê…

B. PHẦN NỘI DUNG

Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

5


1. Vài nét về thơ Đường luật:
1.1. Quá trình hình thành và phát triển thơ đường luật ở Việt Nam:
1.1.1. Thơ Chữ Hán:
Thời đại nhà đường (618-907) gồm 300 năm, tính từ thời Bắc thuộc qua các
thời: Mai Hắc Đế (722), Bố Cái Đại Vương (791) và sang triều đại Ngô Vương
Quyền (939-967).
Ở Việt Nam Sĩ Nhiếp người Hán đã truyền bá chữ Hán vào nước ta từ thế
kỷ thứ hai, song thơ ca truyền lại từ thế kỷ trước không được bao nhiêu. Trong

Khoan, Đặng minh khiêm,…đều là những nhà thơ để lại nhiều tác phẫm giá trị.
Từ thế kỷ XVIII-thế kỷ XIX thơ đường luật chữ hán tiếp tục phát triển và
có những nhà thơ tiêu biểu: Ngô Thì Sĩ, Lê Quý Đôn, Lê Hữu Trác, Nguyễn Cư
Trinh, Mạc Thiên Tích…
Sau khi Gia Long đánh bại nhà Tây Sơn, thơ đường luật chữ hán vẫn được
các sĩ phu tâm đắc, có nhiều nhà thơ tên tuổi như: Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ,
Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu…
Thơ đường luật chữ hán tiếp tục phát triển mạnh mẽ, hàm xúc và có sức
truyền cảm cao. Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XIX thì thơ chữ hán không còn được
dồi dào như lúc đầu thế kỷ XVIII, và lúc này thơ nôm đường luật có phần khởi sắc
được vân dụng nhiều hơn thơ đường luật chữ hán.

1.1.2. Thơ nôm đường luật:
Chữ nôm được phát minh từ thế kỷ XVIII do Nguyễn Thuyên khởi xướng
và thơ nôm đường luật cũng xuất hiện từ lúc đó. Nhưng các sáng tác của Nguyễn
Thuyên không được chú ý nhiều, cho đến khi “quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi
ra đời (1380- 1442) thì đó là bước đánh dấu cho nền thơ nôm đường luật ở Việt
Nam. Tuy có thay đổi về chữ viết nhưng về hình thức luật thơ vẫn tôn trọng luật
thơ đường.
Thơ Nôm Đường luật trong giai đoạn này được các nhà Nho sử dụng phổ
biến và yêu thích. Lê Thánh Tông bên cạnh những bài thơ chữ Hán nhà vua còn
rất chú ý đến thơ Nôm Đường luật. Ông vận dụng cách gieo vần trắc tạo nên sự
7


linh hoạt cho bài thơ. Ngoài ra còn các nhà thơ khác như: Thân Nhân Trung, Đỗ
Nhuận…
Ở đầu thế kỷ XV, thơ Nôm Đường luật được sử dụng phổ biến, rộng rãi và
có ảnh hưởng lớn trong nền sáng tác văn học Việt Nam, các cây đặc thụ như:
Nguyễn Bĩnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông… đều có những sáng tác

một thể thơ hoàn chỉnh, hài hòa, cân đối về cấu trúc thường được sử dụng trong
các kì thi thời trung đại để kiểm tra năng lực và để tự các nho sĩ bộc lộ hoài bão
của mình.
Thể thơ này có dung lượng ngôn từ hạn chế nhưng mang tính hàm súc và
uyên bác, vịnh cảnh tả tình dùng để thể hiện hoài bão, những suy nghiệm về thiên
nhiên và con người của các nho sĩ.

1.2.2. Thơ tứ tuyệt
Thơ tứ tuyệt hay tuyệt cú là thể thơ gồm có 4 dòng thơ 5 chữ dối với ngũ
ngôn tứ tuyệt và 7 chữ đối với thất ngôn tứ tuyệt.
Là thể thơ ngắn gọn giàu tính hàm súc, thích hợp với nhu cầu ghi nhanh
những phát hiện bất ngờ về cuộc sống, những suy tư, trải nghiệm sâu sắc hay một
cảm xúc trong một khoảnh khắc của đời sống, không đòi hỏi những phép đối
nghiêm ngặt nên có thể chứa những yếu tố cách tân trong thơ hiên đại.

1.2.3. Các thể thơ khác của thơ đường luật:
Bên canh hai thể thơ phổ biến là thơ bát cú và tứ tuyệt thì thơ đường luật
còn một số dạng thức đặc biệt khác: Thể song điệp (có 8 câu mỗi câu đêu có hai từ
trùng điêp nhau), thể triệt hạ ( sau mỗi câu có một chấm lững thể hiên ý thơ chưa
dứt), thể vĩ tam thanh (ba từ cuối có âm tương tự nhau), thể thủ vĩ ngâm (câu đầu
và câu cuối giống nhau), thể hồi văn (đọc xuôi, đọc ngược đều có nghĩa), thể yết
hậu (câu cuối chỉ có một chữ), thể liên hoàn (câu cuối của bài trên được lặp lại
trọn vẹn hoặc một phần trong câu đầu của bài sau), thể lập danh (mỗi câu đều nêu
lên một sự vật hoặc một loài vật nào đó giống loại).

1.3. Luật:
1.3.1.Thơ bát cú:

9


T-T-B-B-T
10


B-B-T-T-B
B-B-B-T-T
T-T-T-B-B
Thất Ngôn Bát Cú

Luật Bằng Vần Bằng:

B-B-T-T-T-B-B
T-T-B-B-T-T-B
T-T-B-B-B-T-T
B-B-T-T-T-B-B
B-B-T-T-B-B-T
T-T-B-B-T-T-B
T-T-B-B-B-T-T
B-B-T-T-T-B-B

Luật Trắc Vần Bằng:

T-T-B-B-T-T-B
B-B-T-T-T-B-B
B-B-T-T-B-B-T
T-T-B-B-T-T-B
T-T-B-B-B-T-T
B-B-T-T-T-B-B
B-B-T-T-B-B-T
T-T-B-B-T-T-B

Cha là Nguyễn Danh Kế vốn là người có cốt cách phong lưu, tài tử. Mẹ là
bà Nhữ Thị Nghiêm là một đào hát nổi danh tài sắc ở phố Hàng Thao – Nam Định
có thơ hay giọng tốt. Nét tài hoa, phong lưu của Tản Đà có lẽ cũng được thừa
hưởng một phần lớn từ cha mẹ.
Nguyễn Tái Tích là người anh cùng cha khác mẹ với Tản Đà, ông là người
đã cưu mang Tản Đà từ lúc lên ba tuổi, cũng nhờ Nguyễn Tái Tích mà Tản Đà mới

12


Được trao đổi học thức, đồng thời Tản Đà cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc về nhân
sinh quan và đạo đức nho giáo từ người anh cùng cha khác mẹ này.
Ngoài ra còn một nhân tố cũng có ảnh hưởng lớn đến Tản Đà nữa đó là
người anh rể Nguyễn Thiện Kế, là một nhà thơ trào phúng đương thời, Tản Đà có
những bài thơ châm biếm, đã kích độc đáo trong sáng tác của mình có lẽ cũng có
phần nào ảnh hưởng tư nhà thơ trào phúng này.
Yếu tố gia đình đã góp phần tạo nên hồn thơ Tản Đà, đó là yếu tố đầu tiên
tác động đến sự nghiệp sáng tác của ông và là tiền đề để tạo nên một Tản Đà của
nền văn học Việt Nam sau này.

2.1.2. Xã hội:
Tản Đà sinh ra và lớn lên trong bối cảnh xã hội thực dân Pháp đã đánh
chiếm nước ta, chúng dẹp yên phong trào Cần Vương đặt bộ máy cai trị và đàn áp
nhân dân biến nước ta thành đất phong kiến nửa thuộc địa.
Lúc này trong xã hội xuất hiện 2 nền giáo dục: Phương Đông – Phương
Tây, vốn từ nhỏ đã được tiếp xúc với nền văn hóa Phương Đông nhưng lớn lên lại
học ở các trường Thông Ngôn, Hậu Bỗ tiếp xúc với nguồn tư tưởng mới, nên thơ
của Tản Đà vừa chứa đựng những tinh hoa của dân tộc vừa có những nét mới so
với các nhà nho Xưa. Nhưng ở đây cái mới sinh ra dựa trên nền tảng của cái cũ,
cái cũ và cái mới có sự đan xen, hòa quyện vào nhau tạo nên một phong cách hết

Cô ơi, cô đẹp nhất đời
Mà cô mệnh bạc, thợ trời cũng thua
Một đi từ biệt cung vua
Có về đâu nửa đất về ngàn năm

Sau đó Nguyễn Thiện Kế đưa Tản Đà về Nam Định. Đến năm 27 tuổi Tản
Đà lấy vợ là bà Nguyễn Thi Tùng con gái ông tri huyện Nguyễn Mạnh Hướng và
có bài in trên Đông Dương tạp chí. Từ năm 28 tuổi ông lấy búp danh là Tản Đà và
có những tác phẩm viết trên Đông Dương tạp chí: Giấc mộng con I, Tây Thi, Khối
Tình Con I, Dương Quý Phi…. Các sáng tác của ông bắt đầu trở nên phong phú và
đa dạng: thơ, truyện, tuồng… Các sáng tác của Tản Đà mang cả những nét truyền
thống và cả những nét cách tân mới mẽ phong phú về cả nội dung lẫn hình thức.
14


Thơ của Tản Đà rất phong phú ông làm những thể thơ đường luật, yết hậu,
lục bát cho đến từ khúc… Thể hiện những tâm tư tình cảm của mình. Từ những
vần thơ thể hiện sự chán đời, muốn thoát ly muốn thoát khỏi trần ai cho đến những
vần thơ nói về những sinh hoạt bình dị của con người đều mang một phong cách
hết sức độc đáo.
Cuộc sống nghèo túng khiến Tản Đà phải thường xuyên vào Nam ra Bắc,
nhưng đó cũng là cơ hội để Tản Đà mở rộng hiểu biết và có những đề tài phong
phú góp phần làm bền vững hồn thơ của bản thân mình.
Bên cạnh việc thừa kế những cảm hứng truyền thống của văn nôm ông còn
sớm đón nhận luồng gió từ phương tây thổi sang, với những tư tưởng mới tạo cho
thơ của Tản Đà có sự đan xen giữa cái cũ và cái mới.
Tản Đà đã từng chủ trương “phá cách vứt điều luật” nên thơ ông có những
cách tân mới mẻ vượt ra khỏi khuôn khổ phép tắt của nho gia. Ông được xem là
người thi sĩ đầu tiên mở đầu cho nền thơ văn hiện đại và là gạch nối của nền thơ
ca trung đại và thơ mới.

Mây trùn non Tản cái diều bay
Thiên nhiên đưa vào trong thơ là một hình ảnh quen thuộc mà các nhà thơ
trung đại thường đưa vào các sang tác của mình, nhưng có lẽ chưa có ai khai thác
đến những vẻ đẹp đơn sơ nhỏ bé như Tản Đà: đó là “con cá nhãy”, “ cánh diều
bay”, những dãy núi con song của quê hương đất nước:
Ba Vì ở trước mặt
Hắc Giang bên cạnh nhà
Tản Đà!

Tình yêu quê hương, đất nước của Tản Đà là thế, ông lúc nào cũng muốn
vào quê hương xứ sở, quê hương đất nước giống như một phần máu thịt của ông.
Cũng chính vì lòng thiết tha vời non sông nước Việt đã khiến Tản Đà luôn lo toan,
thắc mắc về tình trạng lạc hậu của nước nhà:
Tính năm sinh đã bốn nghìn dư
Bước tiến hoá lừ đừ sau mọi kẻ!
(bài hát chúc báo sống)
16


Dân hai nhăm triệu ai người lớn!
Đất bốn nghìn năm vẫn trẻ con
(Mậu thìn xuân cảm)

Đất nước với bốn nghìn năm lịch sử song “vẫn trẻ con” Tản Đà đặt ra câu
hỏi trong số hai nhăm triệu dân ai mới thật sự là người đủ năng lực để để đứng ra
cứu nước cứu dân, ai mới thật sự là người lớn. Cũng chính vì sự thắc mắc lo toan
ấy Tản Đà đã nhận ra “ bước tiến háo lừ đừ sau mọi kẻ”, theo Tản Đà những nước
có nền kinh tế phát triển và trình độ khoa học tiên tiến thì đất nước mới thật sự
phồn vinh vì thế ông không thể thờ ơ trước cảnh lạc hậu xã hội Việt Nam lúc bấy
giờ, ông luôn mang trong long một nỗi lo đời:

Phong cảnh không khác tình khác xa.

Cũng giống như các nhà Nho xưa Tản Đà cũng lấy những hình ảnh ẩn dụ
để bộc lộ tư tưởng yêu nước thầm kín, thông qua hình ảnh “con cuốc” và “ con
chẫu chuộc”ông đã thể hiện sự khinh ghét đối với bọn bán nước hại dân và đồng
thời cũng bộc lộ tư tưởng hoài cổ của mình. Ông ca tụng những anh hung chống
giặc ngoại xâm của đất nước một cách đầy cảm kích:
Liều gan cố chết bấy nhiêu phen
Các vị tướng thần ai bậc nhất
Ông Nguyễn Cảnh Dị bố là Chân
Cùng ông Đặng Dung bố là Tất

Quân cơ sau trước nối thay nhau
Hai bố, hai con dạ một sắt
Khí thiêng đúc lại bốn anh hào
Nghìn thu thơm để nước Nam Việt.
( đời hậu trần)
Những quá khứ vàng son là thế một thời hào hùng của ông cha với những
vị “tướng thần” xông pha liều chết để giữ gìn hoà bình cho đất nước. Nhưng giờ

18


đây đất nước mà cha ông gìn giữ lại rơi vào tay giặc, Tản Đà chỉ còn biết ngậm
ngùi tưởng nhớ đến vỏ công hiển hách của tổ tiên xưa:
Ôi! Lý Trần Lê đâu mất cã
Mà thấy hưu nai đủng đỉnh chơi
Riêng đối với những người phụ nữ cóa công lớn trong lịch sử chống ngoại
xâm như Trưng Trắc, Trưng Nhị, Triệu Thị Trinh…Tản Đà càng tỏ lòng cảm phục
có lần nói đến Hai Bà Trưng Tản Đà dùng một giọng văn rất đặc biệt thoáng nghe

ở chổ ông có một nhân sinh quan bao hàm nhiều nhân tố tích cực – một nhân sinh
quan mang màu sắc ý thức hệ tư sản, điều đó được thể hiện cụ thể trong bài “ thơ
mừng tết”:
Ta mừng những ai nhà tư bản
Của một lên trăm, trăm gấp vạn
Công an công ích giúp đồng ban
Trọng nghĩa khinh tài lòng cộng sản
Hay:
Hỏi thăm Âu, Mỹ đâu bờ bến
Mở máy quay guồng quá độ chơi

Ông chủ trương kiến thiết đất nước bằng con đường tư sản hóa, học tập
những tư tưởng , phương thức sản xuất và kỉ thuật của phương tây, cái gọi là: “hỏi
thăm Âu, Mỹ đâu bờ bến” cũng nhằm mục đích này. Cũng chính vì mang tư tưởng
muốn kiến thiết đất nước theo con đường tư bản nên đối với các bậc tài danh
phương Tây ông tỏ thái độ rất ngưỡng mộ:
Ngồi buồn ta nhớ ông Lư Thoa,
Dân ước nhân quyền ông xướng ra,
Ông sinh thế kỉ thứ 17
Hai trăm năm nay, đời đã qua,

…………………………………..

Mưa sa gió táp ông không quản,
20


Ông đứng lo đời còn lâu xa,
Nhớ ông bao nhiêu kính lại mến,
Học trò xin có bài thơ ca.

thầm kín, lòng căm thù giặc hay ca ngợi những trang sử vẻ vang của dân tộc, Tản
Đà còn bộc lộ một tư tưởng tiến bộ đó là tư tưởng ý thức hệ tư sản, kiến thiết đất
nước theo con đường phát triển khoa học kỉ thuật, chính điều đó đã tạo nên một
Tản Đà rất riêng, rất đặc biệt khác hẳn so với các nhà thơ trung đại.

1.2. Thái độ bất hợp tác với giặc:
Đầu tiên khi nói về thái độ bất hợp tác với giặc trong thơ Tản Đà chính là
thái độ muốn đứng bên ngoài cuộc đời để giữ chọn cái thanh cao của mình. Đây
cũng là một đặc điểm thường thấy ở các nhà thơ trung đại: Nguyễn Trãi, người có
nhân cách cao thuợng đã từng tự hào về những năm tháng làm quan thanh liêm
của mình:
Nhất phiến đan tâm châu hồn hoả
Thập niên thanh chức ngọc hồ băng

Và ông cũng luôn ý thức bảo vệ cái nhân cách trong sang ấy của mình,
chống lại mọi cám dỗ của cuộc sống:
Ngọc lành nào có tơ vết
Vàng thực âu chi lửa thiêu

Tản Đà cũng vậy mang tư tuởng của các nhà nho xưa ông coi trọng cái đạo
đức, thanh cao của mình và ông luôn tự hào về điều đó:
Sông Đà núi Tản đúc nên ai
Trần thế xưa nay đuợc mấy nguời
Trung hiếu vẹn tròn hai khối ngọc
Thanh cao phô trắng một nhành mai
(Thơ Tự Vịnh)

22





Mơ màn đâu đó bao dân chúng
Tô điểm nào ai nuối với sông!
Đốt đứôc đố ai tìm khắp nuớc
Tìm đâu cho thấy mặt anh hung
(Đêm Tối)

Cảnh đêm tối trong bài thơ cũng giống như tình cảnh đất nước lúc bấy giờ,
nhà thơ muốn tìm một nguời “tri kỷ” đáng mặt anh hùng để cùng ông giúp nuớc,
giúp đời. Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản về thái độ bất hợp tác với giặc của
Tản Đà so với các nhà thơ trung đại. Nếu như các nhà thơ trung đại chỉ thể hiện
thái độ bất hợp tác với giặc là đứng bên ngoài cuộc đời để giữ trọn cái thanh cao,
thì ở Tản Đà lại có một định huớng khác:
Ông mong muốn tìm gặp một nguời “đồng chí” để cùng ông thực hiện việc
quốc sự trọng đại.
Tuy nhiên, trong tám năm Tản Đà vẫn không gặp đuợc nguời “tri kỷ” ông
viết hết “thư gửi ngưòi tình nhân có quen biết” rồi đến “nguời tình nhân không
quen biết” nhưng nguời “đồng chí” mà ông hằng mong đợi vẫn “bật vô âm tín”:
Ngồi buồn ta lại viết thư chơi
Viết bức thư này gởi trách ai
Non nuớc bấy lâu lòng tuởng nhớ
Mà ai tri kỷ vắng tăm hơi
(Thư trách người tình nhân không quen biết)

Tóm lại: khi đọc thơ Tản Đà tuy lòng yêu nuớc còn mơ hồ thiếu tính chiến
đấu mạnh mẽ nhưng ta luôn bắt gặp một tình cảm thiết tha với tổ quốc ông đã
đứng bên ngoài cuộc đời để giữ trọn cái khí tiết thanh cao của bản thân mình, ông
mỉa mai những bọn bán nuớc hại dân, khơi dậy tinh thần dân tộc thông qua các
trang sử vẻ vang và đặc biệt luôn luôn lúc nào ông cũng muốn tìm một nguời

Vâng, “một chữ tình” đã làm nên cả một hồn thơ dào dạt có đôi lúc hân
hoan, yêu đời nhưng có đôi lúc lại ẩn chứa cả một nổi u buồn, đau đớn tình đầu tan
vỡ đã để lại một dấu ấn khó phai trong long Tản Đà, tuy nhiên nó cũng tạo ra
25


Trích đoạn Thoát ly vào giấc mộng Thoát ly bằng con đường hành lạc về bọn quan lại đương thời Vần trong thơ trường thiên Thơ bát cú và tứ tuyệt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status