TRƯỜN G ĐẠ I HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ H ỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
Sinh viên thực hiện
TRẦN BẢO YẾN
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
TRONG TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN THI
(ĐIỂM B)
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: TRẦN VĂN MINH
Cần Thơ, 04/2011
Trang 1
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Đối tượng – Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: VÀI NÉT VỀ NHÀ VĂN NGUYỄN THI
3.2 Miêu tả sinh động thế giới nội tâm của nhân vật.
4. Nghệ thuật xây dựng tính cách điển hình của nhân vật
4.1 Người nông dân Nam bộ nói chung.
4.2 Người phụ nữ Nam bộ.
4.3 Những nhân vật trẻ thơ.
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước yên bình không còn khói lửa chiến
tranh, nhưng ít nhiều gì trong mỗi chúng ta đều hiểu được rằng muốn có được một
ngày như hôm nay ông cha đã đổ biết bao mồ hôi nước mắt và cả xương máu xuống
đất nước này. Lớp người đi sau như chúng ta muốn biết được những vất vả hy sinh ấy
chỉ có thể tìm trong những trang sử của dân tộc, nhưng chỉ đọc trong những trang sử
ấy liệu có thấy lại đầy đủ tất cả quá khứ đấu tranh khốc liệt mà hào hùng của ông cha
ta? Đọc những trang văn của Nguyên Ngọc, Phan Tứ hay của Nguyễn Minh Châu…
không chỉ cho chúng ta những bức tranh toàn vẹn về cuộc chiến mà còn cho chúng ta
biết nhiều hơn thế nữa, đó là những con người sống chiến đấu trong chiến tranh, những
con người với đầy đủ tâm trạng, đầy đủ mọi khuôn mặt. Trong những nhà văn viết về
chiến tranh, về người chiến sĩ thì Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn) là một tác giả tiêu
biểu.
Nguyễn Thi viết không nhiều, chỉ hơn hai mươi truyện ngắn cùng vài tiểu thuyết
và bút kí nhưng những gì nhà văn để lại thì không phải là nhỏ, chính những trang viết
làm cho người đọc phải xốn xang nghiền ngẫm ấy đã làm chúng ta không thể nào quên
được. Đọc tác phẩm của Nguyễn Thi ta bắt gặp lối văn kể chuyện cô đọng duyên dáng,
điểm qua về cuộc đời sự nghiêp của nhà văn, trong đó tác giả đã có những nhận xét về
sức sống của những sáng tác và phong cách sáng tác của Nguyễn Thi.
Năm 1983 Nhị Ca viết quyển Gương mặt còn lại, Nguyễn Thi (Nxb Tác phẩm
mới, Hà Nội – 1983) với tác phẩm khảo cứu này ông đã nhận được giải thưởng của hội
nhà văn Việt Nam. Trong công trình này Nhị Ca đã đi vào khảo cứu những tác phẩm
tiêu biểu còn lại của nhà văn.
Sau này trong quyển Dọc đường văn học (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội –
1997) Nhị Ca cũng có viết về Nguyễn Thi, chủ yếu là viết về vai trò vá đóng góp của
Nguyễn Thi vào nền văn học Việt Nam trong giai đoạn chống Mỹ.
Trong quyển Văn học Việt Nam 1945-1975 (tập 2 , Nxb Giáo dục, Hà Nội –
1990) do Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên cũng có viết sơ lược về cuộc đời, sự nghiệp và
giới thiệu về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Thi qua một số tác phẩm cụ thể.
Nhân kỉ niệm 70 năm ngày sinh, 30 năm ngày mất của Nguyễn Thi, Nguyễn
Trọng Oánh đã có bài viết để tưởng nhớ đến nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi,
con người và sự nghiệp (Báo Văn Nghệ Quân đội số 5-1998). Cũng như những công
trình trước, Nguyễn Trọng Oánh viết về những đặc điểm nổi bật của con người và quá
Trang 5
trình sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Thi. Viết về con người Nguyễn Thi, Nguyễn
Trọng Oánh có viết: “Im lặng là một nét đặc biệt của Nguyễn Thi; im lặng mà viết, im
lặng mà đọc sách, im lặng mà quan sát, im lặng mà suy nghĩ, im lặng đễ nói rất ít về
mình” [12;2]
Tôn Phương Lan trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 1.2009 đã có bài viết - Nhà
văn - Liệt sĩ Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi. Ở bài viết này Tôn Phương Lan cũng đi
vào giới thiệu những nét chính về sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Thi, qua những tác
phẩm tiêu biểu. Trong đó, người viết cũng có những nhận xét về việc xây dựng nhân
vật trong tác phẩm Nguyễn Thi: “Đặc sắc của ngòi bút Nguyễn Thi được thể hiện trong
việc cho người đọc nhận diện nhân vật qua thần sắc dung mạo, qua ngôn ngữ và thái độ
giao tiếp.” [8;6]
thời kỳ này chủ yếu phát triển theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, tập
trung ca ngợi cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam và công cuộc xây dựng Chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Tuy cũng với những
khuynh hướng ấy, nhưng mỗi nhà văn lại có một giọng điệu, một lối viết riêng và vì
thế mỗi nhà văn đều có cái hay riêng. Ở đề tài này chúng tôi đi vào nghiên cứu toàn bộ
sáng tác của Nguyễn Thi nói chung và quan trọng là đi sâu vào khai thác những
phương diện nghệ thuật đặc sắc mà nhà văn đã sử dụng để xây dựng thành công những
nhân vật trong tác phẩm của mình.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi đã tập trung sử dụng tất cả những phương pháp được
học tập từ trước đến nay nhằm bắt tay vào việc nghiên cứu, lí giải làm sáng tỏ vấn đề.
Trong đó có những phương pháp cụ thể sau đây:
Phương pháp miêu tả.
Phương pháp thống kê.
Phương pháp hệ thống.
Phương pháp so sánh.
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các thao tác tư duy như giải thích, chứng minh,
bình luận, phân tích, khái quát, tổng hợp, những thao tác này cũng được sử dụng ở
mức độ hợp lí.
Trang 7
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: VÀI NÉT VỀ NHÀ VĂN NGUYỄN THI
1.
Sự nghiệp sáng tác
tuổi ông tham gia cách mạng. Với lòng nhiệt huyết tuổi trẻ, Nguyễn Thi đã tích cực
hoạt động và chọn cách mạng làm con đường “chân lí” của mình trong cuộc sống và
cả trong văn chương. Nguyễn Thi còn là đội viên đội cảm tử quân Nguyễn Bình với
những trận đánh sôi nổi, dũng cảm của những ngày đầu kháng chiến. Năm 19 tuổi khi
đã trải qua những thực tiễn chiến đấu, đã rèn luyện cho mình về lý tưởng về mục đích
sống và chiến đấu - Nguyễn Thi được chính thức kết nạp Đảng vào ngày 25-9-1947.
Con người Nguyễn Thi tính tình nóng nảy, nhưng làm việc lại rất tập trung và cật
lực. Ông là một nhà văn có ý thức trách nhiệm rất cao đối với ngòi bút của mình.
Nguyễn Thi bước đầu rèn luyện ngòi bút của mình bằng thói quen ghi chép. Chính thói
quen ấy đã tập cho Nguyễn Thi khả năng quan sát và ghi nhận, biết lắng nghe và biết
nhìn vấn đề bằng nhiều góc độ khác nhau.
Nguyễn Thi vào nghề bằng bút danh đầu tiên là Nguyễn Ngọc Tấn với tập thơ
Hương đồng nội, tập thơ gồm 20 bài. Một nhà văn trước khi thành công trong sự
nghiệp cũng thường thử bút trên một vài thể loại, như Nguyễn Tuân trước khi thành
công với thể tùy bút thì cũng đã từng thử bút qua các thể loại như thơ, truyện ngắn…
Tuy không mấy thành công, và không gây tiếng vang lớn nhưng qua tập thơ, bạn đọc
cũng đã có cái nhìn ban đầu về Nguyễn Ngọc Tấn, một nhà văn có tâm hồn trong sáng,
có cái nhìn đôn hậu.
Năm 1953, Nguyễn Ngọc Tấn cưới vợ là một diễn viên văn công ở Sài Gòn. Sau
đó ông tập kết ra Bắc và công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội, để lại người vợ trẻ
đang mang thai. Trong thời gian này Nguyễn Ngọc Tấn dành nhiều thời gian cho việc
làm báo, đi thực tế đến các cơ sở, đơn vị vừa mới được xây dựng trong bước đầu miền
Bắc đi lên Chủ nghĩa xã hội. Thời kỳ này ông rất vất vả, vừa học tập,vừa công tác, vừa
viết văn.
Tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Ngọc Tấn ở miền Bắc là hai tập truyện ngắn
Trăng sáng (1960) và Đôi bạn (1962) mỗi tập truyện gồm 7 truyện ngắn. Hai tập
truyện tập trung vào 3 mảng đề tài khá quen thuộc lúc bấy giờ: Tấm lòng Nam - Bắc
trong chia cắt, tình nghĩa quân dân và tội ác của Mỹ Ngụy. Mặc dù tập trung thể hiện
những đề tài lớn của dân tộc nhưng truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tấn trong giai đoạn
này vẫn chưa bao quát được hết vấn đề lớn lao của lịch sử. Có lẽ nhà văn chưa có ý
trong kén để chuẩn bị nhả ra những sợi tơ lóng lánh cho đời.
Nguyễn Ngọc Tấn bắt đầu cho giai đoạn sáng tác mới này bằng bút danh mới –
Nguyễn Thi (bút danh là tên của đứa con trai đang xa cách của nhà văn). Về lại Nam
bộ với tư cách là một nhà văn chuyên nghiệp, những trang viết của Nguyễn Thi trở nên
có ý nghĩa hơn, trưởng thành hơn. Với hoài vọng sẽ viết thật nhiều, viết thật hay, thật
có ý nghĩa, Nguyễn Thi đã bắt đầu bằng thể ký, một thể loại có sức phản ánh nhanh,
Trang 10
nhạy hiện thực, bắt kịp sự sống đang trôi chảy từng ngày từng giờ trong cuộc chiến
đấu ở miền Nam. Nguyễn Thi viết về những anh hùng và chiến sĩ thi đua trong Đại hội
anh hùng như: Nguyễn Thị Út, Nguyễn Thị Hạnh, Phạm Văn Cội…cùng một số truyện
ngắn khác. Phần lớn những sáng tác này được tập hợp in trong tập Truyện và Ký
Nguyễn Thi (Nhà xuất bản Giải Phóng xuất bản năm 1969), đó là những trang viết hết
sức đặc sắc về Nam bộ của nhà văn và là một trong những thành tựu xuất sắc của nền
văn học Cách mạng miền Nam. Truyện và Ký Nguyễn Thi gồm 11 tác phẩm trong đó
có: 4 truyện ngắn, 1 tiểu thuyết, 2 ký, 1 ghi chép và 3 tùy bút.
Nội dung chủ yếu của tập Truyện và Ký Nguyễn Thi là thể hiện tình cảm mãnh
liệt của tác giả đối với miền Nam, vì miền Nam đã trở thành quê hương thứ hai của
Nguyễn Thi, bao nhiêu tình cảm nhớ nhung khi tập kết, bao nhiêu ý chí hướng về miền
Nam trong xa cách, cùng bao nhiêu ấp ủ hoài vọng về miền Nam bây giờ đã được
Nguyễn Thi đem vào trang viết, vào cuộc sống, và đem vào cuộc chiến với kẻ thù.
Truyện ngắn của Nguyễn Thi tuy số lượng không nhiều nhưng truyện nào cũng
có giá trị cao. Bối cảnh của truyện là làng quê Nam Bộ trong những năm tháng ngột
ngạt trước xuân Mậu Thân 1968, trong không khí ấy một khi tội ác của giặc càng
chồng chất, khi chúng gây thêm không biết bao nhiêu thảm cảnh, thì lòng căm thù và
quyết tâm trả thù ngày càng nung nấu, ngày càng bốc cao.
Một số truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn:
● Chuyện xóm tôi (1964) là truyện ngắn đầu tiên nhà văn sáng tác với bút danh
Tùy bút Nguyễn Thi thường ngắn gọn, súc tích chứ không tài hoa uyên bác như
Nguyễn Tuân, cũng không rắn rỏi hào hùng như Nguyễn Trung Thành. Câu văn bình
dị, thân mật, khiêm tốn nhưng giọng điệu lại thiết tha, và có sức vang vọng sâu xa
trong lòng người đọc.
Nội dung của những tùy bút của Nguyễn Thi là đề cập và giải quyết hàng loạt
mối quan hệ thuộc về thế giới quan, nhân sinh quan thời chiến: giữa sự sống và cái
chết, giữa cái riêng và cái chung, giữa đau khổ và hạnh phúc; thể hiện lòng yêu nước
và thủy chung của đồng bào Nam Bộ; khẳng định sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt
Nam.
Tùy bút tiêu biểu: Đại hội anh hùng, những câu nói trong đại hội, Dòng kinh quê
hương.
Bút ký tiêu biểu nhất của Nguyễn Thi là Những sự tích ở đất thép, ở tác phẩm
này Nguyễn Thi tập trung thể hiện sự bình tỉnh, gan dạ của quân dân ta ở đất thép Củ
Chi – nơi mà kẻ thù từng ngày lồng lộn tuyệt vọng vì ngày càng bị thất thế. Nhà văn
xông xáo đi tìm và thể hiện cụ thể sinh động hình ảnh nghệ thuật về người anh hùng
cách mạng, chứ không bằng lòng với những lý thuyết chung của chủ nghĩa anh hùng
lúc bấy giờ.
Về truyện ký, Nguyễn Thi có hai tác phẩm tiêu biểu:
Người mẹ cầm súng là truyện kí được Hội đồng Văn học nghệ thuật của Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam trao giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu năm
Trang 12
1960 –1965. Trong tác phẩm này Nguyễn Thi đã lý giải hai vấn đề, thứ nhất là tập
trung lý giải mối quan hệ giữa tư cách công dân với tư cách người mẹ, người vợ đó là
lý do vì sau ngay tiêu đề nhà văn đã đặt tên là Người mẹ cầm súng; thứ hai là lý giải
nguồn gốc tạo nên người anh hùng và quá trình phát triển hợp lý những tính cách anh
hùng: từ tự phát lên tự giác.
Ước mơ của đất là tác phẩm cuối cùng của Nguyễn Thi (tác phẩm còn ở dạng
bản thảo), cũng ra đời từ cảm hứng về anh hùng. Nhà văn kể về cuộc đời người nữ anh
cảm Nguyễn Thi đã trở lại viết một đề tài không mới nhưng không hề cũ, kể cả cho đến
thời điểm này. Đối với người nông dân ruộng đất vẫn là vấn đề quan trọng nhất. Cho
nên đem lại ruộng đất cho người nông dân cũng có nghĩa là Cách mạng đem lại cho họ
cuộc sống.
Sen trong đồng: là một câu chuyện dài mà Nguyễn Thi đã viết dở dang, cũng
viết về hình tượng người phụ nữ “anh hùng bất khuất” mà nhân vật chính là cô Sáu
giao liên. Từ trong mất mát, tù đày và những khắc nghiệt của hoàn cảnh, trên con
đường gian khổ tìm đến với Cách mạng cô đã một lần nữa khẳng định phẩm chất của
người phụ nữ Nam bộ. Không chỉ là dừng lại ở đó mà Nguyễn Thi còn nhìn ra những
vấn đề, những mâu thuẫn nảy sinh ngay trong nội bộ, ở Sen trong đồng còn có vấn đề về
sự phản bội của những người vốn có chung một lý tưởng.
Cô gái đất Ba Dừa ở tác phẩm này Nguyễn Thi tập trung khắc họa phẩm chất
trung hậu, đảm đang của người phụ nữ Việt Nam. Tiêu biểu là nhân vật cô Ba – một
hình ảnh về cô gái đất Ba Dừa với vẻ đẹp của sự mạnh mẽ, năng động, tự tin. Cũng
chính bằng tính cách mạnh mẽ và tinh thần của người Đảng viên, cô đã vượt qua những
khó khăng của cuộc sống gia đình để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Tháng 5-1968 Nguyễn Thi hy sinh trong đợt tổng tiến công Mậu Thân. Nhà văn
đã chiến đấu như một người chiến sĩ thực thụ, với khẩu súng trên tay Nguyễn Thi đã
bắn đến viên đạn cuối cùng.
Mặc dù hy sinh ở tuổi bốn mươi, khi đang tha thiết ra sức cống hiến cho cuộc
đời, nhưng Nguyễn Thi cũng đã kịp để lại cho đời cả một kho tàng văn học có giá trị.
Truyện và ký của Nguyễn Thi là bản án đanh thép tố cáo tội ác của kẻ thù, và cũng đã
khắc họa được chân dung của những người nông dân Nam bộ, đó là hình ảnh của
những anh hùng áo vải vừa mang nét dân tộc nhưng cũng vừa có những nét hiện đại
rất riêng, rất độc đáo và rất Nam bộ.
Nhìn chung cuộc đời cầm bút của Nguyễn Thi không lâu, ông viết cũng không
nhiều, nhưng bằng cả cuộc đời bằng cả tâm huyết và sự vươn lên không ngừng nghỉ,
những di sản của ông để lại đã khẳng định vị trí của mình trong lòng dân tộc, đó là
những đóng góp quí báu cho thời đại, cho công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất
đất nước.
chuyện con sông nào ở nước ta cũng đẹp, lắm nước bạc, nhiều phù sa, vườn ruộng mát
mẻ cũng sinh ra từ đó, lòng tốt con người cũng sinh ra từ đó. Trăm sông đổ về một
biển, con sông của gia đình ta cũng chảy về biển, mà biển thì rộng lắm, chị em Việt
lớn lên rồi sẽ biết, rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta” (Những đứa con trong
gia đình)
Trang 15
Cũng như nhà văn Nam cao, Nguyễn Thi tâm niệm “Sống đã, rồi hãy viết”,
Nguyễn Thi đi nhiều nơi, sống trong nhiều hoàn cảnh và tập thích nghi với mọi thứ,
nhà văn đã viết bằng tất cả vốn sống của mình, vì thế những tác phẩm Nguyễn Thi
luôn đi sâu, đi sát vào từng ngõ ngách tâm hồn, con người và cả quê hương Nam bộ dù
rằng gốc gác ông không phải nơi đây. Nguyễn Thi đã khắc họa được bức tranh nông
thôn Nam bộ sinh động, chân thực đến bất ngờ, như những gì mà nhân vật chú Năm
ghi lại trong cuốn sổ gia đình của chị em Việt: “Thím Năm bơi xuồng đi rọc lá chuối
bị ca-nông Mỏ Cày bắn bể xuồng chết còn mặc cái quần mới, trong tuối còn hai đồng
bạc… Ông nội nghe súng nổ, sợ bò đứt dây ra nắm giàm bò, lính Tổng phòng vào nói:
“mày là du kích!” rồi bắn giữa bụng ông nội, giỗ nhằm ngày…” (Những đứa con trong
gia đình); hay cách so sánh mang nhiều hình tượng “Cái việc sữa lại hầm nó cũng gấp
như rượt bò ăn mạ vậy” (Chuyện xóm tôi).
Nguyễn Thi có sở trường về phân tích tâm lý, nội tâm nhân vật. Mỗi nhân vật
trong tác phẩm của ông mang một thế giới nội tâm mênh mông, hấp dẫn người đọc.
Tính cách nhân vật được Nguyễn Thi khắc họa phong phú khi được đặc trong nhiều
mối quan hệ phức tạp giữa địch và ta, bạn bè, làng sớm, vợ chồng, mẹ con… nhân vật
của Nguyễn Thi cho ta cảm giác gần gủi thân thuộc như đã từng bắt gặp từ cuộc sống
hằng ngày.
Nguyễn Thi đã sống, chiến đấu và sáng tác như một người chiến sĩ - nghệ sĩ.
Nhiều người nhận định: “Nguyễn Thi làm thơ, viết ký và truyện. Trong kháng chiến,
khi cần, ông sáng tác ca dao, diễn ca, viết bài hát, vẽ tranh minh họa... Thơ ông giản
dị, đậm đà chất dân tộc và có tình. Với văn xuôi, Nguyễn Thi đã hình thành một phong
trong quá trình giao tiếp.
Nhân vật là phương tiện khái quát hiện thực. Qua nhân vật nhà văn muốn phản
ánh đời sống. Chức năng của nhân vật là khái quát quy luật cuộc sống con người,
những suy nghĩ, ước ao, kì vọng của con người cho nên nhà văn xây dựng nhân vật là
thể hiện những cá nhân nhất định và quan niệm đánh giá về cá nhân đó.
Nhân vật là phương tiện khái quát tính cách số phận con người (tính cách nhân
vật là một hiện tượng xã hội lịch sử xuất hiện trong một hiện thực khách quan) qua đó
Trang 17
nhân vật dẫn dắt ta đến với đời sống xã hội. Những nhân vật mang tầm khái quát luôn
nổi bật những tính cách có ý nghĩa phổ biến sâu xa sẽ là những nhân vật điển hình.
Thông qua nhân vật tác giả còn muốn thể hiện quan niệm tư tưởng của mình về
cuộc đời. Vì nhân vật không phải là con người thật nên không thể phán xét nó ở ngoài
đờì mà phải đặt trong mối quan hệ tình huống truyện và ý đồ của nhà văn.
Tóm lại nhân vật văn học là một hình thức khái quát đời sống, vì vậy khi đọc tác
phẩm cần tìm hiểu hết nội dung đời sống và nội dung tư tưởng được nhà văn thể hiện
trong nhân vật. Nói cho cùng “Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang
tính ướt lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết, biểu hiện của con người
mà chỉ là sự thể hiện con người qua đặc điểm điển hình” [13;126].
1.2 Các loại nhân vật văn học.
Căn cứ vào vai trò của nhân vật trong triển khai cốt truyện, có các loại nhân vật:
Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ đạo xuất hiện nhiều trong tác phẩm, trong
câu chuyện liên quan đến các sự kiện chủ yếu của tác phẩm là cơ sở để tác giả triển
khai đề tài của mình; còn nhân vật trung tâm là các nhân vật xuất hiện từ đầu đến cuối
tác phẩm về mặt ý nghĩa nơi quy tụ mọi mâu thuẫn của tác phẩm thể hiện vấn đề trung
tâm của tác phẩm ấy; cuối cùng là nhân vật phụ: đó là những nhân vật thể hiện tính
cách hoặc chỉ thấp thoáng trong tác phẩm để làm nổi bật nhân vật chính.
Căn cứ vào phương diện hệ tư tưởng, về quan hệ đối với lí tưởng có thể chia nhân
tiêu biểu nhất để khắc hoạ ngoại hình của nhân vật. Những nét có ý nghĩa nhất của một
ngoại hình chính là những nét đạt giá trị điển hình.
Thứ hai là sử dụng biện pháp miêu tả nội tâm của nhân vật. Nhà văn đi sâu vào
miêu tả, thể hiện những tâm trạng, những suy nghĩ, những phản ứng tâm lý của bản
thân nhân vật trước những cảnh ngộ, những tình huống mà nhân vật chứng kiến, thể
nghiệm trên bước đường đời của mình. Các chi tiết thường dừng lại ở những suy tư,
dằn vặt, những cảm xúc, xúc động của nhân vật trong tác phẩm. Nội tâm nhân vật còn
được thể hiện qua những mâu thuẫn, xung đột, sự kiện. Các mâu thuẫn, xung đột bao
giờ cũng có tác dụng làm bộc lộ phần sâu kín nhất của bản chất nhân vật. Đặc biệt việc
sử dụng hình thức độc thoại nội tâm là môt bước sáng tạo lớn của các nhà văn.
Thứ ba là sử dụng ngôn ngữ nhân vật. Miêu tả, thể hiện ngôn ngữ nhân vật là
miêu tả “lời ăn tiếng nói” của nhân vật. Qua lời nói của nhân vật còn thể hiện phẩm
chất và tính cách, về thành phần xuất thân, về nét độc đáo của tầng lớp xã hội mà nó
đại diện cùng toàn bộ cách nhìn nhận, cảm thụ thế giới của tầng lớp của nhân vật. Biện
pháp này góp phần quan trọng trong việc cá biệt hoá nhân vật, mỗi nhân vật có tính
cách riêng sẽ có một ngôn ngữ rất riêng của chính nhân vật đó.
Thứ tư là nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật. Hành động nhân vật là những
việc làm cụ thể của nhân vật trong các tình huống đời sống và trong các quan hệ ứng
xử. Thông qua hành động mà tính cách nhân vật được thể hiện rõ nét. Cũng nhờ hành
Trang 19
động mà tiến trình câu chuyện được đẩy tới, cốt truyện có được sự hoàn chỉnh theo ý
muốn của nhà văn. Đây là những lý do quan trọng khiến cho tác giả luôn ưu tiên cho
việc miêu tả hành động.
Việc miêu tả hành động của nhân vật được thể hiện qua ngôn ngữ người kể chuyện
hoặc qua ngôn ngữ của các nhân vật khác. Đáng chú ý là hành động nhân vật phải
được miêu tả một cách nhất quán.
Và cuối cùng là miêu tả tâm lý và tính cách nhân vật. Tâm lý và tính cách có khả
năng thể hiện rõ sự độc lập về nhân cách của các nhân vật được nhà văn miêu tả trong
những chiến sĩ có lòng yêu nước, có tinh thần cách mạng. Cũng trên lập trường ấy
Nguyễn Thi đã xây dựng thành công nhân vật chính diện của mình là những con người
cách mạng – những con người luôn hành động theo tiếng gọi của quê hương đất nước,
phẩm chất của họ mang khí phách anh hùng. Anh hùng trong tác phẩm Nguyễn Thi là
những con người dung dị, bình thường trong cuộc sống. Đó là cả một thế giới trẻ con,
là những người mẹ, người chị, những ông bà nội ngoại, những chú, những cô nghe như
rất thân thuộc với mỗi con người Nam bộ chúng ta.
Trong hệ thống nhân vật của Nguyễn Thi ta bắt gặp đâu đó thấp thoáng hình ảnh
quen thuộc của chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, một người phụ nữ đảm đang
chung thủy sắc son nhưng lại tiềm tàng một bản chất ngoan cường, một sức sống mãnh
liệt; ở đó những đứa trẻ như chị em cái Tý thông minh ngoan ngoãn, sớm vất vả nhưng
cũng sớm biết gánh bớt gánh nặng cho mẹ cha; và đâu đó thấp thoáng dáng dấp của
những bà lão nghèo tiền bạc nhưng phúc hậu hiền hòa, sẵn sàng đùm bọc, cưu mang
chở che cho cách mạng.
2.1 Nhân vật đặc sắc nhất trong tác phẩm của Nguyễn Thi là nhân vật
phụ nữ.
Trong văn học từ cổ chí kim, hình ảnh người phụ nữ cũng đã được nhắc đến rất
nhiều từ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du đến Ngô Tất Tố, Nguyễn Minh Châu… Đến
Nguyễn Thi thì hình ảnh người phụ nữ xuất hiện với tầng số đậm đặc hơn so với các
tác phẩm của nhà văn khác. Mỗi tác phẩm của Nguyễn Thi hầu hết đều có hình ảnh
người phụ nữ xuất hiện, bằng những vai khác nhau như: người bà, người mẹ, người
vợ, người chị…mỗi người mang một dáng dấp, một tính cách riêng biệt làm nên một
hệ thống nhân vật phụ nữ phong phú đa dạng. Mặc dù có những nét riêng khác biệt
nhưng đặc điểm chung của những người phụ nữ trong tác phẩm Nguyễn Thi là họ là
những nạn nhân của chiến tranh, là những người mẹ, người vợ mòn mỏi đợi con, chờ
chồng. Đó là hình ảnh của người vợ bên bờ Bắc luôn mong mỏi chờ chồng với niềm
tin mãnh liệt, có một mụn con để nâng niu yêu thương, để rồi phải đau xé lòng nhìn nó
ra đi một cách quá dễ dàng trong câu chuyện của hai người phụ nữ không có tên riêng
mà nhân vật “tôi” nghe được một cách tình cờ trên một chuyến xe khách từ Hà Nội
trí đứng lên như lời má Việt nói: “Tao dạn là nhờ ba mày. Ba mày bị Tây nó chặt đầu,
tao cứ đi theo cái thằng xách đầu mà đòi. Đi từ ấp trong tới ấp ngoài, nó qua sông tao
cũng qua, nó về quận tao cũng tới” nỗi đau đớn, căm thù của người vợ mất chồng đã
lớn hơn sự mềm yếu, sợ sệt của một người đàn bà. Rồi từ đó người phụ nữ ấy lao vào
công tác đấu tranh, có lẽ bà tham gia vào cuộc chiến cho mình và cho cả người chồng
Trang 22
đã khuất của mình. Lại một hình ảnh nữa của người phụ nữ kiên cường, bất khuất đó là
chị Út Tịch, lúc còn nhỏ phải đi ở đợ cho nhà địa chủ nhưng không chịu được đòn roi
của sự bất công chị đã đánh lại bọn địa chủ rồi đi theo cách mạng. Ở chị có đầy đủ là
phẩm chất của một con người không chịu sống trong áp bức, luôn muốn vươn lên phá
bỏ những kìm kẹp, gông xiềng. Với bản tính như vậy cho nên chị đã đến với cách
mạng một cách tự giác và con đường từ một phụ nữ yêu nước bình thường để trở
thành một người nổi tiếng về tài đánh giặc với tư tưởng “còn cái lai quần cũng đánh”
cũng không có gì để khó lí giải. Cuộc sống đã rèn cho chị sự gan lì của những ngày
tháng đói khổ và sự gan dạ ấy lại giúp chị giành được nhiều chiến công trong chiến
đấu.
Nguyễn Thi đã nâng hình ảnh người phụ nữ Nam bộ lên trở thành hình tượng con
người anh hùng, những nữ anh hùng ấy là những con người có thật của miền Nam, là
những anh hùng gần gũi quen thuộc, bình dị mà phi thường. Đó là những anh hùng
trong đội quân áo vải của miền quê, một nữ anh hùng Quân giải phóng miền Nam –
Nguyễn Thị Út gần gũi, thân thuộc với người dân Nam bộ, chị chân phương như bản
tính vốn có của người con miền Nam khi phát biểu “Đánh Tây sướng bằng tiên chứ
cực gì”; người con gái anh hùng của vùng Tháp Mười – Nguyễn Thị Hạnh, chị xin
được ở lại vùng đất nhỏ hẹp đầy giặc để sống và chiến đấu, để phá cho bằng được ấp
chiến lược. Chị như người cầm ngọn đuốc cách mạng để nhen lên ánh lửa sâu xa nhất
trong lòng bà con nơi đây. Giặc lùng bắt chị ráo riết, chị vẫn đứng sừng sững trước
mặt chúng như một lời thách thức. Chủ nghĩa anh hùng của Nguyễn Thi không xa vời,
không kiểu cách mà nó bình dị như chính phong cách của nhà văn.
làm hại ai cũng không phiền toái đến ai nhưng sự hồn nhiên vô tư ấy đối với bọn giặc
lại trở thành một cái tội lớn. Trên con đường ấy, có một lô cốt và trên lô cốt có hai tên
lính ngụy gác cố định với biệt tài bắn thật chính xác. Hai tên lính ấy suýt bị mất đồ
nghề (ngón tay bóp cò súng của chúng) vì tranh nhau bắn hoa cho cô bé nhặt. Và bàn
chân phải, bàn chân hay nhảy chân sáo của cô bé bị chúng đem ra làm mục tiêu bắn để
chứng tỏ tài năng của chúng và để tên đồn trưởng thấy rằng chúng đã giác ngộ lỗi lầm
của mình. Chúng bắn cô bé, chúng biến cô bé đáng yêu mà hằng ngày chúng thích thú
ngắm nhìn thành một người tàn tật. Chúng bắn được bàn chân của cô, nhưng chúng
không thể hủy diệt được tâm hồn trong sáng của cô, chúng càng không thể làm hại đến
cái đẹp của cô bé, cái đẹp mà chúng suýt mất nghề vì nó: “Một sắc đẹp được giấu diếm
ở nụ cười, giọng nói nó bắt buộc những người tiếp xúc phải đối đãi bằng sự thân ái và
lòng chân thực”. (Hai cha con người chính ủy)
Nỗi đau đớn mất mát mà chiến tranh gây ra cho những đứa trẻ thơ ngây vô tội
còn là cái chết của những đứa trẻ tội nghiệp trong câu chuyện của người đàn bà mất
con trong truyện ngắn Quê hương. Cái chết của đứa bé thoạt nghe như vô duyên vô
cớ, nhưng Nguyễn Thi không viết những gì vô cớ, càng không viết những gì không có
Trang 24
mục đích. Một “con bé bụ bẫm, dễ tính” nó đáng yêu hơn đối với người mẹ vì nó
giống người ba đang ở xa của nó. Con bé chết vì những cái giật mình do tiếng súng nổ
bên bờ Nam của giặc: “Tiếng nổ như dựng đứng mọi người người ở hai bên bờ sông
dậy. Con bé chị giật mình cong người lại, khóc lặng đi”. Rồi mỗi đêm con bé cứ giật
mình liên tiếp trong từng giấc ngủ: “Cứ thế con bé héo hắt đi, xanh xao hơn cả nước da
tái xám của người mẹ. Cho tới cái ngày điều chị không dám nghĩ nó đã đến: con bé
chết!”. Cái chết của đứa con đã trở thành nỗi ám ảnh của chiến tranh trong lòng người
mẹ, đó cũng là một điển hình cho những đưa trẻ đáng thương, những nạn nhân của
chiến tranh.
Chiến tranh còn gây nên cảnh xa cha lìa mẹ cho những đứa trẻ vô tội. Trong ghi
chép Cha con cha mẹ của Nhu và Thư đều là những người hoạt động cách mạng. Mẹ