Trường đại học sư phạm hà nội 2
Khoa ngữ văn
**************
Bùi thị hồng
Nghệ thuật xây dựng nhân vật
trong tác phẩm kịch của victo
huygô
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Người hướng dẫn khoa học
ThS. Đỗ Thị Thạch
Hà nội - 2010
Bùi Thị Hồng
1
Khoa Ngữ Văn
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thế kỉ XIX đầy biến động, giữa nước Pháp - xứ sở được coi như
là nơi bắt đầu một kỉ nguyên mới của nhân loại do cuộc cách mạng tư sản,
Victo Huygô xứng đáng được tôn vinh là đứa con tinh thần của thời đại. Bước
vào văn đàn lúc mười bảy tuổi, với cuộc sống kéo dài trong hơn 80 năm đầy
ắp những biến cố sôi động, V.Huygô đã có mãnh lực thu hút áp đảo độc giả
(1831), Nhà vua vui chơi (1832), Luycrexơ Borgia (1833), Mari Tuyđo
(1833), Ănggiêlô (1835), Ruy Blas (1838), Những người Buyêcgravơ
(1843), Tuôckêmađa (1882)…
Huygô đã đổi mới kịch không chỉ về nội dung mà cả về hình thức thể
loại, đổi mới từ kịch bản đến việc dàn dựng và diễn xuất ở nhà hát. Bằng việc
phá vỡ luật Tam duy nhất của chủ nghĩa cổ điển, đưa vào sân khấu hình ảnh
“nhân vật nổi loạn”, gia tăng thêm chất bình dân trong ngôn ngữ kịch, Huygô
đã làm cho các vở kịch của mình có chỗ đứng vững chắc và gây tiếng vang
lớn trên kịch trường lúc bấy giờ. Cống hiến của Huygô ở lĩnh vực kịch đã mở
toang cánh cửa sáng tạo nghệ thuật để đến với “Nghệ thuật tự do”.
Do vậy chọn đề tài “Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm
kịch của V.Huygô” làm đối tượng nghiên cứu, chúng tôi mong muốn tìm
hiểu thấu đáo cặn kẽ hơn về một số đặc điểm nghệ thuật làm nên bút pháp
lãng mạn trong kịch Huygô. Qua đó giúp người tiếp nhận có được cái nhìn
khái quát về tác phẩm cũng như bước vào thế giới nghệ thuật tuyệt diệu của
thơ văn Huygô.
2. Lịch sử vấn đề
Thế kỷ XIX là thế kỷ mà nước Pháp có rất nhiều tài năng tỏa sáng,
trong số đó có V.Huygô. Ông là hiện thân của chủ nghĩa lãng mạn, hiện thân
của nền văn học Pháp thế kỷ XIX, hiện thân của khát vọng hòa bình và lý
tưởng tự do, bác ái của nhân loại.
Ông xuất hiện như “một ngôi sao mọc sớm và lặn muộn chân trời của
thế kỷ” [5, 475]. Mãnh liệt và cường tráng, thiên tài ấy ngay từ đầu đã khẳng
Bïi ThÞ Hång
3
Khoa Ng÷ V¨n
4
Khoa Ng÷ V¨n
đã sáng tác một khối lượng lớn các tác phẩm đủ mọi thể loại. V.Huygô là nhà
văn lãng mạn tiến bộ, là một nhà chính trị dân chủ đã hiến dâng trọn vẹn
cuộc đời cho những lý tưởng nhân đạo cao cả” [11, 120].
Lê Hồng Sâm, Phùng Văn Tửu trong cuốn “Lịch sử văn học Pháp thế
kỷ XVIII - XIX” (tập 2, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2005) đã đánh giá
V.Huygô ở nhiều mặt “V.Huygô là nguyên lão nước Pháp” đồng thời “là một
nghệ sỹ quốc hội” là “người mang trong mình dòng máu có thể gọi là bình
dân”. Vì vậy mà V.Huygô đã “khuấy lên bão tố từ đáy lọ mực” [21, 408].
Đỗ Quang Lưu - Lê Văn Khoa trong cuốn “Victo Huygô” (NXB Giáo
dục, 1978) cũng khẳng định “V.Huygô trở thành ngọn cờ đầu của trường
phái lãng mạn tiến bộ” [12, 215].
Bằng Việt trong “V.Huygô - Chân dung một thời đại” khẳng định
“V.Huygô đã sinh ra đúng thời điểm cần có. V.Huygô lại sinh ra trong một
cái nôi văn học bậc nhất Châu Âu. Và V.Huygô là tính cách Pháp đến mức
chúng ta có thể nói: Không thể hình dung nước Pháp mà không có V.Huygô”
[24, 85].
Trên đây là một số ý kiến tiêu biểu đánh giá về tác giả V.Huygô. Vẫn
còn rất nhiều ý kiến khác đánh giá cao con người, tài năng và sự nghiệp văn
chương của Huygô. Mọi nhận xét đều nhằm mục đích khẳng định và ngợi ca.
M.Gorki khẳng định: “V.Huygô là cả diễn đàn, ông gầm thét trên đỉnh
đầu thế giới như một cơn giông tố kêu gọi quyền được sống cho tất cả những
gì là cao đẹp nhất. Trong con người ông đã biết dạy cho tất cả mọi người biết
yêu cuộc đời, yêu cái đẹp, yêu sự thật, yêu nước Pháp” [11, 115].
2.2. Những ý kiến đánh giá về tác phẩm kịch của V.Huygô
trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh. Vào kịch đã thấy ngay lập tức không
khí căng thẳng, hết tình huống căng thẳng này người xem vừa cảm thấy nhẹ
nhõm thì lại thấy tình huống khác, kết thúc mỗi tình huống đều là bất ngờ”
[23, 194].
Đặng Thị Hạnh, Lê Hồng Sâm trong cuốn “Văn học lãng mạn và văn
học hiện thực phương Tây thế kỷ XIX” (NXB Đại học và THCN, 1985) lại
đề cập tới những hình tượng nhân vật trung tâm trong tác phẩm kịch và ý
Bïi ThÞ Hång
6
Khoa Ng÷ V¨n
nghĩa lớn lao của những hình tượng đó “Các nhân vật trung tâm trong các vở
kịch của ông đều thuộc tầng lớp “thấp hèn” mà đều cảm thấy mình được tạo
ra cho một sự nghiệp lớn vô tận hoặc đều là “người dân đen hào hiệp” giành
được tình yêu của các tiểu thư và phu nhân cao quý. Qua các nhân vật của
mình, V.Huygô muốn ám chỉ sự vươn lên của quần chúng trong đời sống
chính trị, xã hội của các dân tộc, mặc dù yêu cầu đòi tự do của các nhân vật
nổi loạn này chủ yếu mới chỉ giới hạn trong tự do yêu đương” [9, 165].
Nhìn chung các công trình này đã giới thiệu khá đầy đủ về cuộc đời, sự
nghiệp sáng tác của V.Huygô. Tuy nhiên, trong một số tài liệu chúng tôi bao
quát được, vấn đề “Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm kịch của
V.Huygô” chưa được nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu, và có hệ thống.
Nghiên cứu về “Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm kịch
của V.Huygô” là một đề tài khá lí thú, mới mẻ và cũng không đơn giản. Tài
liệu nghiên cứu của các tác giả kể trên là những gợi ý vô cùng quý giá giúp
chúng tôi thực hiện khóa luận này. Những ý kiến đánh giá trong các bài
- Phương pháp khảo sát, phân tích.
- Phương pháp so sánh, tổng hợp.
- Phương pháp hệ thống.
6. Đóng góp của khoá luận
Khoá luận chúng tôi lựa chọn góp phần khẳng định giá trị xuất sắc
trong kịch Huygô và những nét mới trong tác phẩm kịch của ông, góp phần
vào việc nghiên cứu giảng dạy văn học nước ngoài nói chung và Huygô nói
riêng trong nhà trường hiện nay.
7. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, nội dung
chính của khóa luận gồm 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận chung.
Chương 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm kịch của
V.Huygô.
Chương 3: Nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật kịch của
V.Huygô.
Bïi ThÞ Hång
8
Khoa Ng÷ V¨n
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Lý luận về nhân vật
1.1.1. Khái niệm về nhân vật
Nhân vật là khái niệm không chỉ dùng trong văn chương mà còn ở
nhiều lĩnh vực khác. Vì vậy, trong lịch sử nghiên cứu đã có rất nhiều khái
được thể hiện nổi bật trong tác phẩm” [5, 102].
Đối với mỗi nhân vật văn học thì tính cách được coi là đặc điểm quan
trọng nhất, “là nội dung của mọi nhân vật văn học” [13, 64]. Vì vậy, trước kia
trong một số giáo trình đã gọi nhân vật là tính cách. Ở đây cần hiểu tính cách
là những phẩm chất xã hội lịch sử của con người thể hiện qua một vài đặc
điểm cá nhân, gắn với phẩm chất tâm sinh lý của họ.
“Tính cách cũng là nhân vật nhưng là nhân vật được thể hiện với một
chất lượng tư tưởng nghệ thuật cao hơn, tuy chưa đạt đến mức độ là những
điển hình” [5,105]. Và tính cách tự nó cũng bao gồm những thuộc tính riêng
biệt độc đáo mang tính cá nhân nhưng lại mang những nét chung tiêu biểu cho
nhiều người khác trong một phạm vi nhất định. Đồng thời tính cách có một
quá trình phát triển phù hợp với logic khách quan của đời sống.
Như vậy, tính cách tiêu biểu cho nhân vật. Trong tác phẩm văn chương
có nhân vật được khắc họa tính cách ít hay nhiều nhưng cũng có những nhân
vật không được khắc họa tính cách điều này phụ thuộc vào ý đồ sáng tạo nghệ
thuật của nhà văn.
1.1.2. Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học
Chúng ta biết rằng, nhân vật là hình ảnh của con người. Khi tính cách
của nhân vật được khắc họa ở mức độ nào đó, nhân vật sẽ trở thành hình
tượng về con người. Và khi được khai thác ở mức độ điển hình về tính cách
thì lúc đó nhân vật sẽ trở thành điển hình cho con người, cho thời đại mà con
người đang sống. Nói rộng ra, văn học phản ánh đời sống bằng hình tượng,
bằng những nhân vật cụ thể. Do đó, vai trò đầu tiên, quan trọng nhất của nhân
vật là làm phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực. Văn học không thể
thiếu nhân vật bởi vì qua nhân vật nhà văn thể hiện nhận thức của mình về
con người, xã hội, lịch sử…Với những đặc điểm về số phận và tính cách của
Bïi ThÞ Hång
10
trước tới nay, các nhà nghiên cứu lí luận văn học đã chia thế giới nhân vật
Bïi ThÞ Hång
11
Khoa Ng÷ V¨n
thành các kiểu loại khác nhau để người đọc dễ tiếp nhận, dễ phân tích và
khám phá theo tiêu chí như: nội dung, cấu trúc, chức năng của nhân vật.
Thứ nhất, dựa trên vai trò của nhân vật đối với cấu trúc và cốt truyện
của tác phẩm có nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm. Nhân vật
chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều, giữ vị trí then chốt
của cốt truyện hoặc tuyến cốt truyện. Đó là con người liên quan đến các sự
kiện chủ yếu của tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển khai đề tài cơ bản của
mình. Trong các nhân vật chính lại có thể nhận thấy nổi lên nhân vật trung
tâm xuyên suốt tác phẩm từ đầu đến cuối về mặt ý nghĩa. “Đó là nơi quy tụ
các mối mâu thuẫn của tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm của tác
phẩm” [13, 71]. Trong tác phẩm văn chương, ngoài nhân vật chính còn lại là
nhân vật phụ mang các tình tiết, sự kiện, tư tưởng có tính chất phụ trợ, bổ
sung.
Thứ hai, dựa trên phương diện hệ tư tưởng, về quan hệ đối với lí tưởng
nhân vật lại có thể chia ra làm nhân vật chính diện (nhân vật tích cực) và nhân
vật phản diện (nhân vật tiêu cực). Hai kiểu nhân vật này cũng mang tính lịch
sử. Nhân vật chính diện mang lí tưởng, quan điểm tư tưởng, đạo đức tốt đẹp
của tác giả, của thời đại mà tác giả khẳng định và đề cao như những tấm
gương về phẩm chất tốt đẹp của con người một thời. Trái lại, nhân vật phản
diện mang những phẩm chất xấu xa trái với đạo lí và lí tưởng, đáng lên án,
phủ định.
của cuộc đời đang cao trào, sôi động nhất. Bởi vì, trong truyện, tiểu thuyết
không hạn định về không gian, thời gian nên nhà văn có thể đề cập đến nhân
vật một cách tỉ mỉ, kỹ lưỡng theo ý đồ chủ quan của nhà văn, những mối xung
đột của các nhân vật được xem xét từ trạng thái manh nha, âm ỉ rồi đến giai
đoạn đối lập, đấu tranh xung đột… Nhưng kịch do hạn định của không gian,
thời gian nên khi nhân vật xuất hiện trong tác phẩm cũng là lúc hoàn cảnh,
mâu thuẫn của cốt truyện kịch đã phát triển tới chỗ xung đột, đòi hỏi phải giải
quyết. Đó chính là lúc dòng chảy của cuộc đời không êm ả mà đã có dòng
xoáy bắt đầu dữ dội. Trong hoàn cảnh cam go ấy, các nhân vật mới có cơ hội
tự bộc lộ mình rõ ràng và chính xác nhất.
Bïi ThÞ Hång
13
Khoa Ng÷ V¨n
Đặc điểm riêng biệt thứ hai của nhân vật trong tác phẩm kịch: Nhân vật
kịch là loại nhân vật hành động. Nếu trong tác phẩm trữ tình mọi tác động của
môi trường sống đều làm cho nhân vật nảy sinh tình cảm, cảm xúc rung động
thì trong tác phẩm kịch lại dẫn đến nhân vật hành động (tất nhiên không phải
bất cứ sự tác động nào của hoàn cảnh sống cũng dẫn đến nhân vật hành động).
Bởi nhân vật kịch có hành động thì mới đi tới giải quyết mâu thuẫn, xung đột
và cũng qua hành động là cơ sở để nhân vật tự bộc lộ tính cách của mình.
Chúng ta cần hiểu hành động ở đây bao gồm cả hành vi cử chỉ, việc làm, cả
hành động ngôn ngữ (tức lời nói của nhân vật). Lời nói của nhân vật trong
kịch mang tính hành động khá rõ nét, thông qua ngôn ngữ ta có thể thấy hành
động tấn công - phản công, thăm dò - lảng tránh, chất vấn - chối cãi, thuyết
phục - phủ nhận, đe dọa - coi thường, cầu xin - từ chối… Cốt truyện của kịch
nhân vật kịch không có nghĩa rằng nhất nhất mọi hàng động, suy nghĩ của
nhân vật đều đơn giản, một chiều, mà xoay quanh nét nổi bật còn có những
tính cách khác vừa tương quan, vừa tương phản làm cho gương mặt nhân vật
sinh động và đa dạng hơn.
Như vậy, từ những đặc điểm chung về nhân vật, vào kịch đã có những
nét riêng, đặc thù mang màu sắc thể loại. Nhà văn là người cần nhạy cảm đối
với điều đó để xây dựng nhân vật trong tác phẩm của mình sao cho phù hợp
với thể loại.
1.2. Lý luận về nghệ thuật xây dựng nhân vật kịch
Như đã trình bày ở trên, nhân vật ngoài chức năng quan trọng là
phương tiện để nhà văn gửi gắm ý tưởng nghệ thuật của mình, còn có vai trò
quyết định tới phần lớn những yếu tố hình thức của tác phẩm văn chương. Vì
thế qua mỗi yếu tố hình thức của tác phẩm, ta sẽ thấy được cụ thể nghệ thuật
xây dựng nhân vật của tác giả.
Cũng giống như các tác phẩm tự sự, trữ tình, các tác phẩm kịch cũng
phải cần đến các biện pháp nghệ thuật thể hiện nhân vật. Để xây dựng được
nhân vật trong tác phẩm kịch một cách sinh động, hấp dẫn, các tác giả sử
dụng các thủ pháp nghệ thuật sao cho nhân vật hiện lên trước mắt người đọc
càng cụ thể, càng rõ nét thông qua càng nhiều các giác quan càng tốt. Các
phương thức thể hiện nhân vật kịch hết sức đa dạng, trong đó phải kể đến bốn
Bïi ThÞ Hång
15
Khoa Ng÷ V¨n
yếu tố nghệ thuật sau : Biện pháp đối thoại, biện pháp độc thoại, biện pháp tạo
xung đột kịch tính, biện pháp tương phản. Việc sử dụng các biện pháp nghệ
Khoa Ng÷ V¨n
tên kẻ thù, đã gọi Clôđiut là “một thằng sát nhân, một gã đê tiện, một tên vô
lại…một tên vua hề, một tên ăn cắp ngai vàng và quyền uy, xoáy trộm vương
miện trên giá cao đút vào túi áo”. Qua đối thoại, Hamlet luôn thể hiện một
con người đấu tranh - con người tiên tiến - lý tưởng của thời đại Phục Hưng.
Có thể nói, đối thoại là một biện pháp nghệ thuật quan trọng trong việc
thể hiện nhân vật kịch. Arixtôt đã từng nói “Kịch sẽ trở nên vô nghĩa nếu
không có xung đột và càng vô nghĩa hơn nếu ở đó không có các nhân vật đối
thoại với nhau”. Vì vậy, đối thoại trong kịch nhiều về số lượng và quan trọng
về chất lượng, khả năng thể hiện nội dung của biện pháp đối thoại là rất lớn.
Với ngôn ngữ đối thoại của mỗi nhân vật, biện pháp thể hiện nghệ thuật này
có tác dụng cá biệt hóa các nhân vật, làm cho mỗi nhân vật có một đặc điểm
riêng, không nhân vật nào giống nhân vật nào.
1.2.2.Biện pháp độc thoại
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” thì “Độc thoại (hay độc thoại nội
tâm) là lời phát ngôn của nhân vật nói với chính mình, thể hiện quá trình tâm
lý, nội tâm, mô phỏng hoạt động, cảm xúc suy nghĩ của con người trong dòng
chảy trực tiếp của nó” [7, 122].
Trong cuốn “150 thuật ngữ văn học”, tác giả Lại Nguyên Ân cho
rằng: “Độc thoại nội tâm là phát ngôn của nhân vật nói với bản thân mình,
trực tiếp qua trình phản ánh tâm lý bên trong, kiểu độc thoại thầm (hoặc “lẩm
bẩm”) mô phỏng hoạt động suy nghĩ, xúc cảm của con người trong dòng chảy
trực tiếp của nó” [1, 126].
Trong cuốn “Thi pháp tiểu thuyết Lep Tônxtôi”, giáo sư Nguyễn Hải
Hà đã đưa ra một định nghĩa về độc thoại nội tâm: “Độc thoại nội tâm là tiếng
nói bên trong tâm hồn nhân vật, là ý nghĩ thầm kín, là lời tự nhủ thầm hoặc
nhân vật nói to lên với mình. Độc thoại nội tâm bộc lộ đời sống tinh thần của
nhân vật, làm hiện rõ con người bên trong của nó” [6, 87].
1.2.3. Biện pháp tạo xung đột kịch tính
Biện pháp tạo xung đột kịch tính là biện pháp không thể thiếu trong các
tác phẩm kịch. Dù ở bất kì thời đại nào, tính xung đột kịch tính cũng là yêu
cầu quan trọng để tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm kịch.
Bïi ThÞ Hång
18
Khoa Ng÷ V¨n
Cuốn “Lý luận văn học” NXBGD, H, 1987 do Phương Lựu chủ biên
đã chỉ ra rằng “Biện pháp tạo xung đột kịch tính là việc nhà văn đặt nhân vật
vào tình huống mang tính kịch, tức nó có vấn đề. Hoàn cảnh đó có thể được
tạo dựng một cách đa dạng, đó là một trạng thái tình cảm cao độ, một nghịch
lý ngang trái, một tình cảnh éo le, trớ trêu của cuộc sống mà dẫn đến mâu
thuẫn” [13, 400].
Mâu thuẫn xung đột có thể từ trong chính bản thân nhân vật, có thể
giữa các nhân vật với nhau, hoặc giữa nhân vật với hoàn cảnh. Qua cách nhân
vật đối diện với tình huống ấy và giải quyết tình huống để thoát khỏi xung
đột, chúng ta nhìn nhận được bình diện nào đó tính cách nhân vật.
Biện pháp nghệ thuật này triệt để sử dụng mâu thuẫn làm nguyên tắc
xây dựng các mối quan hệ tương tác giữa các nhân vật. Trong tác phẩm kịch
thì việc xây dựng các mâu thuẫn, xung đột, là không thể thiếu bởi nó là linh
hồn, là cốt lõi của vở kịch. Biện pháp này ngoài tác dụng làm tăng tính kịch
cho tác phẩm, làm cho nhân vật hiện lên rõ nét còn kích thích hứng thú và sự
hiếu kì của bạn đọc trong việc dõi theo nhân vật tìm lối ra.
1.2.4. Biện pháp tương phản
Theo “Từ điển Tiếng Việt”, NXB Khoa học xã hội, 1994 do Hoàng
việc khắc họa chân dung tính cách, phẩm chất của nhân vật thông qua việc đặt
nhân vật thông qua việc đặt nhân vật vào thế tương phản giữa vị thế xã hội
với tính cách hoặc đơn giản là tương phản giữa các nhân vật với nhau để qua
đó làm nổi bật lên hình tượng nhân vật trung tâm của tác phẩm.
Tóm lại, các biện pháp nghệ thuật trên là những yếu tố quan trọng trong
việc xây dựng nhân vật kịch. Mỗi biện pháp này được sử dụng tất cả hay
không, đậm hay nhạt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loại nhân vật, ý đồ
nghệ thuật của nhà văn. Với sự phân tích bốn yếu tố nghệ thuật trên: biện
pháp đối thoại, biện pháp độc thoại, biện pháp tạo xung đột kịch tính, biện
pháp tương phản, chúng tôi thấy mỗi yếu tố đều góp phần vào việc xây dựng
nhân vật cho tác phẩm. Vì vậy, khi xem xét nghệ thuật xây dựng nhân vật
trong tác phẩm kịch của V.Huygô, chúng tôi sẽ đi xem xét ở bốn yếu tố này.
Bïi ThÞ Hång
20
Khoa Ng÷ V¨n
CHƯƠNG 2
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
TRONG TÁC PHẨM KỊCH CỦA VICTO HUYGÔ
Kịch Đram (Kịch lãng mạn) là một sáng tạo độc đáo về loại hình kịch
của thế kỉ Ánh sáng. Thể loại này ra đời đã xóa nhòa ranh giới giữa bi kịch và
hài kịch. Cơ sở thẩm mỹ của nó là mối quan tâm đến tính chất hiện thực của
cuộc sống. Nhà soạn kịch Mecier đã nói “Kịch Đram viết ra là để diễn chứ
không phải để đọc” nên các nhà soạn kịch quan tâm tới cả việc đổi mới ở
khâu dàn dựng theo hướng hiện thực.
Một trong những nguyên nhân chủ yếu tạo nên sức hấp dẫn của kịch
trong kịch Đram của Huygô. Qua việc tìm hiểu khám phá về “Nghệ thuật xây
dựng nhân vật trong tác phẩm kịch của Victo Huygô”, chúng tôi sẽ đi “giải
mã” những đặc trưng của kịch lãng mạn và lý giải tại sao Huygô được coi là
“chủ soái của chủ nghĩa lãng mạn” và là “hiện thân của chủ nghĩa lãng mạn”.
Ở chương 1, chúng tôi đã đưa ra và phân tích hệ thống lí luận cần thiết
có vai trò làm cơ sở vững chắc cho việc nghiên cứu đề tài “Nghệ thuật xây
dựng nhân vật trong tác phẩm kịch của Victo Huygô”. Tới chương 2, chúng
tôi sẽ làm rõ thêm những vấn đề lý thuyết để thấy được tài năng sáng tạo
trong việc xây dựng nhân vật trong tác phẩm kịch của Victo Huygô.
2.1.Nghệ thuật đối thoại.
Trong kịch, biện pháp thể hiện nghệ thuật này được coi là chủ đạo và
cũng có thể coi là quan trọng nhất “Hành động mâu thuẫn, tóm lại kịch tính
bật ra đối đáp” [12, 262]. Lời đối thoại trong kịch còn “có khả năng kể
chuyện, thông báo sự kiện”, “thể hiện tâm hồn sâu kín”, “bộc lộ tư tưởng của
tác giả, ý nghĩa của kịch bản”, “diễn đạt tính trữ tình, tính thơ ca, tính anh
hùng ca... của tác phẩm” [2, 42] đối thoại cho thấy rõ nhất tiếng nói của nhân
vật, qua đối thoại ta thấy được tính cách, cá tính, quan niệm sống…và những
đặc điểm khác như nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, giai cấp, thời đại, dân
tộc… của nhân vật.
Bïi ThÞ Hång
22
Khoa Ng÷ V¨n
Trong các tác phẩm kịch của Victo Huygô, kiểu nhân vật đối thoại xuất
hiện nhiều, xuyên suốt các vở kịch là các nhân vật đối thoại với nhau. Chính
nhờ sự đối thoại của nhân vật mà ta nhận ra tính cách của từng nhân vật một
10
3
Đônha Xon
2
8
1
Đôn Carlox
1
5
1
Mariông
Mariông
4
10
3
3
0
Tác phẩm
Nhân vật
Hecnani
Ruy Blas
Qua bảng khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy đối thoại là đặc trưng cơ
bản của kịch và nó chiếm một phần rất lớn trong các vở kịch của V.Huygô.
Những đoạn đối thoại thể hiện ngoại hình, tính cách, triết lý, tâm tình tập
trung chủ yếu ở những nhân vật chính. Do vậy, khi đi phân tích biện pháp đối
Bïi ThÞ Hång
23
Khoa Ng÷ V¨n
thoại ở ba vở kịch trên, chúng tôi sẽ tập trung vào đối thoại của những nhân
vật chính như Hecnani, Mariông Đơlormơ, Ruy Blas.
2.1.1. Đối thoại nhằm miêu tả ngoại hình nhân vật
Khi xây dựng nhân vật, hầu hết các nhà văn đều chú ý tạo cho nhân vật
của mình một ngoại hình, một diện mạo góp phần thể hiện tính cách. Ngoại
hình có thể chỉ giúp người đọc hiểu được phần nào tính cách của nhân vật,
bước đầu nắm bắt được về trang phục, vẻ ngoài của nhân vật Hecnani. Nhưng
ngoại hình của nhân vật chủ yếu được thể hiện thông qua đối thoại của các
nhân vật.
Ở hồi I lớp 1, qua đối thoại của Jôdepha với Đôn Carlox (khi Đôn
Carlox lẻn vào nhà Đônha Xon để tìm gặp nàng, trong khi nàng và người hầu
Jôdepha đang đợi Hecnani tới) đã thể hiện điều đó.
Jôdepha : (ra mở cửa đón Hecnani) Xin kính chào tráng sĩ đẹp trai. Ơ
kìa, không phải ngài Hecnani sao?
Đôn Carlox : (Nắm lấy cánh tay u) Kêu lên hai tiếng nữa thì mụ sẽ
chết đó. Nói đi, có phải cô nàng Đônha Xon yêu thương một gã kị sĩ trẻ tuổi,
râu ria chưa có, tối nào cũng bất chấp những kẻ ghen tỵ, tiếp anh chàng tình
nhân trẻ tuổi đúng không?
Trong đoạn đối thoại trên, tuy tên nhân vật chính không được nhắc đến
nhưng người đọc vẫn biết rằng “ tráng sĩ đẹp trai” kia là Hecnani, và “gã kị sĩ
trẻ tuổi, râu ria chưa có” cũng chính là Hecnani. Hecnani - chàng trai trẻ
tuổi, tài ba. Mặc dù, chàng chưa xuất hiện nhưng qua lời nhận xét của các
nhân vật khác, người đọc cũng phần nào hình dung ra dáng vẻ, ngoại hình của
chàng. Ở chàng, ta nhận thấy chàng có tố chất của một người anh hùng dũng
cảm, gan dạ, chính trực. Từng chi tiết về áo giáp bằng da, thanh kiếm, chiếc tù
và và qua lời nhận xét của các nhân vật khác, chúng ta cũng thấy được điều
đó.
Ở những đoạn đối thoại giữa Hecnani và Đôn Carlox (hồi II, lớp 3)
giữa Hecnani và Đôn Ruy Gômê (hồi III, lớp 7) còn thể hiện Hecnani là một
người có tài đấu kiếm và đấu kiếm rất giỏi. Trong cuộc chạm trán với vua
Đôn Carlox - kẻ thù giết hại cha mình (hồi II, lớp 3) Hecnani có thừa khả
Bïi ThÞ Hång
25