NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG THÁNH TÔNG DI THẢO
Nguyễn Thị Việt Hằng
1
Một trong những phương diện làm nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm
“Thánh Tông di thảo” (tương truyền của Lê Thánh Tông), đó là nghệ thuật
xây dựng nhân vật. Đứng từ các góc độ: không gian nghệ thuật cho nhân vật
hoạt động; thời gian nghệ thuật cho nhân vật tồn tại và nghệ thuật khắc họa
ngoại hình, phẩm chất và ít nhiều những biến thái trong thế giới tâm hồn
nhân vật, bài báo đi tới khẳng định thành công của tác phẩm. Đây chính là
minh chứng rõ rệt cho khả năng tự chủ cao của người cầm bút trong sáng
tạo, đồng thời cũng là minh chứng cho khuynh hướng thoát ly dần khỏi văn
học chức năng và văn học dân gian trong văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung
đại.
1. Mở đầu
Trong xu hướng phát triển của văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Thánh Tông di
thảo (tương truyền của Lê Thánh Tông) được đánh giá là một dấu mốc quan trọng cho sự
chín muồi về thể loại. Một trong những phương diện làm nên giá trị của tác phẩm là thế giới
nhân vật được xây dựng phong phú, đậm màu sắc kỳ ảo. Đây là phương diện nghệ thuật minh
chứng rõ rệt cho khả năng tự chủ cao của người cầm bút trong sáng tạo, đồng thời cũng là
minh chứng cho khuynh hướng thoát ly dần khỏi văn học chức năng và văn học dân gian để
bắt đầu cuộc hành trình nghệ thuật với ý nghĩa cao cả là hướng tới con người của văn học
trung đại Việt Nam.
2. Nội dung
2.1. Không gian kỳ ảo cho nhân vật hoạt động
Không chỉ hấp dẫn bằng những cốt truyện ly kỳ, truyện truyền kỳ còn hấp dẫn bởi thế
giới nhân vật đa dạng, phong phú và đầy màu sắc huyền thoại. Sức hấp dẫn ấy một phần đến
từ khả năng mở rộng địa hạt không gian cho nhân vật hoạt động ra các phía theo trí tưởng
tượng, tầm nhận thức thế giới và sự sáng tạo của mỗi cá nhân tác giả.
Không gian kỳ ảo trong truyện truyền kỳ là loại không gian tưởng tượng, đặc biệt
vạn pháp thuật đã chịu thua trong hổ thẹn, còn Ngọc Hoàng phải thừa nhận sức mạnh của con
người trong hoan hỉ. Việc xây dựng không gian chốn thiên đình, nơi được coi là thế giới tối
cao của mọi thế giới và tạo ra tình huống truyện độc đáo cho nhân vật chính xuất hiện, ý đồ
đề cao, khẳng định con người đã đạt tới một kết quả thực sự độc đáo.
Cũng với ý nghĩa thông thường trong tư duy dân gian, không gian thủy phủ, âm phủ
trong Thánh Tông di thảo mang ý nghĩa là nơi thưởng phạt phân minh, kẻ ác bị xét xử, người
hiền được ban thưởng. Thúc Ngư tìm được vợ như ý, Ngọa Vân mắc tội ở trần gian phải trở
về thủy cung chịu tội (Truyện lạ nhà thuyền chài); kẻ theo giặc nhưng biết giữ phận làm tôi
được ban thưởng (Người trần ở thủy phủ); người sống theo đúng đạo hiếu được phong làm
thần (Hai thần hiếu đễ)… Hơn thế, qua truyện Người trần ở thủy phủ, Hai thần hiếu đễ, kiểu
không gian này còn được tác giả sử dụng để cổ súy mạnh mẽ cho các quan niệm về chữ
trung, tinh thần hiếu đễ tuyệt đối theo tư tưởng Nho giáo.
Đối với dạng không gian kỳ ảo là thế giới mộng được tác giả xây dựng khá độc đáo và
hoàn toàn khác với truyền kỳ bản địa. Nếu ở truyền kỳ Trung Hoa, thế giới trong mộng
thường đẹp, đối lập hoàn toàn với thế giới thực, là nơi để những nhân vật không được toại
nguyện trong đời thường tìm đến và khi tỉnh mộng thì cũng là lúc vỡ mộng, thì truyện của Lê
Thánh Tông khác hẳn. Trong Duyên lạ nước Hoa, không gian mộng là nơi Chu Sinh có được
tất cả những thứ mà ở thế giới thực anh ta không thể có. Từ thế giới mộng trở về thế giới thực
Chu Sinh đã có cuộc sống tốt đẹp hơn nhờ món quà ở thế giới mộng gửi về. Vì thế mà anh ta
sẵn sàng từ bỏ thế giới thực để đi vào thế giới mộng bằng cái chết một cách thanh thản.
Không gian mộng trong Bài ký một giấc mộng lại có ý nghĩa lý giải những điều mà ở không
gian trần thế con người không thể làm được và khi tỉnh mộng con người thấy thỏa nguyện
thực sự. Còn Một dòng chữ lấy được gái thần, không gian mộng là nơi cho anh đồ kiết đạt
được ước nguyện mĩ mãn, đó là lấy được người con gái anh yêu. Những điều đẹp đẽ ấy ở thế
giới mộng tiếp tục theo anh về thế giới thực và sang cả kiếp sau nữa. Như thế, không gian
mộng trong Thánh Tông di thảo hoàn toàn không mang nét nghĩa của các tác phẩm truyền kỳ
ở bản địa. Chính nó tạo ra những điều đẹp đẽ cho con người ở thế giới thực chứ không phải
để con người nhận ra thế giới thực là bi kịch.
Ngoài những kiểu không gian quen thuộc của truyện truyền kỳ, trong Thánh Tông di
thảo, còn có thể thấy tác giả chú ý xây dựng một kiểu không gian nửa hư nửa thực thuộc về
khác. Ở Truyện lạ nhà thuyền chài là chi tiết vợ chồng nhà thuyền chài được hai gã Bán Kinh
đưa từ thủy cung trở về nhà: “chỉ đi độ một khắc có thể qua muôn dặm đường trường”, sau
chừng “ba khắc” họ đã vượt được một đoạn đường dài để về đến nhà, và lại chỉ trong “chớp
mắt” họ đã không thấy hai gã bán kinh đâu nữa. Truyện hai thần hiếu đễ thời gian kỳ ảo được
diễn tả qua chi tiết Tử Khanh cùng người anh “cưỡi xe mây đi chừng nửa khắc”, chi tiết Tử
Khanh về tới nhà “khi trời sắp sáng, không thấy Nguyên Anh đâu, mà mình đã đứng trước
cửa nhà cũ rồi ”… Nói chung, việc kéo dài hay co ngắn thời gian một cách ly kỳ như vậy chỉ
có thể có được ở truyện truyền kỳ, và Lê Thánh Tông đã rất biết cách tận dụng nó để thể hiện
dụng ý nghệ thuật của mình.
Ngoài kiểu thời gian kỳ ảo trên, tác giả còn chú ý đặt nhân vật trong thời gian kỳ ảo với
sự diễn tiến song song và ráp nối lôgích với thời gian thực. Đây là nét riêng của Thánh Tông
di thảo, bởi trong các truyện truyền kỳ khác, độ chênh lệch giữa thời gian thực và thời gian
kỳ ảo thường rất lớn. Từ Thức sống cùng Giáng Hương ở thế giới tiên cảnh được một năm thì
thời gian ở thế giới thực nơi quê nhà đã trải qua ba đời; Lưu Thần, Nguyễn Thiệu ở non tiên
được nửa năm, khi trở lại quê hương thời gian đã trôi qua bảy đời người… Đặt nhân vật trong
sự chênh lệch lớn giữa hai đơn vị thời gian các tác giả truyền kỳ khác đã diễn tả sâu sắc bi
kịch của con người trong quy luật thời gian nghiệt ngã. Từ Thức hay Lưu Thần, Nguyễn
Thiệu đều nhớ quê và quyết tâm trở về bằng mọi giá nhưng khi về đến nơi thì tất cả đã không
còn như xưa nữa. Trong sự so sánh với một số tác phẩm truyền kỳ khác, chúng ta thấy nhân
vật của Thánh Tông di thảo thường không phải là nhân vật của bi kịch, cuộc đời trôi giữa hai
chiều thời gian thực và thời gian kỳ ảo của nhân vật luôn theo lôgích tuyến tính. Tử Khanh
trong Truyện hai thần hiếu đễ ngủ lại trong một ngôi miếu, gặp người anh đã thành thần ở cõi
âm trong vòng một đêm, trở về nhà thì trời sáng. Chu Sinh trong Duyên lạ nước Hoa tồn tại
trong cả hai chiều thời gian, trong đó thời gian ở cõi mộng trôi qua bao nhiêu thì thời gian ở
cõi thực cũng trôi qua tương ứng. Bởi thế sống hết một đời người anh ta sẵn sàng đi vào cõi
mộng mà không hề luyến tiếc cõi thực. Anh học trò trong Người trần ở thủy phủ xuống thủy
phủ được bao nhiêu năm thì ở quê nhà trời gian cũng trôi qua chừng ấy… Như vậy, đặc tính
thường thấy của thời gian kỳ ảo trong truyện truyền kỳ đã không được tác giả sử dụng, có lẽ
vì thế mà tác phẩm lại có được sự gần gũi, chân thực của đời sống.
Ở những thiên truyện nhằm mục đích giáo huấn như Bức thư của con muỗi, Trận cười
được xây dựng có đời sống riêng, một số nhân vật đã có được tính cách riêng. Kiểu nhân vật
này thể hiện sâu sắc tư tưởng của tác giả, bởi đằng sau chuyện của thần tiên, ma quỷ…, chính
là chuyện của con người, đằng sau thần linh, ma quỷ…chính là bản thân con người. Nhóm
thứ hai là loài vật được nhân hóa, giữ nguyên hình dáng bên ngoài nhưng có suy nghĩ, nói
năng, hành động như con người. Đây là những phát ngôn trực tiếp cho mục đích giáo huấn
của tác giả.
Với vai trò là hạt nhân quan trọng tạo nên nét hấp dẫn riêng cho truyện truyện kỳ, thế
giới nhân vật luôn được tác giả chú ý tạo ra những nét thần bí ngay từ khi chúng xuất hiện. Vì
thế mà trong miêu tả ngoại hình, nguồn gốc xuất xứ của nhóm nhân vật thứ nhất, gồm những
thần, tiên, phật, ma quỷ…, bằng cách này hay cách khác, tác giả luôn ngầm cho người đọc
thấy được chân tướng gốc của chúng. Hoặc thông qua khả năng biến hiện nhiều hình thù quái
gở như trong Truyện yêu nữ Châu Mai, Truyện hai gái thần; Hoặc hình dáng khi biến thành
người vẫn còn giữ lại một đặc điểm đặc trưng nào đó của chân tướng gốc như “hai cái râu rất
dài”, “vảy rồng mồm giải, mặt thú thân xà” của nhân vật là loài cá trong Truyện lạ nhà
thuyền chài, “nhiều ngấn ngang” ở bụng của nhân vật là loài bướm trong Duyên lạ nước
Hoa, hay cái vẻ “thân cao, đầu nhọn” của thần núi trong Truyện hai gái thần; Hoặc qua cách
nhân vật xuất hiện thần bí như trong Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc, Truyện tinh chuột; Cũng có khi
nhân vật kỳ lạ lại để lộ chân tướng qua một biến cố nào đó, nàng Ngọa Vân đứng trước tai
họa đã biến hình thành một con cá lớn để cứu gia đình nhà chồng (Truyện lạ nhà thuyền
chài), con chuột thành tinh sau khi bị trừ đi thì hiện nguyên hình (Truyện tinh chuột)… Nói
chung, hình dáng có nét kỳ lạ, nguồn gốc xuất thân ở cõi siêu nhiên khác của nhân vật chính
là yếu tố đầu tiên dẫn dắt câu chuyện đi theo hướng ly kỳ một cách tự nhiên và thuyết phục
nhất. Đây là một thành công của tác giả.
Đồng thời với những khả năng siêu nhiên, tác giả thường gắn cho nhân vật một vật kỳ
ảo nào đó. Những vật kỳ ảo này có ý nghĩa gắn với đặc trưng của chân tướng gốc, hỗ trợ cho
hành động, cho việc thực hiện ước mơ, khát vọng và chứng tỏ phẩm giá của nhân vật. Trong
Duyên lạ nước Hoa, vật kỳ ảo là một lá ngọc trắng, bên trong có bài thơ tỏ ý của Mộng Trang
dành tặng cho Chu Sinh trong buổi chia tay. Lá ngọc này là “của báu vô giá. Đeo nó thì mùa
hè chống được nóng, mùa đông trừ được lạnh”, bài thơ chép trong đó cũng đầy bí ẩn, Chu
Sinh chỉ giải được nghĩa của nó vào đúng thời điểm có thể đoàn tụ với vợ con ở nước Hoa.
Thánh Tông.
Trong xây dựng nhân vật, tác giả rất chú ý khắc họa hình tượng người phụ nữ với số
phận riêng, phẩm chất tốt đẹp và khát khao hạnh phúc chính đáng của họ. Những nhân vật
này dù là thần tiên, ma quỷ hay loài vật đều có một ngoại hình đẹp, phù hợp với phẩm chất
bên trong. Nàng Mộng Trang, Ngọa Vân, hai thần nữ hay Ngư Nương đều là những người
phụ nữ như thế. Điều đáng nói là tác giả đã bắt đầu chú ý đến việc diễn tả những trạng thái
cảm xúc thông qua những biện pháp nghệ thuật thông thường, đặc biệt là qua những bài thơ
có ý nghĩa bộc lộ tâm tư và bí ẩn cuộc đời họ. Tâm trạng hờn giận của Ngư Nương trong
Truyện yêu nữ Châu Mai sau hành trình đi tìm người yêu đầy gian khó được miêu tả khá hấp
dẫn qua chi tiết nàng vội vàng “trang sức chỉnh tề rồi bước ra, xịu mặt khóc:
… Lang quân hỡi lang quân!
Cách biệt ba mươi xuân,
Mây Vu Sơn, mưa Vu Sơn,
Hôm hôm, sớm sớm ai tri âm?”.
Đối với hai nhân vật thần nữ trong Truyện hai gái thần cũng vậy, tiếng hát “thảm buồn”
chính là những lời tâm sự về thân phận của họ. Tác giả cũng chú ý tới từng nét cảm xúc của
nhân vật, đặc biệt là chi tiết: “Thốt nhiên một hôm kia, người nhiều tuổi tuy cùng đi với cô gái
trẻ, nhưng không hát, cũng không xem bói, đoán số, mà nét mặt buồn rười rượi”. Chi tiết này
được tác giả bỏ lửng ở đó có tác dụng gợi rất nhiều. Người đọc phải chăm chú theo dõi đến
tận cuối truyện mới hiểu ra rằng, nỗi buồn ấy là do người con trai mà bà mất bao công tìm
kiếm không báo thù được cho cha đã “treo cổ lên cây tự sát cách đây bốn năm rồi”. So với
nhân vật vị thần nữ nhiều tuổi, nét cảm xúc của nhân vật vị thần nữ trẻ được diễn tả trực diện
và giản đơn hơn: “Thiếu nữ đang buồn hóa tươi, mỉm cười nói rằng: Vợ đi, chồng lại về…”.
Cũng như vậy, nhân vật nàng Ngọa Vân trong Truyện lạ nhà thuyền chài được diễn tả cảm
xúc trực diện thông qua ngôn ngữ đối thoại và một bài thơ dài: “…Từ nay trở đi, thiếp không
thể chung mộng đẹp được nữa. Đoạn lau nước mắt mà hát rằng:
… Thúc Ngư lang!
Trời một phương!
Ghi nhớ trong tâm trường…
Ông xanh, ông xanh sao phũ phàng!
thế tình cảm này bằng tình cảm khác của con người mà chưa có ý thức đi sâu vào thế giới nội
tâm, chưa chú ý khắc họa tính cách điển hình, nhưng trong bước thử nghiệm đầu tiên của thể
loại truyền kỳ, những gì ông làm được chính là một bước tiến rất quan trọng cho văn xuôi tự
sự nước nhà.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Đăng Na, Đặc điểm văn học Việt Nam trung đại – Những vấn đề văn xuôi tự
sự, Nxb Giáo dục, H., 2001.
2. Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại – Tập 1, Nxb Giáo dục,
H., 1997.
3. Vũ Thanh, Những biến đổi của yếu tố kỳ và thực trong truyện ngắn truyền kỳ Việt
Nam, Tạp chí Văn học, số 6, 1994.
4. Phan Thị Cẩm Vân, Cái “kì” trong tiểu thuyết truyền kì, Tạp chí Văn học, số 10,
2000.
ART OF BUILDING CHARACTER IN THANH TONG DI THAO
Nguyen Thi Viet Hang
Abstract
The article reseaches art of building character - an important aspect which makes the art
value in Thanh Tong di thao (by Le Thanh Tong?). Analyzing aspects of space - time art, art
of describing and showing appearance, quality and some changes in the world of the
character's mind, the article confirms the success of art in the work. This is an evidence of the
high autonomy of the creator and also demonstrating the tendency which gradually escape
from the functional literature and folklore in Vietnamese narrative prose in the middle age.