Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
GV
HS
KHTN
SKKN
c/m
THCS
slt
GT
KL
Giáo viên
Học sinh
Khoa học tự nhiên
giải, tìm ra nhanh nhất con đường cần đi đến đích có vai trò rất quan trọng.
Trong thực tế giảng dạy bậc THCS, tôi nhận thấy nhiều học sinh khá, giỏi
toán nhưng vẫn chưa thực sự hứng thú với phân môn hình học. Bởi đây là một
môn học đòi hỏi trí tưởng tượng cao, khả năng tư duy logic chặt chẽ và sự sáng
tạo lớn. Một thực tế đặt ra là dù học sinh thuộc lí thuyết nhưng các em vẫn rất
lúng túng và mất nhiều thời gian khi giải bài toán. Bởi các em còn thiếu các kĩ
năng phân tích đề bài, xác định hướng đi, cách chọn lọc những kiến thức liên
quan cần vận dụng. Nhiều thầy cô giáo cũng mới chỉ cung cấp cho các em
những công cụ giải toán hình học như dạng bài toán, phương pháp giải, kiến
thức cần vận dụng…mà không rèn cho các em cách sử dụng các công cụ đó như
thế nào cho đủ, đúng và nhanh nhất, không mắc sai lầm đi vào ngõ cụt trong quá
trình tư duy.
Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy phương pháp “phân tích đi
lên” là một phương pháp rất hay giúp học sinh có kĩ thuật tìm được lời giải bài
toán hình nhanh chóng, chặt chẽ và có hiệu quả. Nhờ phương pháp này mà học
sinh sẽ xác định được thao tác tư duy cần bắt đầu từ đâu, kết thúc ở đơn vị kiến
thức nào, cách trình bày lời giải cũng rõ ràng, chặt chẽ hơn, mức độ thành công
cũng cao hơn. Người thầy, với việc sử dụng phương pháp này cũng sẽ tạo ra một
tác phong sư phạm mẫu mực, một cách truyền đạt lôi cuốn học sinh làm cho giờ
dạy sinh động và hấp dẫn . Chính vì những lí do trên, tôi đã chọn đề tài: “ Vận
dụng phương pháp phân tích đi lên khi dạy hình học 8”.
2. Mục đích của đề tài
*) Đối với bản thân: đề tài SKKN này sẽ giúp tôi:
GV: Đào Thị Thu Hương
2
Trường THCS Đại Hùng
+ Tháng 8/2013, tôi nhận lớp và tiến hành điều tra cơ bản ban đầu, ra đề
kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm; tiến hành thu thập các số liệu về khả năng
thu nhận các kiến thức hình học, kĩ năng vận dụng các kiến thức đó vào giải bài
tập, khả năng tư duy tìm tòi lời giải và kĩ thuật trình bày lời giải bài toán hình.
+ Từ tháng 9/2013 đến hết tháng 4/2014: Xây dựng và triển khai thực hiện
các biện pháp của đề tài. Qua kết quả các bài kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết,
kiểm tra học kì, tiến hành thu thập số liệu, phân tích các sự việc có liên quan đến
đề tài và xác định các biện pháp tiếp theo cho phù hợp.
+ Tháng 5/2014, tôi kết thúc đề tài, xử lí các kết quả thu được và viết
SKKN.
GV: Đào Thị Thu Hương
3
Trường THCS Đại Hùng
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận của vấn đề
a) Bài toán chứng minh hình học
Trong các bài toán hình học ta thường gặp nhất là các bài toán chứng minh
hình học.
Chứng minh một bài toán hình học là dựa vào những điều đã biết (gồm giả
thiết của bài toán, các định nghĩa, các tiên đề, định lí đã học…) và bằng cách suy
luận đúng đắn theo các thao tác tư duy logic để chứng tỏ kết luận của bài toán là
đúng
b) Phương pháp “phân tích đi lên”
Trong quá trình tìm tòi lời giải bài toán chứng minh hình học ta thường dùng
phương pháp “phân tích đi lên”. Có thể hiểu phương pháp “phân tích đi lên” như
Trường THCS Đại Hùng
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
- Học sinh khá, giỏi bước đầu nếu có hiểu phương pháp “phân tích đi lên”thì
khả năng vận dụng vẫn còn chậm, không đúng quy trình, nhầm lẫn với phương
pháp “tổng hợp”.
- Kĩ năng xây dựng sơ đồ phân tích từ kết luận lên giả thiết của học sinh còn
yếu, các bước suy luận trung gian còn hay bị tắc, đi vào ngõ cụt hoặc thiếu các
nhánh rẽ hợp lí.
- Học sinh vận dụng sơ đồ “phân tích đi lên” để trình bày lời giải theo phương
pháp “tổng hợp” nhiều khi không thống nhất và chặt chẽ.
- Nhiều giáo viên toán còn chưa sử dụng thường xuyên phương pháp “phân
tích đi lên” trong quá trình dạy học sinh tìm tòi lời giải cho bài toán. Nếu có sử
dụng thì cũng còn mờ nhạt, chủ yếu là bằng các câu hỏi có tính chất gợi mở,
không xây dựng sơ đồ phân tích cụ thể, trực quan để học sinh nhận biết và thực
hành theo. Chính vì thế, chất lượng dạy và học phân môn hình học còn thấp.
*) Số liệu điều tra ban đầu
Năm học 2013-2014, tôi trực tiếp giảng dạy và thực hiện đề tài tại lớp 8
trường THCS Đại Hùng
Qua khảo sát chất lượng đầu năm vào ngày 14/8/2013 tại lớp 8 trường
THCS Đại Hùng, tôi thu được kết quả như sau:
Tổng số học sinh của lớp là 40 em.
Kết quả khảo sát chất lượng môn toán đạt như sau:
Loại
Giỏi
Khá
Trung bình Yếu
Kém
Số lượng
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Vẽ hình chính xác giúp các em nhận biết trực quan cụ thể bài toán, phân
tích đề bài nhanh chóng, thuận tiện.
Viết giả thiết -kết luận ngắn gọn, chính xác, đủ ý sẽ giúp cho HS có cái
nhìn tổng thể về bài toán, xác định được cái đã cho, cái phải tìm, từ đó định hình
sơ lược được con đường cần phải đi để đến đích.
- Các công việc đã thực hiện:
Việc rèn luyện kĩ năng phân tích đề bài và viết giả thiết- kết luận cho học
sinh là thực sự cần thiết. Các nội dung mà tôi yêu cầu học sinh phải tìm hiểu là:
+ Bài toán cho ta biết điều gì? Giả thiết là gì? Kết luận là gì?
+ Kiến thức cơ bản cần có là gì? Cụm từ nào trong đề bài là quan trọng, đã
nhắc đến các khái niệm , định lí, điều kiện nào? Đơn vị kiến thức nào liên quan?
+ Hình vẽ minh họa ra sao? Sử dụng các kí hiệu nào?
- Hiệu quả:
Sau khi phân tích kĩ đề bài ,vẽ hình chính xác và ghi giả thiết- kết luận ngắn
gọn, đủ ý thì học sinh đã tạo được cho mình một tâm thế nhập cuộc thuận lợi để
từ đây tiến hành xây dựng sơ đồ phân tích đi lên cho bài toán chứng minh hình
học cụ thể và sẽ thành công.
3.1.2: Rèn luyện các thao tác tư duy như so sánh, phán đoán, khái quát hóa,
tương tự hóa, đặc biệt hóa…
- Vai trò, tác dụng:
Các thao tác tư duy như so sánh, phán đoán, khái quát hóa, tương tự hóa, đặc
biệt hóa… được dùng trong quá trình xây dựng sơ đồ phân tích đi lên. Do đó
học sinh phải hiểu và biết sử dụng các thao tác này thì mới có thể suy từ kết
luận, xác định được các bước lập luận trung gian lên giả thiết.
- Các công việc đã thực hiện:
+ Học sinh phải được rèn luyện cách so sánh để nhận ra sự giống và khác giữa
giả thiết- kết luận của bài toán này với giả thiết - kết luận của bài toán kia. So
khó khăn này dưới sự trợ giúp của giáo viên thông qua hệ thống câu hỏi dẫn dắt
hợp lí của mình.
- Các công việc đã thực hiện:
Để giúp học sinh xây dựng được sơ đồ phân tích đi lên, tôi đã chuẩn bị một hệ
thống câu hỏi dẫn dắt hợp lí. Trong quá trình xây dựng sơ đồ lập luận từ
(Kết luận) B ⇐ C ⇐ D ⇐ ……… ⇐ H ⇐ A (Giả thiết) các câu hỏi thường dùng là:
Để chứng minh B ta cần chứng minh điều kiện nào?
Để điều kiện C xảy ra cần có các điều kiện nào khác ?
Muốn có D ta cần có mấy điều kiện tương ứng, là những gì?.....
Để H đúng thì A có thỏa mãn hay không?
Tùy theo từng bài toán khác nhau mà câu hỏi sẽ phải cụ thể hơn, có tính chất
gợi mở, phát huy tính tích cực độc lập tư duy của học sinh, giúp học sinh chủ
động tham gia xây dựng bài học.
- Hiệu quả:
Hệ thống câu hỏi dẫn dắt hợp lí sẽ giúp học sinh từng bước hoàn thiện được
sơ đồ phân tích đi lên, tạo được các bước suy luận trung gian kết nối giữa giả
thiết và kết luận.
3.1.4: Rèn luyện kĩ năng vận dụng sơ đồ phân tích đi lên để trình bày lời
giải theo phương pháp tổng hợp
- Vai trò, tác dụng:
Căn cứ vào sơ đồ phân tích đi lên, học sinh sẽ trình bày lời giải theo phương
pháp tổng hợp để có một lời giải chi tiết và hoàn chỉnh
- Các công việc đã thực hiện:
+ Xác định các bước giải của bài toán căn cứ theo các bước lập luận trung gian
trong sơ đồ phân tích đã có
+ Trình bày rõ ràng, đầy đủ các bước giải kèm theo các căn cứ xác thực: căn cứ
vào đâu, theo định lí, tiên đề nào, theo trường hợp nào? Vì sao?
GV: Đào Thị Thu Hương
7
vận dụng phương pháp phân tích đi lên. Nhưng không phải bài nào cũng bắt
buộc phải xây dựng sơ đồ phân tích.
Đối với các bài toán đơn giản, tôi chỉ yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi gợi mở
xác định các bước giải bài toán như: để có kết luận, ta cần làm như thế nào? Vận
dụng kiến thức nào? Giữa kết luận và giả thiết có quan hệ ra sao?....
Đối với các bài toán phức tạp thì mức độ xây dựng sơ đồ phân tích cần nâng
cao dần.
Mức độ 1: Giáo viên xây dựng sơ đồ, học sinh theo dõi và nghe, hiểu sơ đồ.
Mức độ 2: Học sinh từng bước xây dựng sơ đồ phân tích theo câu hỏi gợi mở
của giáo viên; học sinh trình bày lời giải theo sơ đồ phân tích đã có.
Mức độ 3: Học sinh hoàn thiện sơ đồ và tự lập luận trình bày lời giải hoàn
chỉnh, giáo viên chỉ nhận xét và chữa bài của học sinh.
- Hiệu quả:
GV: Đào Thị Thu Hương
8
Trường THCS Đại Hùng
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Biện pháp trên đã giúp cho mọi đối tượng học sinh đều được tham gia vào quá
trình học tập, nhất là đối tượng học sinh trung bình và yếu không có cảm giác
mình bị bỏ quên.Học sinh sẽ hiểu rõ phương pháp và khả năng vận dụng ngày
càng được nâng cao. Việc tìm ra lời giải sẽ nhanh chóng và chính xác hơn.
3.1.6: Triển khai chuyên đề “vận dụng phương pháp phân tích đi lên” trong
sinh hoạt chuyên môn tại tổ khoa học tự nhiên
- Vai trò, tác dụng:
Triển khai đến toàn thể giáo viên để có thể hiểu phương pháp phân tích đi lên
và một số kĩ thuật vận dụng phương pháp đó vào thực tế giảng dạy.
thẳng bằng nhau
-Phương pháp giải thường sử dụng?
- Đưa về hai tam giác bằng nhau, cộng
GV: Đào Thị Thu Hương
9
Trường THCS Đại Hùng
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
trừ các đoạn thẳng...
Bước 2. Học sinh vẽ hình, ghi giả thiết- kết luận
GT
KL
A
Hình thang cân ABCD
AB//CD
AC ∩ BD=E
EA= EB; EC= ED
1
E
D
?3. Để chỉ ra hai góc A
1
1
∆ ABC = ∆ BAD (c.g.c)
đưa về xét hai tam giác nào bằng
⇑
nhau?
⇑
⇑
⇑
?4. Hãy dự đoán chọn trường hợp
·
·
BA chung
AD=BC
BAD
= ABC
bằng nhau nào của hai tam giác để
⇑
⇑
c/m? Nêu các điều kiện của trường
hợp bằng nhau đó?
⇑
?5. Vì sao em có thể khẳng định
ABCD là hình thang cân
·
·
và AD = BC?
BAD
= ABC
AB//CD
⇑
(hai góc đáy)
·
·
⇒ BAD
∆ EAB cân tại E
= ABC
⇑
µ =B
µ
A
1
1
⇑
∆ ABC = ∆ BAD (c.g.c)
⇑
⇑
⇑
⇑
·
·
BA chung
AD=BC
BAD
= ABC
⇑
⇑
minh EA= EB thông qua c/m ∆ ECD cân tại E.
3.2.2: Ví dụ 2
Bài 16- sgk tập 1, trang 75 - Tiết 4. Luyện tập về hình thang cân
Bài toán: Cho tam giác ABC cân tại A, các đường phân giác BD, CE (D ∈ AC;
E∈ AB). Chứng minh rằng BEDC là hình thang cân có đáy nhỏ bằng cạnh bên
*)Bước 1: Học sinh phân tích đề bài
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
- Hãy xác định kiến thức trọng tâm có - Tam giác cân, đường phân giác, hình
liên quan?
thang cân
- Các cụm từ quan trọng?
- Tam giác ABC cân tại A, đường phân
giác BD, CE
GV: Đào Thị Thu Hương
11
Trường THCS Đại Hùng
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
- Dạng loại toán nào?
- Nhận biết hình thang cân và chứng
minh hai đoạn thẳng bằng nhau
*)Bước 2: HS vẽ hình, ghi giả thiết- kết luận
∆ ABC: AB=AC
2
⇑
·
·
AED
= ADE
⇑
∆AED cân
⇑
AE=AD
⇑
∆AEC = ∆ADB(c.g.c)
⇑
∆ ABC cân tại A
Hệ thống câu hỏi của thầy
-Để BEDC là hình thang cân thì cần
phải có điều kiện gì?
-Để ED//BC ta chứng minh theo dấu
hiệu nhận biết nào?
·
·
- Để c/m AED
ta chọn  là góc
= ABC
trung gian để so sánh như thế nào?
- Vì sao ∆AED cân?
BEDC là hình thang cân
ED=EB
*)Chứng minh DEBC là hình thang
BDEC là hình thang cân
cân
⇑
Ta có ∆ ABC cân (theo giả thiết)
⇑
⇑
·
nên ·ABC = ACB
(hai góc đáy)
·ABC = ACB
·
ED//BC
Mà
⇑
⇑
·ABD = 1 ABC
·
(vì BD là tia phân giác
·AED = ABC
·
2
ABC
cân
tại
A
∆
µ )
= ACE
Xét ∆ AEC và ∆ ADB có
µ chung.
A
AB=AC (vì ∆ ABC cân)
·
·
(theo cmt)
ABD
= ACE
=> ∆ AEC = ∆ ABD (g.c.g)
=> AE = AD (2 cạnh tương ứng)
13
Trường THCS Đại Hùng
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Do đó
µ
180 0 − A
·
Suy ra: AED =
2
µ
180 0 − A
·
Mặt khác ABC =
2
·
·
Mà BDE
(hai góc so le trong)
= DBC
·
·
Suy ra BDE
= ABD
⇑
⇑
·
·
BDE
= DBC
⇑
hai góc slt
∆ AED cân tại A.
⇑
=> ∆ EBD cân tại E
=> ED = EB (đpcm).
·
·
ABD
= DBC
- Hình bình hành
- Hình bình hành; trung điểm; đường
chéo
- Chứng minh hai đường thẳng song
song; các đoạn thẳng bằng nhau
*)Bước 2: HS vẽ hình, ghi giả thiết- kết luận
K
A
GT
KL
ABCD là hình bình hành
ID = IC; (I∈ DC)
AK = KB (K ∈ AB)
a) AI // CK
b) DM = MN = NB
B
N
M
D
C
I
IC = AK
…// ….
…. = …..
⇑
⇑
⇑
⇑
AB=DC
…….
………
⇑
⇑
⇑
AB//DC
⇑
⇑
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
DM=MN
MN= NB
⇑
⇑
DM=MN
⇑
⇑
⇑
⇑
MI//CN DI=IC
⇑
AK= KB
⇑
⇑
AKCI
....=.... ....= ....
⇑
AKCI
là hbh
...//...
⇑
........
⇑
AKCI
là hbh
.....
*)Bước 4. Học sinh trình bày lời giải dựa theo sơ đồ phân tích đi lên
Sơ đồ phân tích đi lên
Lời giải chi tiết
K
A
N
M
D
⇑
⇑
⇑
ABCD là hình bình hành
*) Sơ đồ c/m DM= MN= NB
DM= MN= NB
⇑
⇑
GV: Đào Thị Thu Hương
⇑
ABCD là hình bình hành
ID = IC; (I∈ DC)
AK = KB (K ∈ AB)
KL
a) AI // CK
b) DM = MN = NB
Chứng minh
a) Ta có ABCD là hình bình hành nên
AB//DC và AB =DC
Xét tứ giác AKIC có
IC//AK (vì AB//DC)
1
DC ( gt )
⇑
76-sgk) (1)
Chứng minh tương tự MN= NB (2)
Từ (1), (2) ta được DM = MN = NB
⇑
⇑
MI//CN DI=IC
⇑
⇑
AKCI
là hbh
giả thiết
⇑
AK= KB
⇑
AKCI
là hbh
⇑
KN//AI
ςAMN
*)Bước 3. GV nêu sơ đồ phân tích đi
lên tổng quát để học sinh định
hướng chứng minh
ςA'B'C' : ςABC
⇑
GV: Đào Thị Thu Hương
17
Trường THCS Đại Hùng
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
⇑
ςAMN : ςABC
⇑
A
ςAMN= ςA’B’C’
N
M
*)Bước 4. Học sinh trình bày lời giải
dựa theo sơ đồ phân tích đi lên và sự
gợi mở của giáo viên
Chứng minh
Đặt trên tia AB đoạn AM sao cho
AM =A’B’
Qua M kẻ MN//BC (N ∈ AC)
Ta có ςAMN : ςABC (*)
⇒
AM AN
=
AB AC
Vì AM= A’B’ nên
A ' B ' AN
=
(2)
AB
AC
Từ (1) và (2) suy ra AN =A'C'
Xét ςAMN và ςA'B'C' có:
AM =A'B' (theo cách dựng)
Â=Â’ (theo GT)
AN=A’C’ (theo c/m trên)
⇒ ςAMN =ςA'B'C' (cgc) (**)
Kết hợp (*) và (**) ta được
ςA'B'C' : ςABC (đpcm)
3.2.5: Ví dụ 5
Xây dựng sơ đồ phân tích đi lên tổng quát cho một số dạng toán
Sơ đồ 1
Tính độ dài
⇑
Lập tỉ lệ thức
⇑
Định lí Ta-Lét ( hoặc hệ quả)
x
C
Bài giải
Vì MN //BC (giả thiết), theo định lí Ta-Let,
ta có
AM AN
4
5
=
⇔ =
MB NC
x 8,5 − 5
4
5
4.3, 5
=
⇒x =
C
E 7
GT ∆ ABC, AB = 5 cm, AC = 6 cm
·
AE là tia phân giác của BAC
KL EB = ?; EC =?
Giải
·
Xét ∆ ABC có AE là tia phân giác của BAC
→ Theo tính chất đường phân giác trong tam
giác ta có:
BE EC BE + EC
BC
7
=
=
=
=
AB AC AB + AC AB + AC 13
19
Trường THCS Đại Hùng
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Hai tam giác đồng dạng → BE 7
=
DN
⇑
A
Lập tỉ lệ thức
⇑
1 2
Tính chất đường phân giác
của tam giác
⇑
Tia phân giác của góc
M
D
C
B
N
2.Dạng tính tỉ số (Bài 44 a)
ςABC,
GT
KL
Sơ đồ phân tích tổng quát
⇒ ςMAB :
GV: Đào Thị Thu Hương
20
ςNAC
Trường THCS Đại Hùng
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Tỉ số cần tính
⇑
Tỉ lệ thức
⇑
Hai tam giác đồng dạng
⇑
Một trong các trường hợp đồng
dạng của tam giác
3.Dạng chứng minh hệ thức
(Bài 44 b)
Sơ đồ phân tích tổng quát
Hệ thức cần c/m
=
Do đó
CN
DN
BM AM
=
Mà
(theo câu a)
CN
AN
AM DM
=
Vậy
(đpcm)
AN
DN
⇑
Tỉ số đồng dạng
⇑
Hai tam giác đồng dạng
⇑
Một trong các trường hợp đồng
dạng của tam giác
3.2.6: Ví dụ 6.
Dạy thực nghiệm chuyên đề tại buổi sinh hoạt tổ chuyên môn
a) Giáo án (Phụ lục)
THCS Đại Hùng với đối tượng là học sinh đại trà
Sau một năm học thực hiện đề tài tôi đã nhận thấy đề tài tác động đến HS với
kết quả cụ thể như sau:
Nội
Trước khi thực hiện đề tài
Sau khi thực hiện đề tài
dung
* Về
- Học sinh còn lơ mơ về cách
- Học sinh đã nắm chắc về cách
kiến
giải các dạng toán hình của lớp giải các dạng toán hình của lớp 8
thức: 8 như c/m hai đoạn thẳng bằng như c/m hai đoạn thẳng bằng nhau,
nhau, hai góc bằng nhau, hai
hai góc bằng nhau, hai đường thẳng
đường thẳng song song, vuông song song, vuông góc, Nhận biết tứ
góc, Nhận biết tứ giác đặc biệt, giác đặc biệt, tính độ dài, c/m hai
tính độ dài, c/m hai tam giác
tam giác đồng dạng, c/m hệ thức.....
đồng dạng, c/m hệ thức.....
Đa số học sinh không những hiểu
- Nhiều học sinh hiểu lời giải
lời giải của riêng từng bài toán mà
của riêng từng bài toán mà
còn nhận biết nhanh các đặc điểm
không thấy được các đặc điểm chung của những bài toán trong
chung của những bài toán cùng cùng một dạng loại
một dạng loại
* Về
- Học sinh rất lúng túng trong
40 % số học sinh làm được.
- Nhiều em rất tự tin trong việc học
và vận dụng các kiến thức cơ bản
vào giải toán kể cả dạng bài nâng
cao, mở rộng.
+ Đối với bài tập vận dụng kiến
thức cơ bản đã có trên 70% số học
sinh làm tốt; 20% biết cách giải
nhưng trình bày chưa chặt chẽ.
+ Đối với bài tập ở dạng nâng cao
+ Trong đó đối với bài tập ở đạt tới 20% học sinh làm tốt và
dạng nâng cao chỉ có 10 % học 20% HS bước đầu biết cách giải;
sinh làm được.
20% HS chưa tự mình làm được bài
nhưng khi bạn hoặc GV chữa thì
cũng hiểu được lời giải đó. Chỉ có
20% hiểu lơ mơ và 20% chưa hiểu
gì lời giải các bài toán nâng cao…
* Về
tư
duy:
-Qua việc tìm hiểu học sinh tôi
biết được: Các em rất ngại khi
phải giải những bài toán hình
phức tạp phải vận dụng nhiều
định nghĩa, khái niệm, định lí,
hệ quả, nhất là những bài toán
cần có nhiều bước lập luận, cần
Trường THCS Đại Hùng
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
tư duy như so sánh, phán đoán,
khái quát hóa, đặc biệt hóa,....
còn chưa thành thạo
các thao tác tư duy như so sánh,
phán đoán, khái quát hóa, đặc biệt
hóa,.... thành thạo trong quá trình
xây sựng sơ đồ phân tích đi lên. Các
em còn biết thay đổi dữ kiện trong
một số bài toán để phát triển nâng
cao, mở rộng bài toán. HS đã bước
đầu hình thành thói quen suy nghĩ
bài toán dưới nhiều góc độ khác
nhau
Từ đó các em có cảm giác rất - HS có sự say mê học môn hình
sợ giải toán hình học
học, cảm thấy môn hình rất thú vị,
giúp phát triển rất tốt khả năng tư
duy trong nhiều môn học khác và
vận dụng vào suy nghĩ các tình
huống thực tế của cuộc sống.
*)Kết quả đối chứng trước và sau khi thực hiện đề tài
Tổng số học sinh: 40 em
Trước khi thực hiện đề tài
Sau khi thực hiện đề tài
Số lượng
khuyến khích, xếp thứ 7/30 của huyện.
Qua kết quả thu được ở trên tôi thấy số HS khá giỏi đã tăng lên, số HS yếu
kém đã giảm đi rõ rệt. Như vậy đề tài có tác dụng rất tốt cho HS.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
- Ý nghĩa của SKKN đối với công việc giảng dạy, giáo dục, quản lí.
Việc áp dụng SKKN vào giảng dạy đã góp phần nâng cao hơn chất lượng môn
toán nói chung và phân môn hình học nói riêng giúp giáo viên có được những
đổi mới về phương pháp giảng dạy làm cho giờ dạy sinh động hấp dẫn hơn. Học
sinh thì có được một cách suy nghĩ tìm tòi lời giải bài toán hình khoa học và dễ
thành công hơn.
- Những nhận định chung về việc áp dụng và khả năng phát triển SKKN.
GV: Đào Thị Thu Hương
24
Trường THCS Đại Hùng
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Việc áp dụng SKKN này trong quá trình dạy học rất dễ dàng thuận tiện và
thường xuyên, liên tục, ở mọi giờ học, cả tiết dạy bài mới, tiết ôn tập hay tiết
luyện tập.
Khả năng vận dụng và phát triển SKKN đối với môn toán và các môn học
khác là rất khả thi.
Đề tài còn có thể tạo cho học sinh thói quen tư duy hành động trong cuộc
sống. Ví dụ có thể rút ra bài học như: Để trở thành học sinh giỏi toàn diện em
cần phải làm gì? Để làm một bài văn hay em phải bắt đầu từ đâu? Để đạt được
ước mơ trở thành một kiến trúc sư em phải học tốt các môn học và thi đỡ vào
trường đại học nào?.....
25
Trường THCS Đại Hùng