ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG THỊ PHƯƠNG HIỀN
KIỆN TOÀN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ NHẰM
TĂNG CƯỜNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở
NÔNG THÔN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG THỜI
KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Tóm tắt luận văn thạc sĩ Chính trị học
HÀ NỘI - 2012
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG THỊ PHƯƠNG HIỀN
KIỆN TOÀN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ NHẰM
TĂNG CƯỜNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở
NÔNG THÔN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG THỜI
KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 20
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS VŨ VĂN HIỀN
Tư bản chủ nghĩa
HTCT
Hệ thống chính trị
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hoá
HĐND
Hội đồng nhân dân
UBND
Uỷ ban nhân dân
ANTT
An ninh trật tự
Nxb
Nhà xuất bản
4
MỤC LỤC
40
45
50
NHẰM TĂNG CƯỜNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI NÔNG THÔN
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG THỜI KỲ CNH, HĐH
2.1. Thực trạng của HTCT cấp xã và những tác động, ảnh hưởng
của nó đến tình hình an ninh, ổn định chính trị - xã hội nông thôn vùng
đồng bằng sông Hồng
2.1.1. Thực trạng của HTCT cấp xã và một số đặc điểm có liên
quan đến hoạt động của HTCT cấp xã vùng đồng bằng sông Hồng
2.1.2. Những hoạt động chủ yếu của HTCT cấp xã có ảnh hưởng
đến ổn định chính trị - xã hội nông thôn
2.2. Giải pháp kiện toàn HTCT cấp xã nhằm tăng cường ổn định
chính trị - xã hội ở nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ
CNH, HĐH
2.2.1. Một số dự báo có liên quan
2.2.2. Một số giải pháp kiện toàn hệ thống chính trị cấp xã nhằm
tăng cường ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn vùng đồng bằng sông
Hồng thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
50
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
102
phát triển của đất nước, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH. Ngược lại, nông
nghiệp, nông thôn không ổn định, đời sống của nông dân không được đảm bảo
sẽ tác động xấu đến tình hình kinh tế - xã hội, thậm chí có thể dẫn tới khủng
hoảng chính trị xã hội của đất nước.
Thực tế những năm qua đã khẳng định, ổn định chính trị - xã hội ở nông
thôn vừa là điều kiện đảm bảo đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn,
vừa trực tiếp góp phần quyết định việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên
phạm vi cả nước, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng để bước vào thời kỳ mới.
Tuy nhiên, dưới tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, thực trạng
6
kinh tế xã hội nông thôn nước ta vẫn đang đứng trước khó khăn, thách thức mới:
tốc độ phát triển công nghiệp và đô thị hoá nhanh làm cho diện tích đất nông
nghiệp ngày càng thu hẹp, tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường đã
tạo ra sự phân hoá giàu nghèo và tình trạng thất nghiệp do lao động xã hội dư
thừa, dân chủ ở cơ sở chưa được tôn trọng, quyền lợi của người dân bị xâm
hại…Bên cạnh đó, hoạt động tội phạm và các tệ nạn xã hội ngày càng tăng, hoạt
động quản lý nhà nước về kinh tế xã hội và công tác tổ chức, điều hành hệ thống
chính quyền cơ sở còn nhiều yếu kém. Hệ thống chính sách, pháp luật còn nhiều
bất cập, nhất là chính sách về nông thôn, nông nghiệp và nông dân chậm đổi
mới. Trong khi đó, một bộ phận cán bộ, đảng viên năng lực, trình độ yếu, suy
thoái về phẩm chất đạo đức dẫn đến tham nhũng, tiêu cực, hách dịch, cửa quyền,
ức hiếp quần chúng, vi phạm lợi ích và quyền làm chủ của người dân lao động;
trình độ nhận thức của nông dân còn hạn chế dễ bị các phần tử xấu lôi kéo, kích
động. Đặc biệt trong những năm gần đây, khu vực nông thôn đã và đang tiềm ẩn
những nhân tố mà các thế lực thù địch, các phần tử phản động, cơ hội chính trị
và các phần tử xấu khác có thể lợi dụng để gây mất ổn định chính trị - xã hội ở
nông thôn. Do đó, việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn nước ta
hiện nay đang là vấn đề đuợc Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm.
Trên lĩnh vực nghiên cứu đã có nhiều công trình khoa học cấp Nhà nước,
cấp Bộ dành sự quan tâm phân tích, lý giải về ý nghĩa và tầm quan trọng của ổn
định chính trị - xã hội nước ta trong thời kỳ mới. Chẳng hạn, Chương trình KX
05: “HTCT trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta” (Chủ nhiệm chương
trình: GS Nguyễn Đức Bình); “Mẫu hình và con đường hình thành cán bộ lãnh
đạo chính trị chủ chốt cấp cơ sở” (Chủ nhiệm đề tài: GS, TS Đỗ Nguyên
Phương); đề tài: “nghiên cứu một số vấn đề nhằm củng cố và tăng cường HTCT
ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay” (Chủ nhiệm đề tài: GS,TS
Hoàng Chí Bảo); đề tài Khoa học cấp Nhà nước KX – 03 – 02: “Xây dựng hệ
thống chính trị và đội ngũ cán bộ ở cơ sở” (Chủ nhiệm đề tài: PGS,TS Vũ
Hiền)…Các đề tài trên đã nghiên cứu một cách cơ bản về HTCT, về cán bộ lãnh
đạo, quản lý; thực trạng HTCT và đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp; giải pháp tiếp
8
tục đổi mới, nâng cao chất lượng HTCT và đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp nói
chung và ở cơ sở nói riêng.
Tuy không đề cập trực tiếp đến vai trò của HTCT cấp cơ sở trong việc giữ
vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn nhưng các đề tài trên đã quan tâm
nghiên cứu mối quan hệ giữa HTCT trong việc đảm bảo ổn định chính trị ở nước
ta; vai trò của HTCT và cán bộ lãnh đạo quản lý ở cơ sở đối với sự phát triển
kinh tế, xã hội ở nông thôn. Các đề tài KX 09 – 04: “Chiến lược diễn biến hoà
bình, bạo loạn, lật đổ và đối sách của ta”; đề tài KX 04 – 14: “Đổi mới chính
sách xã hội nhằm đảm bảo an ninh xã hội”; đề tài BA 97 – 104 – 102: “An ninh
nông thôn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta - thực trạng và
giải pháp” (Chủ nhiệm đề tài Nguyễn Đức Minh); đề tài “Một số nhân tố chủ
yếu có khả năng gây mất ổn định chính trị ở nước ta hiện nay” (Chủ nhiệm đề
tài Nguyễn Văn Vĩnh)… đều đề cập đến mối quan hệ giữa giữ vững ổn định
chính trị với việc chống lại chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù
địch; quan hệ mật thiết giữa ổn định, mất ổn định chính trị - xã hội với việc thực
trong quản lý điện nông thôn là góp phần tích cực làm ổn định an ninh nông
thôn”, Tạp chí Công an nhân dân, số 5/2002; Trịnh Thị Giới: “Một số vấn đề rút
ra về giải quyết điểm nóng về an ninh trật tự”, Tạp chí Công an nhân dân, số
4/2006; Vũ Xuân Trường: “Một số vấn đề về phát hiện, giải quyết mâu thuẫn, va
chạm trong nhân dân giữ gìn trật tự an toàn xã hội tại địa bàn cơ sở”, Tạp chí
Công an nhân dân, số 6/2008; Phạm Văn Xuân: “Công tác công an góp phần bảo
đảm an ninh nông thôn ở Vĩnh Phúc, thực tiễn và kinh nghiệm”, Tạp chí Công
an nhân dân, số 8/2010. Mai Đức Ngọc, luận án tiến sĩ chính trị học, 2007: “Vai
trò cán bộ chủ chốt cấp xã trong việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông
thôn nước ta hiện nay”. Phạm Xuân Nguyên, luận văn thạc sĩ chính trị học,
2009: “Điểm nóng khiếu kiện liên quan đến đất đai ở nông thôn đồng bằng Bắc
Bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Đặng Thị Thanh Hoa, luận văn
thạc sĩ chính trị học, 2009: “Đảm bảo an ninh nông thôn vùng đồng bằng sông
Hồng trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa”…
Trong những công trình nêu trên, các tác giả đã phân tích, lý giải khá rõ
về ổn định, mất ổn định; vai trò của ổn định chính trị đối với việc đẩy mạnh
10
CNH, HĐH; những nhân tố đảm bảo ổn định chính trị… Vấn đề vai trò của
HTCT cấp xã cũng được đề cập và nhấn mạnh như một yêu cầu; một yếu tố trực
tiếp đảm bảo thực hiện thành công qua strình CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn. Mặt khác, từ thực tiễn các điểm nóng ở địa bàn nông thôn thời gian qua,
nhiều tác giả nhấn mạnh đến tính cấp thiết phải nâng cao HTCT cấp xã, chỉ ra
những yếu kém, bất cập của HTCT cấp xã. Một số công trình nghiên cứu về an
ninh nông thôn cũng chỉ ra nguyên nhân của việc xuất hiện các điểm nóng, mâu
thuẫn nội bộ nhân dân, tình trạng khiếu kiện, xung đột ở nông thôn từ sự yếu kém
của HTCT cấp xã; phân tích ảnh hưởng của nó đối vói việc giữ vững ổn định chính
trị - xã hội của đất nước…Có thể nói vấn đề vai trò của HTCT và ổn định chính trị
- xã hội ở nông thôn đã được đề cập phân tích dưới những góc độ, cấp độ khác
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu thực trạng hoạt động của HTCT cấp xã đặt trong mối
quan hệ với việc giữ vững, tăng cường ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn vùng
đồng bằng sông Hồng thời kỳ CNH, HĐH (từ 2005 đến nay). Đồng thời luận văn
chỉ nghiên cứu HTCT ở xã, không bao gồm HTCT ở phường, thị trấn.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nhiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận:
Dưới góc độ Chính trị học, luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt nam
về HTCT. Đồng thời luận văn còn kế thừa kết quả nghiên cứu của một số công
trình trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài đã được công bố.
- Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu các vấn đề trên tôi chủ yếu dự vào phương
pháp thu thập và xử lý thông tin dữ liệu. Khi xử lý, tác giả sử dụng các phương
pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp logic và phương pháp lịch sử, phương
pháp hệ thống, phương pháp so sánh và các phương pháp xã hội học, phương
pháp điều tra, khảo sát thực tiễn, khái quát và so sánh các quan điểm, các nhận
12
xét khác nhau của nhiều tác giả về một vấn đề. Đồng thời kết hợp với kiến thức,
kinh nghiệm của bản thân để lập luận, kiến giải các vấn đề đã nêu trên.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Trên cơ sở làm rõ khái niệm HTCT cấp xã, ổn định chính trị - xã hội những
biểu hiện ổn định, mất ổn định chính trị - xã hội luận văn chỉ ra mối quan hệ giữa
kiện toàn HTCT cấp xã và tăng cường ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn đồng
bằng sông Hồng, theo đó, cơ chế, chức năng vận hành của hệ thống có vai trò quan
trọng nhất. Qua đó tìm ra các giải pháp cụ thể nhằm góp phần vào việc kiện toàn
HTCT cấp xã khu vực này trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn.
học Xô viết mới dùng khái niệm hệ thống chính trị.
Trong khi đó, khoa học chính trị ở các nhà nước tư bản chủ nghĩa, ít
nhất từ những năm 50 của thế kỷ XX, người ta đã dùng khái niệm này, ví dụ
như trong các cuốn sách: The political system of the F.R.G hoặc Le system
politique des Etats…. Tuy nhiên, rất khó có thể tìm thấy định nghĩa về khái
niệm, song dù sau đó vẫn là những nghiên cứu về các thiết chế và thể chế có
chức năng thực hiện hoặc tham gia và quyền lực chính trị, thực hiện sự lãnh
đạo, điều hành đất nước.
Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm hệ thống chính trị được sử dụng trong
Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (năm
1990). Và cho đến nay khái niệm này được sử dụng phổ biến với hai quan niệm
sau đây:
Quan niệm rộng, coi hệ thống chính trị không chỉ bao gồm các tổ chức,
thiết chế, mà còn bao gồm cả các quan điểm, tư tưởng, truyền thống chính trị. Ví
dụ, “Hệ thống chính trị là hệ thống các nhân tố bao gồm nhà nước, các đảng
phái, công đoàn, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức và phong trào theo đuổi mục
đích chính trị, các chuẩn mực, truyền thống và các chế định”.
Cũng có người coi hệ thống chính trị của nhân dân dưới mọi hình thức và
như vậy bao gồm cả thể chế dân chủ trực tiếp và gián tiếp như trưng cầu ý dân,
thăm dò dư luận. v.v…
Nhược điểm của quan niệm này là có thể lẫn lộn khái niệm này với khái
niệm có tính triết học là thượng tầng chính trị.
Quan niệm hẹp, xuất phát từ góc độ Hiến định hoặc pháp định, nghĩa là
chỉ xem tổ chức, thiết chế nào được Hiến pháp, pháp luật quy định rõ ràng thì
mới thuộc thành phần của hệ thống chính trị.
Nhược điểm của quan niệm này là không thấy sự tồn tại và ảnh hưởng
thực tế và chính trị của nhiều tổ chức, nhiều thiết chế khác đang tồn tại hiện
15
đạo, điều hành đất nước. Đây là điểm để phân biệt với những tổ chức, thiết chế
mang tính xã hội, kinh tế, văn hóa … khác.
Cần lưu ý, khi nói các tổ chức, thiết chế có chức năng thực hiện hoặc
tham gia thực hiện quyền lực chính trị thì cũng hàm ý giữa chúng có mối liên hệ
nhất định. Do đó, khi nghiên cứu về hệ thống chính trị không thể đề cập tới mối
liên hệ có tính chức năng giữa các tổ chức, thiết chế đó.
1.1.1.2. Đặc điểm Hệ thống chính trị ở Việt Nam
Có thể nói nói HTCT nước ta về cơ bản được tổ chức gần giống như
HTCT nhiều nước. HTCT nước ta bao gồm Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một
số tổ chức chính trị, xã hội...Các bộ phận này được kết nối với nhau theo những
quan hệ, những cơ chế và nguyên tắc vận hành nhất định, trong một môi trường
văn hoá chính trị đặc thù. Chính vì vậy HTCT nước ta có những đặc điểm riêng
sau đây:
Thứ nhất, HTCT nước ta do duy nhất một Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo. Đặc điểm này vừa mang tính phổ biến đối với HTCT các nước xã hội chủ
nghĩa, vừa mang tính đặc thù. Tính đặc thù đó được quy định bởi vai trò, vị trí,
khả năng lãnh đạo, uy tín lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thứ hai, HTCT nước ta là HTCT xã hội chủ nghĩa, được xây dựng theo
mô hình Xôviết, mặc dù đang trong quá trình đổi mới hoàn thiện nhưng ảnh
hưởng của chế độ tập trung quan liêu, bao cấp trong mô hình ấy đang còn nặng
nề cả trong cách nghĩ, cách làm của đảng viên và nhân dân, cũng như tổ chức và
thực thi quyền lực nhà nước.
Thứ ba, nền hành chính nhà nước, một bộ phận quan trọng của nhà nước
ta còn rất non trẻ lại hầu như không được kế thừa gì từ quá khứ (chế độ phong
kiến), bị ảnh hưởng nặng của mô hình tập trung quan liêu cao độ, nhưng phải
thực hiện một loạt nhiệm vụ lịch sử mới mẻ và to lớn.
* Cấu trúc của HTCT nước ta:
17
18
trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp
trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân, có chức năng, nhiệm vụ bảo
vệ Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước ta.
Hệ thống toà án ở nước ta bao gồm: Toà án nhân dân tối cao, các toà án
quân sự và các toà án khác do luật định.
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp, các viện Kiểm sát nhân dân địa phương, các viện Kiểm sát
quân sự, thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm
vi trách nhiệm do luật định.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số thành viên của Mặt trận là một bộ
phận của HTCT. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên
hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội
và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn
giáo và người Việt Nam định cư tại nước ngoài.
* Các quan hệ chính trị: Trong HTCT nước ta, các quan hệ chính trị được
xác lập do một cơ chế chủ đạo: Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước
quản lý.
Đảng lãnh đạo bằng những phương thức sau:
- Lãnh đạo bằng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, thông qua các nghị
quyết của tổ chức Đảng từ nghị quyết Đại hội Đảng đến nghị quyết chi bộ cơ sở.
- Lãnh đạo bằng giáo dục, tuyên truyền vận động nêu gương.
- Lãnh đạo bằng công tác tổ chức cán bộ.
- Lãnh đạo bằng công tác kiểm tra.
Nhân dân làm chủ được thể hiện:
19
20
hiểu là một sự khu biệt hóa nhằm làm rõ những đặc điểm cụ thể của hệ thống, đồng
thời thấy được tính phức tạp, đa dạng của nó trong thực tiễn hiện nay.
HTCT ở xã tại Việt Nam hiện nay được các tài liệu chính thống như văn
kiện Đảng, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam xác định gồm ba bộ phận: Đảng (tổ
chức đảng ở xã); chính quyền xã (Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân); Mặt
trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tại xã. Đây là ba bộ phận tương ứng
với ba bộ phận chính trong HTCT nêu trên (đảng, nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội), song đã có những thay đổi nhất định phù hợp với những đặc thù ở xã.
Như vậy, HTCT ở xã là toàn bộ các thiết chế chính trị hợp pháp ở xã gắn
bó hữu cơ với nhau, được tổ chức và hoạt động theo nhưng nguyên tắc nhất
định, thể hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước và quyền làm chủ
của nhân dân.
HTCT ở xã có một số đặc điểm sau:
- Là cấp thấp nhất trong HTCT ở Việt Nam và có bộ máy đơn giản nhất.
Đây là đặc điểm xét theo khía cạnh thứ bậc có tính pháp lý của hệ thống
chính trị. Hiện nay, cả tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể đều phát triển
xuống thôn, bản, ấp. Ở đó có đội ngũ trưởng thôn, trưởng bản, trưởng ấp như
cánh tay nối dài của chính quyền xã; có tổ chức chi bộ, có ban công tác mặt trận,
có chi hội cựu chiến binh, chi đoàn thanh niên, v.v… Hơn nữa cấp xã có xu
hướng dồn nhiều việc cho cấp thôn, bản. Song cấp thôn, bản không phải là một
cấp độc lập có ngân sách, con dấu, có tư cách pháp nhân. Do vậy về cơ bản cấp
xã vẫn là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền nói riêng và hệ thống chính
trị nói chung ở Việt Nam. Và đây là điều cần phải duy trì, không vì đổi mới mà
làm mất đi tính chất này của cấp xã.
- Là cấp gần dân nhất và các cán bộ chủ chốt hoàn toàn phụ thuộc vào lá
phiếu trong các kỳ bầu cử.
Đặc điểm này vừa mang tính thể chế, vừa mang tính thực tế. Với tư cách
không thể bổ nhiệm, điều động cán bộ chủ chốt ở cơ sở được. Thực tế, nhiều
người đã trở thành cán bộ xã vì trước đó phải ở lại quê với những lý do: gia
cảnh; sức khỏe kém không thoát ly được; thanh niên không thi đỗ đại học, cao
22
đẳng; thương binh, bộ đội xuất ngũ; cán bộ về hưu, về mất sức, v.v.) Trong đó,
đối tượng chiếm tỷ lệ cao nhất là bộ đội xuất ngũ, người về hưu.
- Là cấp mà chi phí nhà nước tính trên đầu cán bộ thấp nhất.
Đây là đặc điểm xét trên khía cạnh chi phí tài chính cho một bộ máy hoạt
động. Do quan niệm công việc ở cấp cơ sở đơn giản, ít phức tạp (điều này thực
tế hiện nay chứng minh là không đúng, ít nhất là ở phường, thị trấn, xã vùng
đồng bằng), cán bộ không cần chuyên môn cao, v.v. nên chi phí của nhà nước
cho bộ máy và hoạt động tính trên đầu cán bộ ở mức thấp nhất.
- Là cấp mà hiệu quả hoạt động của cả hệ thống phụ thuộc rất lớn vào cá
nhân người lãnh đạo.
Đây là đặc điểm xét trên hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Khác
với các cấp trên, ở cấp xã mức độ phụ thuộc của tổ chức đảng, chính quyền,
đoàn thể vào cá nhân lãnh đạo lớn hơn rất nhiều và có thể nói, phụ thuộc một
cách quyết định vào cá nhân người lãnh đạo. Bởi lẽ quần chúng ở nông thôn,
trong phạm vi làng xã thường thụ động hơn. Các đoàn viên, hội viên của các
đoàn thể, vì nhiều lý do, thường không chủ động đề xuất ý kiến với tổ chức mà
phải chờ đợi sự chỉ đạo, gợi mở, tác động của lãnh đạo. Mặt khác, trong tổ chức
bộ máy của Đảng, chính quyền, đoàn thể hầu như không có người tham mưu,
không có người giúp sức. Do đó, người lãnh đạo phải trở thành linh hồn, đầu
tàu, đầu nghĩ, miệng nói, tay làm, chân đi, tai lắng nghe. Nếu người lãnh đạo nào
làm được điều đó thì phong trào khá, ngược lại thì phong trào trầm lắng, trì trệ.
Như Bác Hồ đã từng nói: có cán bộ thì có tất cả, cán bộ là gốc của phong trào...
trong phạm vi cấp xã câu nói đó càng đúng hơn bất kỳ khi nào.
- Là cấp mà quan hệ dòng họ, văn hóa ứng xử truyền thống có ảnh hưởng
được điều đó họ phải thực sự gần dân, sát dân, thân dân để nắm bắt được những
tâm tư, nguyện vọng của dân, giúp đỡ họ tổ chức và tạo dựng cuộc sống. Và chính
trong quá trình đó, họ tự hoàn thiện phẩm chất và năng lực của bản thân mình, từ
đó quyết định đến hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị cơ sở.
Mặt khác, chúng ta cũng nhận thấy kinh tế thị trường tác động đến HTCT
cấp xã ở một góc độ khác:
24
Đối với cá nhân: Những thay đổi của tư duy kinh tế, quan niệm về giá trị
sẽ dễ dẫn đến sự so sánh thiệt hơn trong cuộc sống. Vì kinh tế, một số cán bộ đã
lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để mưu lợi cá nhân và gia đình; hoặc
chạy chức, quyền và tạo thành những phe nhóm cùng chung lợi ích. Do đó, việc
bố trí, sử dụng, đánh giá cán bộ sẽ bị tác động theo hướng tiêu cực, làm giảm
hiệu quả hoạt động của tổ chức cũng như của cả hệ thống.
Đối với tổ chức: Thay đổi quan niệm giá trị cũng tác động việc phân công,
phân nhiệm giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị ở cơ sở, qua đó ảnh
hưởng tới vị trí, vai trò của mỗi tổ chức. Theo lý thuyết, chế độ ta là chế độ
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, song trong thực tiễn của
địa phương, những tổ chức, bộ phận nắm giữ kinh tế, quyền lợi kinh tế có vị trí,
vai trò “dường như” quan trọng hơn các tổ chức, bộ phận khác, và do đó, những
tổ chức này dường như có tiếng nói quyết định hơn. Thực tế ở các địa phương
hiện nay, do vị trí, vai trò và chức năng của mình, Ủy ban nhân dân là bộ phận
quản lý, nắm giữ các nguồn lực kinh tế tại địa phương, do vậy, trong một số
trường hợp, “dường như” tiếng nói của Chủ tịch Ủy ban nhân dân có trọng
lượng hơn tiếng nói của Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch
Mặt trận Tổ quốc và lãnh đạo các đoàn thể khác; vai trò của Ủy ban nhân dân
“dường như” cũng quan trọng hơn vai trò của Hội đồng nhân dân – cơ quan
quyền lực của nhà nước ở địa phương. Trong khi đó, với tư cách là hạt nhân
lãnh đạo hệ thống, hoạt động của Đảng uỷ xã trong những trường hợp này