giáo dục giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức mới cho thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở tỉnh sóc trăng - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VÀ GIÁ TRỊ
ĐẠO ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN NAY Ở TỈNH SÓC TRĂNG
Chuyên ngành Sƣ Phạm Giáo Dục Công Dân
Mã nghành: 52140204

Giáo viên hƣớng dẫn

Sinh viên thực hiện:

ThS. GVC. Nguyễn Đại Thắng

Nguyễn Thị Bích Hẹn
MSSV: 6106612

CầnThơ, tháng 11 năm
2013


Mục lục
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài……………………………………………………… 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài……………………………….. 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu……………………………………………. 3

2.3. Thực trạng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống và giáo dục giá
trị đạo đức mới cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện
nay ở tỉnh Sóc Trăng………………………………………………………………52
2.3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử, văn hóa và kinh tế - xã
hội ở tỉnh Sóc Trăng………………………………………………………………...52
2.3.1. Thực trạng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức
mới cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay………….57
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VÀ
GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN TRONG THỜI KÌ CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN NAY Ở TỈNH SÓC TRĂNG
3.1. Phƣơng hƣớng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền
thống và giá trị đạo đức mới cho thanh niên hiện nay trong thời kì công nghiệp
hóa, hiện đại hóa hiện nay ở Sóc Trăng…………………………………………..66
3.1.1. Quán triệt những quan điểm của Đảng, đổi mới nhận thức đối với việc
giáo dục đạo đức truyền thống và đạo đức mới cho thanh niên hiện nay…………...66


3.1.2. Kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống kết hợp với tiếp thu các
giá trị đạo đức nhân loại trong việc xây dựng đạo đức mới cho thanh niên………...69
3.1.3. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức truyền thống và đạo
đức mới cho thanh niên……………………………………………………………...72
3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống và giá trị đạo đức mới cho thanh niên hiện nay trong thời kì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở Sóc Trăng………………………………….75
3.2.1. Phát huy tính tự giác và tích cực chủ động học tập, rèn luyện giá trị đạo
đức của thanh niên…………………………………………………………………..75
3.2.2. Tạo môi trường kinh tế - văn hóa - xã hội lành mạnh cho thanh niên…..77
3.2.3. Kết hợp giữa giáo dục gia đình, nhà trường, đoàn thể với xã hội……….81
3.2.4. Đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức giáo dục đạo đức cho thanh

và vai trò hàng đầu trong dựng nước và giữ nước. Bởi họ là những chủ nhân tương
lại của đất nước, họ là đội ngũ tri thức trẻ có khả năng tiếp thu nhanh nhạy nhất,
những tiến bộ của thời đại, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ.
Sóc Trăng là một vùng đất có số dân cư tương đối lớn, trong đó thanh niên
chiếm số lượng đông, đây là lực lượng nòng cốt cho sự phát triển kinh tế - xã hội cho
tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung. Theo suốt chiều dài của lịch sử và truyền
thống văn hóa dân tộc thì vùng đất Sóc Trăng là vùng với những tên người, tên đất
lẫy lừng. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
lớp lớp các thế hệ thanh niên Sóc Trăng đã góp phần đấu tranh giành độc lập, thống
nhất Tổ quốc và xây dựng quê hương Sóc Trăng anh hùng. Trong thời kì đổi mới, thế

1


hệ thanh niên Sóc Trăng đã có những cống hiến to lớn với những tấm gương anh
hùng trong chiến đấu, học tập, lao động sản xuất. Điều đó đã có tác dụng lôi cuốn,
giáo dục thanh niên nói chung và thanh niên trong tỉnh nói riêng. Trong sự nghiệp
đổi mới đất nước, sự chuyển biến mạnh mẽ của điều kiện kinh tế - xã hội đã và đang
ảnh hưởng trực tiếp đến lớp người trẻ tuổi nói chung và thanh niên Sóc Trăng nói
riêng. Và thực tiễn chứng tỏ rằng, tương lai của mỗi dân tộc phụ thuộc một phần rất
lớn vào thế hệ trẻ nói chung, thanh niên nói riêng. Liệu chúng ta có thể giữ vững
định hướng xã hội chủ nghĩa khi thanh niên bị phai nhạt lý tưởng, thiếu ý thức giữ
gìn những giá trị truyền thống dân tộc? Trong những điều kiện mới của đất nước,
chúng ta đã chuẩn bị "hành trang" gì cho họ? Điều tiên quyết và không thể thiếu đó
là "truyền thống dân tộc", những truyền thống đáng tự hào của lịch sử mấy nghìn
năm dựng nước và giữ nước đã giúp chúng ta "hội nhập" mà không bị "hòa tan", phát
triển mà không bị "mất gốc", trọng truyền thống mà không bảo thủ, tất cả những điều
đó đã và đang giúp cho thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên Sóc Trăng nói
riêng nâng cao hơn nữa bản lĩnh của mình, đứng vững trước mọi thử thách khắc
nghiệt của cuộc sống hiện đại. Với ý nghĩa đó, vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền

đạo đức mới cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở
tỉnh Sóc Trăng.
Tập trung đi sâu và làm rõ một số nội dung quan trọng của đề tài nghiên cứu:
+ Những quan điểm của các nhà triết học Mác – Lênin, quan điểm của Đảng,
nhà nước, chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức truyền thống, đạo đức mới và việc giáo
dục giá trị đạo đức truyền thống, giá trị đạo đức mới cho thanh niên trong thời kì
công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
+ Làm rõ vai trò của đạo đức truyền thống và đạo đức mới đối với việc hình
thành nhân cách của thanh niên cũng như vai trò, trách nhiệm của thanh niên trong
thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
+ Thực trạng việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức mới
cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở tỉnh Sóc
Trăng.
+ Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo đạo đức truyền
thống và đạo đức mới cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay ở tỉnh Sóc Trăng.
- Phạm vi nghiên cứu: Đạo đức và vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
và giá trị đạo đức mới cho thanh niên ở Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa,
hiện đại hóa hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu.
- Cơ sở lý luận: luận văn này dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về đạo đức, giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức mới. Ngoài

3


ra, có tham khảo, kế thừa các một số bài viết được viết trong sách hoặc được đăng
lên tạp chí để làm sáng tỏ nội dung của đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện

là những yêu cầu, nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo.
Ở phương Tây, vấn đề đạo đức từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà tư
tưởng. Cho đến nay, người ta vẫn coi Xôcrát (469 - 399 trước công Nguyên) là người
đầu tiên đặt nền móng cho khoa học đạo đức học. Arixtốt (384 - 322 trước công
Nguyên) đã viết bộ sách Đạo đức học với 10 cuốn, trong đó ông đặc biệt quan tâm
đến phẩm hạnh con người nội dung của phẩm hạnh chính là ở chổ biết định hướng
đúng biết làm việc thiện. Ông nói: chúng ta bàn về đạo đức không phải chỉ biết đức
hạnh là gì, mà là để trở thành con người có đức hạnh.
Những nhà triết học duy vật trước Mác, tiêu biểu là Phoiơbắc, đã nhìn thấy đạo
đức trong quan hệ giữa con người với con người. Nhưng, với ông, con người chỉ là
một thực thể trừu tượng, bất biến; con người nhân bản, nghĩa là con người ở bên
ngoài lịch sử, đứng trên giai cấp, dân tộc và thời đại.

5


Những người theo quan điểm Đácuyn xã hội đã tầm thường hóa chủ nghĩa duy
vật bằng việc cho rằng, những phẩm chất đạo đức của con người là đồng nhất với
bản năng bầy đàn của động vật. Đối với họ, đạo đức - về thực chất - cũng chỉ là năng
lực được đem lại từ bên ngoài con người, ngoài xã hội. Như vậy, nét chung của lý
thuyết này là coi đạo đức không phải là cái phản ánh cơ sở xã hội hiện thực khách
quan.
Khác với tất cả các quan niệm trước đó, C. Mác và Ph.Ănghen đã chứng minh
rằng: “trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc, bao gồm cả triết học và lý
luận học, con người đã hoạt động, tức là sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho
đời sống”. Trong sự sản xuất, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không
tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù
hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ.
Toàn bộ quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở
hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và hình thái

hỏi của xã hội…. Do vậy, sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện - xét về bản
chất - đạo đức là sự tự lựa chọn của con người.
Đạo đức có những đặc trưng sau:
+ Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người. Loài người đã
sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi: phong tục, tập quán, tôn giáo,
pháp luật, đạo đức… Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi con người theo khuôn
phép chuẩn mực và quy tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm thiện và ác,
vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa.
+ Đạo đức là một hệ thống các giá trị. Giá trị là đối tượng của giá trị học (giá trị
học phân loại các hiện tượng giá trị theo quan niệm đã được xây dựng nên theo
truyền thống về các lĩnh vực của đời sống xã hội: các giá trị vật chất và tinh thần, các
giá trị sản xuất, tiêu dùng, các giá trị xã hội - chính trị, nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ,
tôn giáo). Đạo đức là hiện tượng xã hội, mang tính chuẩn mực: mệnh lệnh, đánh giá
rõ rệt.
Sự hình thành, phát triển và hoàn thiện hệ thống giá trị đạo đức không tách rời
sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức. Nếu hệ
thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì hệ thống ấy có tính tích
cực, mang tính nhân đạo; ngược lại, hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động, phản
nhân đạo. Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội,
phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội.
Triết học Mác - Lênin không phủ nhận tính phổ biến toàn nhân loại của đạo
đức, nhưng khẳng định rằng, trong điều kiện xã hội có giai cấp đối kháng thì không
thể có một nền đạo đức chung thống nhất cho mọi giai cấp. Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Con
người dù tự giác hay không tự giác, rút cuộc đều rút ra những quan niệm đạo đức của
mình từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là
những quan hệ kinh tế, trong đó người ta sản xuất và trao đổi”[3, tr.136]. Vì vậy,

7



thần, giá trị riêng, giá trị chung, giá trị xã hội. Như vậy, giá trị đạo đức được xác định
bởi mức độ phù hợp của chúng đối với yêu cầu của tiến bộ xã hội. Song lợi ích xã

8


hội và yêu cầu của tiến bộ xã hội lại có tính lịch sử, nghĩa là mỗi giai đoạn phát triển
xã hội lại có những yêu cầu về lợi ích và sự tiến bộ của nó, chính vì vậy mà giá trị
đạo đức cũng có tính lịch sử.
Giá trị đạo đức được thể hiện thông qua việc thực hiện các chức năng của đạo
đức. Song, ở giai đoạn nào của sự phát triển xã hội thì đạo đức có những chức năng
cơ bản sau:
Thứ nhất, chức năng điều chỉnh hành vi. Sự điều chỉnh hành vi được thực hiện
bằng hai hình thức chủ yếu. Một là, thông qua dư luận xã hội, ca ngợi, khuyến khích
cái thiện, cái tốt, lên án, phê phán cái ác, cái xấu. Trong trường hợp này, giá trị đạo
đức phụ thuộc vào sức mạnh và tính đúng đắn của dư luận. Mỗi khi dư luận xã hội
được củng cố và phát triển, được mọi người đồng tình ủng hộ, nó sẽ trở thành sức
mạnh to lớn trong việc điều chỉnh đạo đức. Dân tộc ta có câu ca: "Trăm năm bia đá
thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ". Quả thật, cái "bia miệng" (dư luận xã
hội) hàng ngàn năm vẫn lưu truyền, nó lâu bền hơn cả sắt đá nó trở thành công cụ lợi
hại trong việc điều chỉnh hành vi đạo đức. Do đó, nếu dư luận xã hội mỗi khi được
hướng dẫn bởi những học thuyết đạo đức tiên tiến, sẽ góp phần điều chỉnh hành vi
đạo đức, làm cho nó phù hợp với sự tiến bộ xã hội, tạo nên nhưng giá trị đạo đức
đích thực. Hai là, bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi của mình theo
những chuẩn mực đạo đức xã hội. Cách thức điều chỉnh này phụ thuộc vào việc giáo
dục, giác ngộ của chủ thể đạo đức. Bởi lẽ, trong quan hệ đạo đức chủ thể đạo đức
vừa tham gia vào hành vi ứng xử, vừa là người phán xét hành vi ứng xử của chính
mình. Khi thực hiện hành vi ứng xử, chủ thể đạo đức dựa vào các chuẩn mực được
hình thành trong bản thân họ (chuẩn mực này đã tiếp thu chuẩn mực đạo đức xã hội
và do điều kiện sinh sống và các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân chủ thể tạo

thể đạo đức. Thông qua sự lựa chọn, đánh giá của các chủ thể đạo đức về những tư
tưởng, chuẩn mực đạo đức, trong bản thân họ hình thành niềm tin, lý tưởng đạo đức
và các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức trong quan hệ ứng xử của chính họ.
Hoạt động nhận thức đạo đức cũng bao gồm hai trình độ: tình cảm và tư tưởng
đạo đức, kinh nghiệm và lý luận đạo đức.
Nhận thức đạo đức ở trình độ kinh nghiệm hoặc tình cảm đạo đức gắn liền với
hoạt động thực tiễn, với các quan hệ đạo đức của xã hội và luôn chịu ảnh hưởng của
dư luận, tập quán, truyền thống đạo đức. Quá trình này hình thành nên ở chủ thể đạo
đức những hình ảnh, những “thần tượng” được coi là chuẩn mực trực tiếp cho việc
đánh giá, điều chỉnh hành vi đạo đức của họ. Chẳng hạn, một đứa trẻ thường thông
qua việc quan sát những hành vi ứng xử của bố mẹ nó với bạn bè, với những người
thân trong gia đình, với công việc... nó cũng sẽ làm như bố mẹ đã làm trước đây.
Nhận thức đạo đức ở trình độ tư tưởng hoặc lý luận là nhận thức có tính nguyên
tắc được chỉ đạo bới những lợi ích căn bản của giai cấp, của xã hội.

10


Thông qua quá trình nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn, chủ thể đạo đức
phân tích, đánh giá, lựa chọn các tư tưởng đạo đức và các chuẩn mực đạo đức trong
xã hội để trên cơ sở đó, chứng minh, lý giải các tư tưởng đạo đức và các chuẩn mực
đạo đức được hình thành trong bản thân nó là đúng đắn và hợp lý, để tiếp thu cái
đúng, cái hợp lý và phê phán những sai trái trong các tư tưởng và chuẩn mực đạo đức
khác.
Như vậy, có thể nói, giá trị đạo đức được hình thành ở mỗi cá nhân luôn phụ
thuộc vào việc các cá nhân ấy được giáo dục và tiếp nhận những tư tưởng và các
chuẩn mực đạo đức đúng đắn của xã hội.
Truyền thống là những giá trị tinh thần của con người được hình thành trong
quá trình hoạt động, quan hệ ứng xử và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác,
được mọi người nhận thức, thừa nhận, tự giác thực hiện, và tự điều chỉnh nhờ dư

đáo nhất, rõ nét nhất bản chất của dân tộc. Đồng thời nó cũng chính là sức mạnh nội
sinh để một dân tộc, một đất nước phồn vinh và phát triển.
Trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc Việc Nam, giá trị đạo đức truyến thống là
một bộ phận thiết yếu, nổi lên hàng đầu, tạo nên cốt lõi của hệ giá trị tinh thần đó.
Chính vì vậy, khi nói đến giá trị đạo đức truyền thống dân tộc ta, là nói đến những
phẩm chất tốt đẹp, quý báo đã được hình thành và bảo lưu trong chiều dài lịch sử của
dân tộc Việt Nam. Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, được cô đúc, được thử
thách và tái tạo qua nhiều thế hệ khác nhau, theo những bước thăng trầm của lịch sử,
nó chứa đựng một tìm năng hết sức to lớn và bền vững, nó chính là sức mạnh vốn có
của dân tộc Việt Nam, giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển. Giá trị đạo
đức của dân tộc ta do chính cộng đồng người Việt Nam tạo lập trong quá trình dựng
nước và giữ nước, với tất cả những điều kiện lịch sử đặc thù riêng vốn có, đã tạo nên
một bản chất hết sức độc đáo.
1.1.2. Giá trị đạo đức mới
Cho đến nay, xã hội loài người đã phát triển như một quá trình lịch sử - tự
nhiên, từ thấp đến cao qua các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau. Phù hợp với mổi
hình thái kinh tế - xã hội cụ thể có những quan điểm đạo đức tương ứng như đạo đức
của cộng sản nguyên thủy, đạo đức của xã hội chiếm hữu nô lệ, đạo đức xã hội
phong kiến, đạo đức của xã hội tư bản và đạo đức của cộng sản chủ nghĩa mà giai
đoạn đầu là đạo đức xã hội xã hội chủ nghĩa.
Trả lời các câu hỏi: Có đạo đức cộng sản hay không? Có luân lý cộng sản hay
không?, V. I. Lênin khẳng định rằng: “Tất nhiên là có. Người ta thường bảo chúng ta
không có đạo đức của chúng ta, và giai cấp tư sản buộc tội những người cộng sản
chúng ta là bác bỏ mọi thứ đạo đức. Đó là một cách lộn sòng các khái niệm làm công
nhân và nông dân bị lầm lạc”[32, tr.366]
V.I. Lênin nêu rõ rằng: đạo đức của chúng ta hoàn toàn phục vụ lợi ích đấu
tranh giai cấp vô sản; đạo đức của chúng ta là từ những lợi ích của cuộc đấu tranh

12


cách khoa học về mục tiêu đạo đức của chủ nghĩa xã hội là tạo tiền đề hiện thực để
con người phát triển hoài hòa và phong phú. Xã hội thực sự có đạo đức là kết quả
hợp quy luật của lịch sử vừa kế thừa, vừa phát triển, vừa khắc phục những hạn hẹp,
phiến diện đạo đức của các xã hội trước đó. Vì thế, nhiệm vụ lịch sử đầu tiên trong

13


mục tiêu đạo đức của chủ nghĩa xã hội là khắc phục những hạn chế về đạo đức của
các xã hội trước đây.
Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là đưa đông đảo quần chúng nhân dân lao động
tham gia vào đời sống chính trị - xã hội. Để thực hiện được mục tiêu đó, cần phải
thay đổi các quan hệ đạo đức, các thành kiến đạo đức, các lề thói lạc hậu. Chủ tịch
Hồ Chí Minh viết: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn
nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa
từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt những nếp sống, thói
quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm… Chúng ta phải biến
một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh
phúc”[22, tr.493-494].
Như vậy, mục tiêu xây dựng nền đạo đức mới của chủ nghĩa xã hội là phải mở
rộng, tiếp tục hoàn thành ba cuộc giải phóng: giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc,
giải phóng xã hội đã được tiến hành và phát động từ đầu của cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa. Việc cải tạo lại các quan hệ đạo đức cũ phải gắn chặt với ba cuộc giải
phóng đó. Việc kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống đã tồn tại hàng
ngàn năm trong đời sống mỗi dân tộc cho phù hợp với thực tiễn và thời đại là yêu
cầu cơ bản và cấp bách.
Khái niệm đạo đức cộng sản là hoàn toàn mới trong lịch sử xã hội, nó đối lập
với đạo đức của giai cấp tư sản và giai cấp bóc lộc khác. Đạo đức cộng sản cũng
khác với đạo đức của những người sản xuất nhỏ. Theo V. I. Lênin, xét về bản chất,
đạo đức mới “là những gì góp phần xóa bỏ xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần

Đạo đức mới là đạo đức gắn liền với lợi ích của giai cấp công nhân nói riêng và của
quần chúng nhân dân lao động nói chung. Đó là đạo đức chiến đấu vì sự nghiệp cách
mạng của dân tộc, vì sự tiến bộ của nhân loại, vì tự do, hạnh phúc của mỗi người,
mục đích cuối cùng là góp phần giải phóng triệt để con người, trước hết là giai cấp
công nhân và nhân dân lao động thoát khỏi áp bức bất công của xã hội.
Do vậy, đạo đức mới là đạo đức trong hành động cải tạo xã hội, khẳng định
phẩm chất cao quý của người lao động trong sự nghiệp đấu tranh tự giải phóng mình.
Đạo đức mới ở Việt Nam là một hình thức đặc thù của đạo đức cộng sản chủ
nghĩa, tính đặc thù của nó được quy định bởi thực tiễn cách mạng Việt Nam, truyền
thống đạo đức dân tộc và dấu ấn sắc thái Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh coi đạo đức mới, đạo đức cách mạng là “gốc”, là “nền tảng” của
người cách mạng: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì
sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng thì phải có
đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân
dân”[20, tr.252-153]. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng
mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng. Đạo đức cách mạng là cái phải được
chuyển hóa thành phẩm chất nhân cách của người cách mạng, và yếu tố cốt lõi của

15


nhân cách, và chỉ như vậy, đạo đức cách mạng mới thể hiện vai trò cải tạo xã hội
thông qua các hoạt động con người - chủ thể cách mạng.
Sự khác biệt của đạo đức mới, so với đạo đức cũ không phải ở hình thức ngôn
ngữ mà là ở nội dung của nó. Nội dung của đạo đức mới thể hiện: chủ nghĩa tập thể,
lao động cần cù, tự giác, sáng tạo, ý thức học tập, rèn luyện, chủ nghĩa yêu nước kết
hợp với chủ nghĩa quốc tế và chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa… Đạo đức mới
khác với đạo đức cũ ở chỗ, hệ giá trị của nó là hệ giá trị tiên tiến, phù hợp với sự
phát triển, sự tiến bộ của con người và xã hội. Tiêu chí quan trọng để phân biệt đạo
đức mới với các kiểu đạo đức trước đây là ở tính cách và tính khoa của nó.

cách của Hồ Chí Minh. Tất cả những lý tưởng và hành động của Người đều là vì
quyền lợi, lợi ích của Tổ Quốc, vì hạnh phúc của nhân dân và vì sự nghiệp giải
phóng con người mà trước hết là những người cùng khổ bị áp bức bóc lột.
Tiếp cận đạo đức mới, dưới gốc độ chức năng xã hội thì đặc trưng nổi bật của
nó là tính tiên phong, tinh thần cải tạo, xóa bỏ cái cũ, cái lạc hậu, xây dựng cái mới.
Đạo đức mới, ra đời từ thực tiễn cách mạng nhằm đáp ứng yêu cầu của thực
tiễn đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Vì vậy, đạo đức mới là đạo đức thực tiễn. Chức năng cơ bản của nó là chỉ đạo và
điều chỉnh hành vi cải tạo xã hội.
Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp thì đạo đức mới là cơ
sở để đảm bảo cho hoạt động “cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới” thành công. Nét
cơ bản để phân biệt đạo đức mới với đạo đức duy tâm, tôn giáo, đạo đức của giai cấp
bóc lột là ở chức năng chỉ đạo hành vi trong hoạt động cải tạo xã hội của nó.
Đạo đức duy tâm tôn giáo là đạo đức của người từ bi, nó thể hiện sự bất lực của
con người trước quyền uy xã hội, nó không chống lại quyền lực và sự thống trị tàn
bạo của giai cấp bóc lột mà định hướng cho con người chấp nhận hiện thực xã hội
bất công phi nhân tính. Hơn nữa, đạo đức duy tâm tôn giáo còn bao chứa, che đậy
cho những hành vi vô đạo đức của giai cấp bóc lột.
Đạo đức của giai cấp thống trị tuy có vai trò tiến bộ nhất định (khi mới ra đời )
nhưng lại là thứ đạo đức chói buộc con người trong vòng cương tỏa của những
khuôn phép bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị chiếm thiểu số trong xã hội.
Ngay cả đạo đức của giai cấp tư sản, đạo đức tiến bộ nhất trong số đó, thì cũng kìm
hãm con người trong những lợi ích ích kỉ, cục bộ, hẹp hòi cá nhân, phản tiến bộ.
Như vậy, tiếp cận đạo đức mới từ các gốc độ: nhận thức luận, giá trị - nhân
cách và chức năng cơ bản của nó, chúng ta thấy nổi lên những đặc trưng cơ bản khác
nhau và đồng thời, nhưng đặc trưng đó cũng chính là những thành phần cơ bản cấu
thành nội hàm của khái niệm đạo đức mới.
Trên cơ sở những đặc trưng cơ bản của đạo đức mới, chúng ta có thể hiểu: Đạo
đức mới là đạo đức của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ, phản ánh
thực tiễn cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội,

đạo đức đều lập tức thay đổi. Những quan niệm đạo đức hợp lý, đúng đắn, những giá
trị đạo đức truyền thống không vì thế mà lập tức thay đổi. Những quan niệm đạo
đức, các giá trị đạo đức tiêu biểu cho các giai đoạn khác nhau của cùng một quá trình
phát triển lịch sử và có một cơ sở lịch sử chung, thì giữa chúng không thể không có
nhiều yếu tố chung.
Và theo Ph.Ăngghen, “đối với những giai đoạn phát triển kinh tế giống nhau
hay gần giống nhau thì những học thuyết về đạo đức tất phải ít nhiều trùng hợp với
nhau” [3, tr. 136]. Với tư cách là sản phẩm của tiến trình phát triển lịch sử, đạo đức,
cũng như mọi hình thái ý thức xã hội khác, trong quá trình phát triển của nó có tính
độc lập tương đối. Những lực lượng xã hội mới thường mượn những quan niệm đạo
đức của thời đại trước, giai đoạn trước, cải tạo lại, gạt bỏ những cái gì không còn phù
hợp, giữ lại những cái tốt đẹp, phù hợp với các quan hệ kinh tế - xã hội mới, với lợi
ích của họ. Vả lại, trong quá trình chuyển đổi các giá trị đạo đức, những tập quán và
truyền thống dân tộc luôn đóng một vai trò to lớn. Thông qua tập quán và truyền
thống dân tộc mà rất nhiều quan niệm, quy tắc, giá trị đạo đức cũ được giữ lại, được

19


kế thừa và phát huy trong bối cảnh của đời sống xã hội mới ngay cả khi những điều
kiện xã hội đã sản sinh ra chúng không còn nữa. Đó là chúng ta còn chưa kể tới sự
tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã hội mà đạo đức
là một trong những hình thái ý thức xã hội ấy. Với cơ chế thị trường thì khía cạnh
thực dụng trong các mối quan hệ là điều khó tránh khỏi. Sự sòng phẳng, minh bạch
trong hạch toán kinh tế, “quan hệ làm ăn” theo kiểu “đôi bên cùng có lợi” là một
yêu cầu tối cần thiết của kinh tế thị trường. Nhưng điều đó cũng dẫn đến những biểu
hiện tiêu cực về mặt đạo đức ở một bộ phận xã hội. Lối sống coi trọng đồng tiền,
“trước đồng tiền mọi người đều bình đẳng” lấy đồng tiền làm thước đo mọi cái, kể
cả phẩm giá con người, đặt quan hệ trao đổi theo kiểu “tiền trao, cháo múc” lên trên
cả tình nghĩa một cách lạnh lùng, thực dụng đã xuất hiện, thậm chí có xu hướng gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status