Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp dạy từ vựng cho học sinh tiểu học bằng việc học từ mới qua các bài khóa - Pdf 31

I.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Đường lối quan điểm của Đảng và nhà nước ta đã xác định mục tiêu của giáo
dục là đào tạo con người toàn diện để đáp ứng yêu cầu chung của đất nước - công
nghiệp hóa hiện đại hóa. Trong đó, ngoại ngữ - Tiếng Anh là một trong những ngôn
ngữ có vai trò như một phương tiện tích cực hỗ trợ hiệu quả nhất cho quá trình hội
nhập ngày càng sâu rộng của nước nhà. Vì vậy nâng cao chất lượng giáo dục nói
chung và chất lượng bộ môn Tiếng Anh nói riêng là một trong những mối quan tâm
hàng đầu của sự nghiệp giáo dục hiện nay. Và điều đó được đặt biệt chú trọng hơn
cho các đối tượng là học sinh ở bậc tiểu học - Người mới bắt đầu tiếp cận với ngoại
ngữ.
Để thực hiện mục tiêu này cần có hỗ trợ của Đảng, nhà nước, ngành giáo dục, nhất
là đội ngũ các thầy cô giáo và các bậc phụ huynh học sinh góp sức.
Trong bất kỳ một ngôn ngữ nào, vai trò của từ vựng cũng hết sức quan trọng. Có
thể thấy một ngôn ngữ là tập hợp của các từ vựng. Không thể hiểu ngôn ngữ mà
không hiểu biết từ vựng,hoặc qua các đơn vị bài học. Nhưng điều đó không phải
chỉ hiểu những từ đơn lẻ, độc lập với nhau mà chỉ có thể năm vững được ngôn ngữ
thông qua mối quan hệ biện chứng giữa các đơn vị từ vựng. Như vậy việc học từ
vựng và rèn luyện kỹ năng sử dụng từ vựng là yếu tố hàng đầu trong việc truyền
thụ và tiếp thu một ngôn ngữ nói chung và và tiếng Anh nói riêng.
Vì từ vựng là một ngôn ngữ nên nó được thể hiện giữa hai hình thức: Lời nói và
chữ viết. Muốn sử dụng được ngôn ngữ đó tức là phải nắm vững hình thức biểu đạt
của từ bằng lời nói hay chữ viết. Song do có mối liên quan của từ vựng với các yếu
tố khác trong ngôn ngữ ( ngữ pháp, ngữ âm, ngữ điệu..) hoặc trong tình huống giao
tiếp cụ thể ta thấy từ vựng là các “ viên gạch” còn ngữ pháp và các yếu tố ngôn ngữ
khác được coi như những “mạch vữa” để xây lên thành môt ngôi nhà “ ngôn ngữ”.
Hiện nay tình trạng xao lãng việc học, học sinh học đối phó học vẹt mà không biết
tự học, học sinh yếu kém khá nhiều. Làm thế nào để khắc phục tình trạng này ?
Làm thế nào để thu hút học sinh chú tâm vào việc học là vấn đề đòi hỏi người làm
giáo dục, các thầy cô tâm huyết với nghề, hội đồng sư phạm nhà trường quan tâm
11/25/2015Confidential

cùng quan trọng thường xuyên. Bởi điều này ảnh hưởng rất nhiều đến động cơ học
tập của học sinh, một yếu tố tác động cơ bản đến quá trình học một ngôn ngữ:
Không có động cơ trẻ sẽ không học - và việc củng cố kiến thức còn làm khắc sâu
hơn những ngữ liệu đã học trong các tiết học một cách có hệ thống, làm nền tảng
vững chắc giúp các em học tốt hơn, tự tin hơn trong quá trình học tập sau này.

11/25/2015Confidential

Page

2


Để chất lượng môn học của các em đạt kết quả tốt nhất thì không phải là một
chuyện dễ dàng. Vậy làm thế nào để các em hình thành và phát triển kỹ năng học
tập toàn diện nhất ? Làm thế nào để các em yêu mến, khắc sâu vốn kiến thức văn
hóa nước ngoài ? Bằng hình thức nào giúp học sinh nắm bài vững mà không nhàm
chán, phải thật sự lôi cuốn, tạo không khí vui tươi thoải mái trong giờ học, gây
hứng thú cho học sinh khi tiếp thu văn hoá nước ngoài mà bản thân các em chưa
biết được chút gì.
Ngày nay trên những phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện rất nhiều trò chơi
truyền hình thu hút đông đảo khán giả, nhất là khán giả trẻ tuổi như học sinh, sinh
viên.
Tất cả những trò chơi, chương trình ca nhạc truyền hình, nếu được hỏi: “Hãy kể
tên các trò chơi, chương trình ca nhạc truyền hình mà em biết?” Các em sẽ trả lời
vanh vách như “Rồng Vàng”, “Tam sao thất bản”, “Ki-ốt âm nhạc”, “Nào ta cùng
hát” ... vì đây là lượng khán giả trung thành nhất.
Chúng ta đều biết bất cứ một thứ tiếng nào trên thế giới, muốn giao tiếp được với
nó, đòi hỏi chúng ta phải có một vốn từ bởi vì từ vựng là một thành phần không thể
thiếu được trong ngôn ngữ. Trong tiếng Anh chúng ta không thể rèn luyện và phát

pháp để dạy và học tốt hơn, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Trong nhà trường phổ thông hiện nay, cũng giống như các bộ môn khác ,việc dạy
và học Tiếng Anh đang diễn ra cùng với sự đổi mới phương pháp giáo dục, cải
cách sách giáo khoa, giảm nội dung chương trình học nhằm làm phù hợp với nhận
thức của học sinh, làm cho học sinh tiếp cận với các nội dung, kiến thức hiện đại.
Vốn từ vựng tiếng Anh trong trương trình học cũng được sử dụng phù hợp với sự
phát triển chung của xã hội.
Trước hết, xuất phát từ đối tượng giảng dạy là học sinh ở lứa tuổi từ 6-12 về
hiểu biết về xã hội chưa có do vậy vốn từ vựng dạy cho các em ở cấp học này
thường phải được kết hợp với các kỹ năng dạy học phù hợp để gây hứng thú cho
học sinh. Bên cạnh đó việc dạy và học tiếng Anh trong nhà trường còn diễn ra
trong môi trường giao tiếp giữa thầy và trò còn nhiều hạn chế. Số lượng học sinh ở
mỗi lớp rất đông, nhiều lớp tới 35 học sinh.Trình độ nhận thức có nhiều cấp độ
khác nhau phương tiện giảng dạy còn thiếu thốn…Điều này làm ảnh hưởng không
nhỏ tới việc rèn kĩ năng cho học sinh và sự phân bố thời gian cho từng phần nội
dung bài sao cho phù hợp từng loại bài giảng( thực hành, kĩ năng) cũng là một tác
động tới việc lựa chọn, nghiên cứu và áp dụng kĩ năng dạy từ vựng sao cho phù
hợp.
11/25/2015Confidential

Page

4


Qua thực tế dạy học những năm qua, tôi nhận thấy phương pháp cũ dạy học từ
vựng thường theo kiểu cũ. Giáo viên đọc bài rồi liệt kê ra từng từ, cho học sinh đọc
và giải thích nghĩa của từ, từ loại, cách sử dụng từ đó…Nó còn có những hạn chế
cơ bản như sau: Học sinh học từ một cách thụ động, sử dụng từ trong từng ngữ
cảnh giao tiếp bị hạn chế, không linh hoạt và còn lệ thuộc nhiều vào cấu trúc ngữ

năng vận dụng kiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.
1.2. Cơ sở thực tiễn:
a. Thuận lợi :
- Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở
vật chất và tài liệu chuyên môn phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn : bộ tranh giáo
trình Let’s go, máy cassette, máy chiếu Overhead …..
- Chính quyền địa phương và các đoàn thể trong và ngoài nhà trường luôn hỗ trợ
giáo viên trong quá trình công tác.
- Bản thân giáo viên bộ môn luôn nhận được sự hỗ trợ từ các giáo viên cùng tổ
chuyên môn và các đồng nghiệp.
- Đa số các em học sinh trong lớp đều yêu thích học Tiếng Anh và chuẩn bị tốt
sách vở, đồ dùng cho việc học tập.
- Phần lớn phụ huynh học sinh luôn quan tâm và tạo điều kiện để con em mình
học tập.
b. Khó khăn:
- Đa số các em chưa có phương pháp học từ vựng thật sự hiệu quả. Về phía phụ
huynh, cũng rất khó khăn trong việc kiểm tra hoặc hướng dẫn các em tự học ở nhà
bởi môn ngoại ngữ, không phải phụ huynh nào cũng biết.
- Một số học sinh nhất là các học sinh nam thường xao lãng và ít quan tâm đến
việc học tập cũng như học từ vựng.
- Một số học sinh ít có thời gian học bài ở nhà vì ngoài giờ học các em còn phải
phụ giúp cha mẹ làm việc nhà, nhiều gia đình cũng rất vất vả về kinh tế nên muốn
mua cho con môt quyển sách để học còn khó thì nói gì đến sách tham khảo để nâng
cao vốn từ ngoài những từ vựng mà sách giáo khoa cung cấp.
- Các em ít có điều kiện để giao tiếp bằng tiếng Anh và các em cũng ngại giao
tiếp, trao đổi nhau bằng tiếng Anh ngoài giờ học.

11/25/2015Confidential


- Đảm bảo cho học sinh nắm được cấu trúc , vận dụng từ vựng vào cấu trúc để
hoàn thiện chức năng giao tiếp, thiết lập mối quan hệ giữa cấu trúc mới và vốn từ
đã có.

11/25/2015Confidential

Page

7


- Khắc sâu vốn từ trong trí nhớ của học sinh thông qua các mẫu câu và qua
những bài tập thực hành.Qua việc nghiên cứu tình trạng dạy và học từ vựng tôi đưa
ra một số giải pháp sau.
2.2.Các giải pháp.
a.Những vấn đề cần quan tâm trong quá trình dạy từ.
-Trước mỗi bài học giáo viên cần chuẩn bị tranh ảnh liên quan đến từng bài học lên
tường hai bên phòng học để học sinh dễ nhìn và dễ nhận biết chúng đang học bài
nào? Mục đích cũng làm tăng thêm sự chú ý cũng như không khí trong lớp học thỏa
mái dễ chịu
- Sắp xếp những học sinh nhút nhát ngồi phía bàn trên gần giáo viên để tiện lắng
nghe và tạo cơ hội động viên khích lệ trẻ.
- Giáo viên phải nghiên cứu bài giảng trước khi lên lớp,viết tóm tắt định hướng tiết
dạy,nhằm tìm ra mối liên quan giữa bài trước với bài sau, phần nào nên dạy trước
phần nào sẽ dạy sau trong tiết dạy để học sinh dễ hiểu bài.
- Nếu dạy bằng máy giáo viên nên bấm máy chậm vừa đủ để hs nghe- hiểu -đọc
chính xác theo máy. Giáo viên không cần đọc mẫu, học sinh chỉ đọc khi máy đã
đọc xong. Giáo viên luôn chú ý luyện cho học sinh cách phát âm,đọc đúng ngữ
điệu theo máy và không được dạy mở rộng.GV không nên dịch tiếng việt khi dạy
từ.

phối hợp với kinh nghiệm bản thân để chủ động xác định cho mình một vai trò phù
hợp với từng giai đoạn học tập sao cho có thể phát huy được tối đa năng lực của
học sinh và đem lại hiệu quả dạy và học cao nhất.
c. Mục tiêu và đặc điểm cần đạt trong phần giới thiệu từ mới.
1. Lựa chọn từ để dạy:
Tiếng Anh là một môn học có tầm quan trọng, nó là công cụ để giao tiếp với
các nước trên thế giới. Muốn giao tiếp tốt đòi hỏi chúng ta phải có một vốn từ
phong phú.
Ở môi trường phổ thông hiện nay, khi nói đến ngữ liệu mới là chủ yếu nói
đến ngữ pháp và từ vựng, từ vựng và ngữ pháp luôn có mối quan hệ khắng khít với
nhau, luôn được dạy phối hợp để làm rõ nghĩa của nhau. Tuy nhiên dạy và giới
thiệu từ vựng là vấn đề cụ thể. Thông thường trong một bài học luôn xuất hiện
những từ mới, xong không phải từ mới nào cũng cần đưa vào để dạy. Để chọn từ
cần dạy, giáo viên cần xem xét những vấn đề:
- Từ chủ động (active vocabulary)
- Từ bị động

(passive vocabulary)

11/25/2015Confidential

Page

9


Chúng ta đều biết cách dạy hai loại từ này khác nhau. Từ chủ động có liên
quan đến bốn kỹ năng (nghe – nói – đọc – viết). Đối với loại từ này giáo viên cần
đầu tư thời gian để giới thiệu và hướng dẫn học sinh luyện tập nhiều hơn.
Với từ bị động giáo viên chỉ cần dừng ở mức nhận biết, không cần đầu tư

10


* Visual (nhìn) :
Cho học sinh nhìn tranh ảnh hoặc vẽ phác hoạ cho các em nhìn, giúp giáo
viên ngữ nghĩa hoá từ một cách nhanh chóng.
* Mine (điệu bộ):
Thể hiện qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ.
Ex :
Unit 6: How ‘s the weather ?
-sunny, windy, rainy, snowy, hot, cold, hungy, thirsty
* Realia (vật thật)
Dùng những dụng cụ trực quan mà thực tế có được.
Ex:
Để dạy các từ về rau, củ, quả , bánh kem, thịt ,cá,…giáo viên nên sưu tầm vật
thật học tranh ảnh để minh họa cho bài giảng của mình.
* Situation / Explanation:
Dùng tình huống và giải thích để học sinh nắm bắt từ mới một cách hiệu quả.
Giáo viên có thể đưa ra một vài tình huống để học sinh tự đoán nghĩa.
* Example :
Đưa ra các ví dụ cụ thể có liên quan đến từ sắp học tạo sự tò mò và hấp dẫn
học sinh.
* Synonym \ antonym:( từ đồng nghĩa \ trái nghĩa):
Giáo viên dùng những từ đã học rồi có nghĩa tương đương để giúp học
sinh nhận biết nghĩa cuả từ sắp được học.
“giáo viên có thể yêu cầu học sinh tự đoán nghĩa thông qua từ đã học trước
đó.
Ex: tall / short, thin / fat, young/ old, pretty/ urly….
T. asks “What’s another word for nice?”
Ss answer “ pretty”


11/25/2015Confidential

Page

12


* Có rất nhiều thủ thuật để kiểm tra từ
* CHECKING TECHNIQUES FOR VOCABULARY
Rub out and
Remember

Jumbled words

Ordering

Bingo

What and where

7 TECHNIQUES

Slap the board

Matching

4. Bài tập luyện nhớ từ.
- Bên cạnh đó để giúp học sinh nhớ được từ lâu, giáo viên có thể dùng các bài tập
luyện nhớ từ như sau:

-Yêu cầu học sinh tự giới thiệu tên mình và dùng một từ trong số đó để đặt câu.
2. Life key words.
- Hỏi học sinh ngày của hôm nay.
Eg: What date is it today?
-Sau đó hỏi tiếp tục ngày của 7 năm trước.
Eg: What date was it 7 years ago?
-Ghi lên bảng câu trả lời.
-Bước tiếp theo, yêu cầu học sinh viết 10 từ tiêu biểu diễn tả cuộc sống 7 năm trước
đây.
-Sau đó học sinh làm việc theo cặp, nhóm, giải thích cho bạn rõ ý nghĩa của 10 từ
đó.
Eg: now

then

3.Whose handbag / pocket is it ?
Giáo viên yêu cầu học sinh tưởng tượng ra một nhân vật và ghi ra phiếu những vật
, những người đó thường mang theo người khoảng 5 đến 10 từ. Sau đó xáo trộn
phiếu của học sinh , cho các em bốc thăm và đoán xem nhân vật đó là ai.

11/25/2015Confidential

Page

14


Trò chơi này có thể hướng vào một số các nhân vật có nghề nghiệp đặc trưng
khác nhau, các nhân vật nổi tiếng với một số thói quen phổ biến, hay chính các bạn
trong lớp học mà mọi người cùng biết.

11/25/2015Confidential

Page

15


tự: nghe, nói, đọc, viết. Đừng bao giờ bắt đầu từ hoạt động nào khác “nghe”. Hãy
nhớ lại quá trình học tiếng mẹ đẻ của chúng ta, bao giờ cũng bắt đầu bằng nghe, bắt
chước phát âm rồi mới tới những hoạt động khác. Hãy giúp cho học sinh của bạn
có một thói quen học từ mới một cách tốt nhất:
- Bước 1: “nghe”, bạn cho học sinh nghe từ mới bằng cách đọc mẫu.
- Bước 2: “nói”, sau khi học sinh đã nghe được ba lần bạn mới yêu cầu học sinh
nhắc lại. Khi cho học sinh nhắc lại , bạn cần chú ý cho cả lớp nhắc lại trước, sau đó
mới gọi cá nhân
- Bước 3: “đọc”, bạn viết từ đó lên bảng và cho học sinh nhìn vào đó để đọc. Cho
học sinh đọc cả lớp, rồi đọc cá nhân và sửa lỗi cho học sinh tới một chừng mực mà
bạn cho là đạt yêu cầu.
- Bước 4: “viết”, sau khi học sinh đã đọc từ đó một cách chính xác rồi bạn mới yêu
cầu học sinh viết từ đó vào vở.
- Bước 5: bạn hỏi xem có học sinh nào biết nghĩa của từ đó không và yêu cầu một
học sinh lên bảng viết nghĩa của từ đó bằng tiếng Việt.
- Bước 6: đánh trọng âm từ: phát âm lại từ và yêu cầu học sinh nhận diện âm tiết có
trọng âm và đánh dấu.
- Bước 7: cho câu mẫu và yêu cầu học sinh xác định từ loại của từ mới học.
* Trong khi dạy từ mới phải ghi nhớ các điểm sau:
Nên giới thiệu từ trong từng mẫu câu cụ thể. Ở những tình huống giao tiếp khác
nhau, giáo viên có thể kết hợp việc làm đó bằng cách thiết lập được sự quan hệ
giữa từ cũ và từ mới, từ vựng phải được củng cố liên tục.
Giáo viên thường xuyên kiểm tra từ vựng vào đầu giờ bằng cách cho các em

học. Đảm bảo nắm chắc kiến thức sẽ dạy và sử dụng được thành thạo vốn kiến thức
đó.
- Môi trường, điều kiện dạy học: trường lớp, cách bố trí bàn ghế, các phương tiện
có trong phòng họ.
- Các thủ thuật dạy học và bản chất của các hoạt động trên lớp.
-Sử dụng thành thạo các phương tiện trực quan và các phương tiện dạy học sẽ dùng
vào bài.
Dưới đây là sườn một giáo án tiếng Anh 5.

11/25/2015Confidential

Page

17


Week 15: Period 59

Unit 10: How I learn English
Lesson 1(part1, 2)
I.Overview
1. Objectives:
By the end of the lesson SS will be able to ask and answer questions
about one’s favourite school subject.
2. Language focus:
- Vocabulary: translator,difficult, best
- Sentence patterns: What subject do you like best? Science( I like science
best)
3 . Resources: student books, puppets/ flashcards / pictures, CD,
II. Procedure


- T explains the requirement of
the task.
- Run through all the subjects.
- Teach vocabulary
- Model: T- Ps, P- P
- Ps practice in pairs
- Call on some pairs to perform
in front of the class.

11/25/2015Confidential

Page

18


III. Reinforcement
- Repeat vocabulary and subjects.
IV. Homelink
- Learn by heart the words, sentence
patterns you have learnt in this lesson.

- Gives comment.
- T- WC

2.3. Kết quả nghiên cứu
* Tiêu chí đánh giá.
Qua quá trình áp dụng đề tài vào thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh ngày
càng có nhiều tiến bộ về học tập:


Khá

Tỷ Lệ

TB

Tỷ Lệ

Yếu

Tỷ lệ

5A

35

18

51.4%

13

37.1%

2

2.7%

0

tốt từ vựng để tiết học sinh động hơn, giáo viên cần phải tìm tranh ảnh, đồ dùng để
minh hoạ, tạo điều kiện cho các em nhớ từ dễ dàng và hướng sự chú ý của các em
vào chủ đề hay trọng tâm bài học.
Trong một tiết chương trình giáo viên cần lựa chọn 4- 5 từ để dạy. Các từ
này phải thuộc loại hoạt động (active vocabulary) – nghĩa là các từ này học sinh sẽ
sử dụng thường xuyên ở trên lớp nhằm rèn luyện các kỹ năng cơ bản. Các từ này
học ở bài trước và sẽ được ôn lại ở bài sau.
Ngoài ra, cách học từ vựng của học sinh cũng là điều đáng được quan tâm,
học sinh thường học từ vựng một cách máy móc bằng cách đọc từ bằng tiếng Anh
và cố nhớ nghĩa bằng tiếng Việt, có viết trong tập viết cũng là để đối phó với giáo
viên, chứ chưa có ý thức tự kiểm tra lại mình, để khắc sâu từ mới và vốn từ sẵn có.
Vì thế, các em rất mau quên và dễ dàng lẫn lộn giữa từ này với từ khác. Do vậy,

11/25/2015Confidential

Page

20


nhiều học sinh đâm ra chán học và bỏ quên, giáo viên cần chú ý đến tâm lý này của
học sinh.
Tôi thực hiện đề tài này chỉ là một phần trong tiết học, tuy nhiên nó đóng vai
trò rất quan trọng cho việc thực hành mẫu câu, việc đối thoại có trôi chảy, lưu loát
hay không đều phải phụ thuộc vào việc học thuộc lòng từ vựng và phát âm có
chuẩn hay không.Giáo viên nên sử dụng băng VCD hay cassettes để dạy cách từ
cho học sinh.Cho học sinh nghe băng để học là rất hiệu quả nâng cao kĩ năng nghe
của học sinh rất nhiều.
Nhưng để thực hiện giảng dạy tốt từ vựng, không chỉ cần có sự đầu tư vào
bài giảng, vào các bước lên lớp của giáo viên, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào hoạt

Để hưởng ứng phong trào đổi mới phương pháp dạy học ở trường Tiểu học
với tư cách là một giáo viên dạy bộ môn ngoại ngữ tôi rất mong muốn đóng góp
một phần nhỏ bé của mình cùng với các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp xây
dựng phương pháp dạy học mới ngày càng chuẩn mực, có hiệu quả hơn giúp cho
các em học sinh ngày càng thích học ngoại ngữ, có thể học tập chủ động, giao tiếp
tự tin bằng chính khả năng của mình.
- Nghiên cứu tài liệu, dự giờ đồng nghiệp, kiểm tra, đối chiếu, so sánh kết quả của
học sinh.
Giáo viên đọc thêm sách báo nghiên cứu kĩ các vấn đề mình sắp thực hiện.
Giáo vên tham khảo thêm những cách tổ chức hát những bài hát có tính chất
trò chơi hay là từ người có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động toàn thể. (Riêng tôi,
bản thân từng là cán bộ phụ trách rất hiệu quả công tác Đội - Đoàn thanh niên trong
11/25/2015Confidential

Page

22


suốt 8 năm khi còn là giáo viên trường Tiểu học Vĩnh Khê và công tác Công Đoàn
trong ba năm . Nhờ đó tôi có cơ hội tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm.) Muốn
học sinh nói được, hát được thì học sinh phải thuộc từ và thuộc nội dung bài hát.
Đồ dùng dạy học mà giáo viên phải chuẩn bị sẵn sàng và kĩ lưỡng là nội dung các
bài hát tự soạn, thế cho nên giáo viên cần tóm tắt từ vựng và một số cấu trúc cơ bản
trong bài học theo từng chủ điểm để lồng vào các bài hát đó, cùng với nghiên cứu
lựa chọn hình thức tổ chức phù hợp. Do vậy mà tôi nghĩ vấn đề dạy từ vựng là vấn
đề quan trọng không thể thiếu trong quá trình dạy tiếng anh nói chung.
2. Kiến nghị
* Từ nhiều năm nay do đặc thù của bộ môn nên môn Tiếng Anh chỉ được coi là
môn tư chọn ở bậc tiểu do vậy học sinh rất coi thường bộ môn này.Các em học chỉ


11/25/2015Confidential

Page

24


V. PHỤ LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu.
3. Thời gian địa điểm
4. Đóng góp mới về mặt thực tiễn
II.PHẦN NỘI DUNG
1. Chương trình 1: Tổngquan

1.1. Cơ sở lý luận.
1.2. Cơ sở thực tiễn
2. Chương 2: Nội dung vấn đề cần nghiên cứu
2.1. Thực trạng
2.2. Các giải pháp
2.3. Kết quả
2.4. Rút ra bài học kinh nghiệm
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO
V. PHỤ LỤC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status