Sáng kiến kinh nghiệm MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY TỪ ĐỒNG ÂM, TỪ NHIỀU NGHĨA, PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG ÂM VỚI TỪ NHIỀU NGHĨA - Pdf 26

SKKN: một số biện pháp dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều
nghĩa
A. Đặt vấn đề
I. Lời nói đầu :
Không biết mọi ngời có cảm giác thế nào khi đợc nghe, đợc xem những ngời n-
ớc ngoài nói, dặc biệt là hát tiếng Việt, riêng đối với tôi mỗi khi đợc thấy ai đó là ngời
ngoại quốc nói "sõi"hoặc hát đợc những bài hát tiếng Việt, một cảm xúc thán phục
xen lẫn xúc động và niềm tự hào về tiếng việt lại trào dâng trong lòng, trong thời kỳ
đổi mới và hội nhập hiện nay, Việt Nam chúng ta đang mở rộng quan hệ ngoại giao
với nhiều nớc trong khu vực và trên thế giới, nhiều ngời nớc ngoài biết đến Việt Nam,
biết nói, hát, giao tiếp bằng tiếng Việt cũng là điều bình thờng nhng sự thán phục của
tôi đối với họ là bởi một lẽ đi sâu vào ngôn ngữ tiếng Việt của chúng ta thực sự có
nhiều khía cạnh khó, đôi khi chính chúng ta cũng còn có sự nhầm lẫn. Một trong
những nội dung khó của tiếng Việt là phần nghĩa của từ.
Trong chơng trình môn Tiếng Việt lớp 5, mảng nội dung nghĩa của từ đợc tập
trung và đợc biên soạn có hệ thống trong phần luyện từ và câu. Nhiều năm liền trong
quá trình dạy học, tôi thờng nhận thấy các em học sinh dễ dàng tìm đợc các từ trái
nghĩa, việc tìm các từ cùng nghĩa, gần nghĩa cũng không mấy vất vả, tuy nhiên khi
học xong từ nhiều nghĩa và từ đồng âm thì các em bắt đầu có sự nhầm lẫn và khả năng
phân biệt các từ đồng âm với từ nhiều nghĩa của học sinh không đợc nh mong đợi của
cô giáo. kể cả một số học sinh khá, giỏi đôi khi cũng làm thiếu chính xác. Trăn trở về
vấn đề này, qua những năm dạy lớp 5 tôi, đã rút ra một số kinh nghiệm nhỏ về cách
dạy từ đồng âm , từ nhiều nghĩa , bài tập phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa. Sau
đây tôi xin đợc chia sẻ những kinh nghiệm nhỏ ấy qua bài viết:"Một số biện pháp
dạy từ đồng âm , từ nhiều nghĩa, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa".
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
1. Thực trạng.
a) Trờng Tiểu học TT Thống Nhất: là một trờng Tiểu học đạt chuẩn quốc gia
mức độ II đầu tiên của huyện Yên Định, luôn đợc xếp ở tốp đầu của giáo dục huyện
Yên Định về chất lợng giáo dục và các phong trào hoat động Hiện nay, nhà trờng vẫn
đang duy trì và phát triển hơn nữa các tiêu chí của trờng chuẩn quốc gia mức độ II.

của học sinh.
*. Về dạy từ đồng âm và từ nhiều nghĩa của giáo viên:
Theo các trình tự nội dung đợc biện soạn trong sách giáo khoa và trình tự dạy học
luyện từ và câu, nhìn chung các đòng chí giáo viên lớp 5 đều làm đúng vai trò là ngời
hớng dẫn, tổ chức cho học sinh nắm kiến thức về hai nội dung từ đồng âm và từ nhiều
nghĩa. Tuy nhiên do thời lợng 1 tiết có hạn, nên giáo viên cha lồng ghép liên hệ phân
biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong các bài học đợc. Do đó ,sau các bài học về từ
đồng âm, từ nhiều nghĩa học sinh chỉ nắm đợc kiến thức về nội dung học trên một
cách tách bạch, đôi khi trong giảng dạy các nội dung này, giáo viên còn có lúc bí từ
khi lấy thêm một số ví dụ cụ thể ngoài SGK để giúp học sinh phân biệt từ đồng âm và
từ nhiều nghĩa.
*.Về học từ đồng âm, t nhiều nghĩa của học sinh.
Một thực tế cho thấy khi học và làm bài tập về từ đồng âm học sinh tiếp thu và làm
bài nhanh hơn khi học và làm bài tập về từ nhiều nghĩa, có lẽ bởi từ nhiều nghĩa trừu t-
ợng hơn.
Đặc biệt, khi cho học sinh phân biệt và tìm các từ có quan hệ đồng âm, các từ có
quan hệ nhiều nghĩa với nhau trong một số văn cảnh thì đa số học sinh lúng túng và
làm bài cha đạt yêu cầu. Lúc đầu, khi đang còn dạy tách bạch từng bài về từ đồng âm,
từ nhiều nghĩa tôi thấy phần lớn các em làm bài trong vở bài tập tơng đối đạt yêu
cầu .Để kiểm tra khả năng phân biệt chính xác từ đồng âm , từ nhiều nghĩa tôi đã cho
học sinh lớp 5C ( năm học 2009-2010) làm bài tập 1(trang 82 sgk TV5- tập 1).
Đề bài: Trong các từ in đậm sau đây, những từ nào là từ đồng âm, những từ nào là từ
nhiều nghĩa?
a) chín
- Lúa ngoài đồng đã chín vàng.
- Tổ em có chín học sinh.
- Nghĩ cho chín rồi hãy nói.
b) đờng.
- Bát chè này nhiều đờng nên rất ngọt.
- Các chú công nhân đang chữa đờng dây điện thoại.

từ nhiều nghĩa .
2.Tìm các căn cứ để giúp học sinh nhận diện, phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
3.Tổ chức dạy học trên lớp có sự lồng ghép , gợi mở các kiến thức.
4.Tập hợp một số dạng bài tập về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, phân biệt từ đồng âm
và từ nhiều nghĩa để có t liệu dạy học.
Ngời thực hiện: Lu Thị Hơng Trờng TH TT Thống Nhất
3
SKKN: một số biện pháp dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều
nghĩa
5.Tự tích luỹ một số trờng hợp về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong cuộc sống hàng
ngày để có thêm vốn từ trong dạy học.
II.các biện pháp tổ chức thực hiện:
1. Nắm vững kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa và phơng pháp
dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa.
a) Nắm vững kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa:
*.Từ đồng âm : Là những từ giống nhau về âm nhng khác nhau về nghĩa (theo SGK
TV5- tập 1- trang 51)
Đây là kiến thức cô đọng, xúc tích nhất dành cho học sinh tiểu học ghi nhớ,vận dụng
khi làm bài tập, thực hành.
-Trong chơng trình ngữ văn lớp 7, các em cũng sẽ đợc học về từ đồng âm. Trên cơ sở
kiến thức về từ đồng âm đã học ở cấp I, các em cũng đợc nắm bắt từ đồng âm là những
từ giống nhau về âm thanh nhng nghĩa khác xa nhau , không liên quan gì với nhau.
-Đối với giáo viên tiểu học, cần chú ý thêm từ đồng âm đợc nói tới trong sách giáo
khoa.Tiếng việt 5 bao gồm cả từ đồng âm ngẫu nhiên (nghĩa là có 2 hay hơn 2 từ có
hình thức ngữ âm ngẫu nhiên giống nhau, trùng nhau nhng giữa chúng không có mối
quan hệ nào, chúng vốn là những từ hoàn toàn khác nhau.)nh trờng hợp câu trong
"câu cá", và câu trong "đoạn văn có 5 câu" là từ đồng âm ngẫu nhiên và cả từ đồng
âm chuyển loại (nghĩa là các từ giống nhau về hình thức ngữ âm nhng khác nhau về
nghĩa, đây là kết quả của hoạt động chuyển hoá từ loại của từ).
-VD: a) + cuốc (danh từ) ,đá( danh từ ) cái cuốc, hòn đá

VD: Từ ăn có các nghĩa sau đây:
+ ăn cơm: tự cho vào cơ thể thức ăn để nuôi sống cơ thể
+ ăn cới : ăn uống nhân dịp cới
+ Tàu ăn hàng : tiếp nhận hàng để chuyên trở
+ ăn hoa hồng: nhận lấy để hởng
+ ăn con xe: giành về mình phần hơn, phần thắng
+ Da ăn nắng: hấp thụ cho thấm vào, nhim vào.
+ Sơn ăn mặt : làm huỷ hoại dần dần từng phần.
+ ăn ảnh: vẻ đẹp đợc tôn lên (trong ảnh).
+ sông ăn ra biển: lan ra hoặc hớng đến nơi nào đó
+ Đám đất này ăn về xã bên: Thuộc về
+ Một đôla ăn mấy đồng tiền Việt Nam : Có thể đổi ngang giá.
Nh vậy từ " ăn" là một từ nhiều nghĩa.
Trong chơng trình môn tập đọc lớp 5 từ trông trong bài ca dao "đi cấy" là một từ
nhiều nghĩa.
Chơng trình phân môn luyện từ và câu không đề cập tới nghĩa đen và nghĩa bóng của
từ nhiều nghĩa mà đề cập tới nghĩa chuyển và nghĩa gốc . Ng hĩa đen chính là nghĩa
gốc của từ còn đợc gọi là nghĩa trực tiếp, là nghĩa đầu tiên của từ, là cơ sở để tạo ra
các nghĩa khác. Trong từ điển, nghĩa đen dợc nói tới đầu tiên. Nghĩa bóng cũng chính
là nghĩa chuyển, là loại nghĩa đợc hình thành từ nghĩa đen (hoặc nghĩa chuyển này đ-
ợc hình thành từ nghĩa chuyển khác), có mối liên hên mật thiết với nghĩa đen. Nghĩa
bóng (nghĩa chuyển ) là sản phẩm của hoạt động chuyển nghĩa của từ theo các phơng
thức nh ẩn dụ , hoán dụ Trong từ điển, nghĩa bóng đợc nói đến sau nghĩa đen
Nghĩa bóng ( nghĩa chuyển) cũng mang tính cố định, ổn định , bền vững, tính xã hội
và tính dân tộc nh nghĩa đen.
b. Nắm vững phơng pháp dạy từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
* Bài học về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là loại bài khái niệm. Giáo viên tổ chức các
hình thức dạy học để giải quyết các bài tập ở phần nhận xét, giúp học sinh phát hiện
các hiện tợng về từ ở các bài tập từ đó rút ra đợc những kiến thức về từ đồng âm và từ
nhiều nghĩa.Bớc tiếp theo GV tổng hợp và chốt kiến thức nh nội dung phần ghi nhớ .

lỡi lê, lỡi lam , lỡi hái). Các từ còn lại giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận
nhóm, trình bày bằng trò chơi ai nhanh hơn.
* Đối với các tiết dạy luyện tập về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, giáo viên chủ yếu
thông qua việc tổ chức các hình thức dạy học để giúp học sinh cũng cố, nắm vững
kiến thức, nhận diện, đặt câu, xác định đúng nghĩa
2. Tìm các căn cứ để giúp học sinh nhận diện , phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
. Quay lại với bài kiểm tra ở phần thực trạng , tôi muốn đề cập đến một số lỗi HS mắc phải
khi phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa . Đó là :
+ Các em không xác định đợc nghĩa cuả từ trong từng câu.
+ Không tìm đợc mối quan hệ giữa từ mang nghĩa gốc với từ mang nghĩa chuyển.
+ Không dựa vào văn cảnh để hiểu nghĩa của từ trong mối quan hệ với các từ khác của
câu.
+ Không thuộc định nghĩa ( tức phần ghi nhớ) của mỗi bài học.
Khi học sinh làm bài xong, tôi hỏi một học sinh có số điểm bài kiểm tra dới 5 (em
Kiên) về nghĩa của từ vạt trong câu :
Chú T lấy dao vật nhọn đầu chiếc gậy tre nghĩa là gì?
Lúc đầu em im lặng, không trả lời, sau tôi động viên mãi, bảo em hiểu thế nào cứ nói
cho cô nghe thì em trả lời vạt trong câu văn đó là một phần đầu nhọn của con dao.
Tôi không nói nhng thầm nghĩ, em Kiên hiểu sai nghĩa của từ "vạt" và nội dung ý
nghĩa thông báo của câu văn nên trong bài làm của mình em cho rằng từ vạt trong
câu :
Những vạt nơng màu mật
Lúa chín ngập lòng thung
và từ 'vạt' trong câu văn trên đều là những từ cùng nghĩa.
Tìm hiểu và nắm đợc một số sại lầm của học sinh nh trên, tôi đã thử nghiệm một số
biện pháp phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa nh sau:
a) Yêu cầu học sinh thuộc ghi nhớ
Ngời thực hiện: Lu Thị Hơng Trờng TH TT Thống Nhất
6
SKKN: một số biện pháp dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều

Xét nghĩa của 3 từ "đờng" trên ta thấy:
Từ (đờng(1) và từ đờng (2) có nghĩa hoàn toàn khác nhau không liên quan đến nhau-
kết luận. hai từ đờng này có quan hệ đồng âm. Tơng tự nh trên từ 'đờng (2) và từ 'đ-
ờng" (3) cũng có mối quan hệ đồng âm.
Từ đờng (2) và từ đờng (3) có mối quan hệ mật thiết về nghĩa trên cơ sở của từ đờng
(3)- chỉ lối đi, ta suy ra nghĩa của từ 'đờng' (2) (truyền đi) theo vệt dài (dây dẫn). nh
vậy từ đờng (3) là nghĩa gốc, còn từ đờng (2) là nghĩa chuyển kết luận: từ 'đờng' (2)
và từ 'đờng' (3) có quan hệ nhiều nghĩa với nhau.
c)Dựa vào yếu tố từ loại cũng có thể giúp học sinh phân biệt đợc từ đồng âm và từ
nhiều nghĩa.
Biện pháp này thực ra ít khi tôi vận dụng bởi nếu học sinh đã hiểu đúng nghĩa của
từ. thuộc đợc khi nhớ thì không cần thiết phải dùng đến cách dựa vào yếu tố từ loại,
tuy nhiên đối với một số học sinh trung bình và yếu giáo viên có thể kết hợp cả 3
biên pháp.
Ngời thực hiện: Lu Thị Hơng Trờng TH TT Thống Nhất
7
SKKN: một số biện pháp dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều
nghĩa
Nếu trong thực tế đời sống hàng ngày học sinh có thể bắt gặp hiện tợng một từ nào đó
phát âm gần nhau nhng xét về từ loại khác nhau thì kết luận đó là hiện tợng đồng âm.
chẳng hạn khi chơi đùa học sinh hò reo đồng thanh để cổ vũ cho một học sinh đợc
mệnh danh là cụ cố vì em này nhỏ , yếu :
"Cố lên cụ cốơi!"
Cố thứ nhất là tính từ, cố thứ 2 là danh từ. đây là hiện tợng đồng âm dễ nhận
diện.
Tùy trờng hợp những từ phát âm giống nhau nhng cùng từ loại (cùng loaị danh từ,
động từ, tính từ) thì phải vận dụng biện pháp giải nghĩa từ trong văn cảnh đồng thời
xét xem các từ đó có mối quan hệ về nghĩa hay không để tránh nhầm lẫn giữa từ đồng
âm với từ nhiều nghĩa hoặc quan hệ đồng nghĩa nếu có . Trong trờng hợp này thông th-
ờng ta dựa vào ngữ cảnh để nhận biết nghĩa của từ đồng âm, nói cách khác là dựa vào

nghĩa
giỏi,có một số trờng hợp giống nhau về âm thanh nhng khó phân biệt hiện tợng đồng
âm hay nhiều nghĩa.
VD: Các từ trong mỗi nhóm dới đây có quan hệ nh thế nào?
a) Đánh cờ, đánh giặc, đánh trống.
b) Trong veo, trong vắt, trong xanh,
c) Thi đậu , xôi đậu, chim đậu cành.
(Đề thi HSG khối 5- trờng TH Yên phú)
Xét về từ loại thì nhóm c các từ đậu có quan hệ đồng nghĩa với nhau vì đậu trong
thi đậu là tính từ (đỗ,trúng tuyển) đậu trong xôi đậu là danh từ (gạo nếp trộn với
đậu ngâm muối để ráo rồi đồ lên), 'đậu' (trong chim đậu trên cành) là động từ (nghĩ
tạm dừng lại).
Ơ nhóm a, các từ 'đánh' đều là động từ nhng xét về nghĩa các từ 'đánh cờ' (một trò
chơi), 'đánh giặc' ( chiến đấu với kẻ thù bằng nhiều cách) và 'đánh trống' (dùng đùi
hoăc tay đánh vào mặt trống cho phát ra âm thanh) thì nghĩa của chúng có liên qua
đến nhau , đều tác động đến một sự vật khác , làm cho sự vật đó có sự thay đổi , vì vậy
các từ đánh ở nhóm a có quan hệ nhiều nghĩa .
Tuy nhiên các từ 'trong' ở nhóm b cũng là các từ có cùng từ loại ( tính từ ). Song
chúng lại có quan hệ đồng nghĩa với nhau .
Trong quá trình dạy bồi dỡng học sinh giỏi để giúp học sinh làm tốt các bài tập nh
trên, giáo viên yêu cầu các em luôn nắm chắc nghĩa của từ và suy xét kĩ lỡng nghĩa
của các từ đó,không đợc bộp chộp ngộ nhận hoạc mới chỉ nhiều nghĩa mang máng
mà đã vội kết luận mối quan hệ giữa các từ đã cho.
d)Dùng s đồ.
Đôi khi dạy xong tôi thầm nghĩ không biết cách làm của mình nh thế này có phi
phơng pháp và trái với đặc trng bộ môn hay không nhng rõ ràng tôi thấy khi tôi dạy
theo cách vẽ sơ đồ thì học sinh nhớ kiến thức về từ đồng âmvà từ nhiều nghĩa nhiều
hơn, nhanh hơn đặc biệt là những học sinh trung bình và yếu.
Thông thờng khi dạy đến bài tập về từ đồng âm, tôi vừa hớng dẫn vừa giúp học sinh
nhớ lại kiến thức bằng việc vẽ hai hình tròn ngang nhau nhng rời nhau nh

- Mẹ hay đi bộ vào buổi tối để giảm béo.
- Bố mới đi Hà Nội về.
- Hè này, cả nhà em đi du lịch
- Cụ ốm nặng, đã đi hôm qua rồi.
- Anh đi con mã, tôi đi con tốt.
- Thằng bé đã đến tuổi đi học.
Bài tập này giáo viên chỉ yêu cầu học sinh nhận diện từ 'đi' trong các câu văn trên là
hiên tợng đồng âm hay không phải đồng âm,không yêu cầu các em giải thích gì và sẽ
có hai phơng án trả lời: đồng âm/ không đồng âm.Đến đây giáo viên gợi mở : để biết
từ "đi" trong các câu văn trên có phải là quan hệ đồng âm hay không,các em về nhà
suy nghĩ tìm hiểu SGK các tiết luyện từ và câu sau cô sẽ giúp các em tìm câu giải
Ngời thực hiện: Lu Thị Hơng Trờng TH TT Thống Nhất
10
SKKN: một số biện pháp dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều
nghĩa
đáp.
Để không mất nhiều thời gian tiết học cho nội dung trên, giáo viên viết sẵn nội dung
câu hỏi gợi mở ra bảng phụ và tiến hành sau khi học sinh lấy ví dụ về từ đồng âm để
khẳng định lại ghi nhớ. Lúc đó tự các em sẽ có một sự so sánh giữa các ví dụ về từ
đồng âm với ví dụ trên đây, đồng thời, giáo viên kích thích đợc t duy của học sinh. Tr-
ớc khi kết thúc tiết học, giáo viên cũng không quên nhắc học sinh về nhà tiếp tục suy
nghĩ trả lời giải thích về hiện tợng từ "đi" trong các câu văn đã cho.
Trong dạy bài 'từ nhiều nghĩa' giáo viên cũng nên đa thêm một ví dụ về từ đồng âm
để học sinh phân biệt , rèn đợc kĩ năng nhận diện từ .
Sau phần ghi nhớ của bài học từ nhiều nghĩa giáo viên có thể lấy thêm một hai tr-
ờng hợp về từ nhiều nghĩa, sau đó quay lại lấy một ví dụ về từ đồng âm cho học sinh
nhận định về các từ trong ví dụ.
VD: từ 'chỉ' trong các trờng hợp sau là từ đồng âm hay nhiều nghĩa? Vì sao?
Cái kim sợi chỉ chiếu chỉ chỉ đờng một chỉ vàng. ở câu hỏi này, giáo viên
yêu cầu học sinh giải thích lí do lựa chọn để khẳng định kiến thức và khả năng nhận

SKKN: một số biện pháp dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều
nghĩa
Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm : bàn, cờ, nớc.
O bài tập này giáo viên hớng dẫn học sinh với mỗi từ các em cần đặt ít nhất là hai
câu, các từ đó có quan hệ đồng âm với nhau.
VD: Bàn :- Cả nhà ngồi vào bàn để ăn cơm.
- Bố mẹ em cũng đang bàn chuyện cới vợ cho anh trai.
*Đối với từ nhiều nghĩa.
Đặt câu để phân biệt nghĩa của từ đứng
Đứng : Nghĩa 1: ở t thế chân thẳng, chân đặt trên mặt nền.
Nghĩa 2: Ngừng chuyển động.
Giáo viên có thể gợi ý nghĩa 1 nói tới một t thế của ngời hoặc động vật. Nghĩa 2
nói tới trạng thái của một đồ vật hiện tợng, dựa vào gợi ý đó học sinh có thể đặt
câu.
Nghĩa 1: Chúng em đang đứng nghiêm trang chào cờ.
Nghĩa 2: Kim đồng hồ đứng lại.
Trời đứng gió
Dạng 3: Phân biệt quân hệ đồng âm, quan hệ nhiều nghĩa.
VD: Trong các từ im đậm dới đây, những từ nào có quan hệ đồng âm, những từ nào
có quan hệ nhiều nghĩa với nhau?
Vàng: - Giá vàng ở nớc ta tăng đột biến
-Tấm lòng vàng.
- Ông tôi mua mua một một bộ vàng lới để chuẩn bị cho vụ đánh bắt hải sản.
Ơ bài tập này giào viên hớng dẫn học sinh hiểu nghĩa của các từ vàng , rồi xác
định mối quan hệ giữa chúng dựa vào các căn cứ nh mục (II .2).
Đáp án: Từ vàng ở câu 1,2 có quan hệ nhiều nghĩa, từ 'vàng' ở câu 3 có quan hệ
đồng âm với từ vàng ở câu 1 và 2.
Dạng 4: Nối từ hoặc cụm từ với nghĩa đã cho.
*Đối với từ đồng âm:
Ví dụ: Nối các cụm từ ở cột A với nghĩa thích hợp ở cột B.

d. Sự di chuyển nhanh bằng chân.
Đáp án: 1 d, 2 c, 3 a, 4 b
đối với những bài tập trên, giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận để nối những cụm
từ hoặc câu với nghĩa thích hợp ở những trờng hợp dễ nhận thấy trớc. Trờng hợp khó
còn lại nếu học sinh cha hiểu nghĩa các em có thể vận dụng cả phơng pháp loại trừ.
Ơ cả từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có mặt cả bốn dạng bài tập trên. Bên cạnh đó,
mỗi nội dung lại có một số dạng bài tập riêng:
* Đối với từ đồng âm có dạng bài tập đố vui:
Trùng trục nh con chó thui
Chín mặt, chín mũi, chín đuôI, chín đầu
(Là con gì?)
Hoặc dạng bài tập chỉ ra những từ đồng âm đợc dùng để chơi chữ trong các câu
sau:
a, Bác bác trứng, tôi tôi vôi.
b, Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa.
Với bài tập này ngoài việc chỉ ra các từ đồng âm, đối với học sinh khá giỏi, giáo viên
nên yêu cầu các em nêu cách hiều của mình về các câu trên.
* Đối với từ nhiều nghĩa có dạng bài tập thay thế từ:
Tìm từ có thể thay thế từ mũi trong các cụm từ sau:
- Mũi thuyền.
- Mũi súng
- Mũi đất
- Mũi quân bên trái đang thừ thắng xốc tới.
- Tiêm ba mũi.
5. Tự tích luỹ một số trờng hợp về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong cuộc sống hàng
ngày để có thêm vốn từ trong giảng dạy.
* Đối với từ đồng âm:
a. bạc:
- Cái nhẫn bằng bạc
- Đồng bạc trắng hoa xoè.

Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem
(ca dao)
- Kể chi tuổi tác già nua
Trống chèo xin cứ thi đua đến cùng.
(Mẹ Suốt Tố Hữu)
i.lợi.
- Bà già đi chợ cầu Đông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?
Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi nhng răng chẳng còn.
Trong bài thơ Rắn đầu biếng học của Lê Quý Đôn cũng sử dụng từ đồng âm để
chơi chữ:
Chẳng phải liu điu cũng giống nhà
Rắn đầu biếng học lẽ không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen tuồng nói dối
Lằn lng cam chịu dấu roi da.
Từ nay Trâu Lỗ xin gắng học
Kẻo hổ mạng danh tiếng thế gia.
Câu chuyện vui sau đây cũng sử dụng từ đồng âm để chơi chữ :
Ngời thực hiện: Lu Thị Hơng Trờng TH TT Thống Nhất
14
SKKN: một số biện pháp dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều
nghĩa
Xa, có anh chàng mợn của ngời hàng xóm một cái vạc đồng. It lâu sau, anh ta trả cho
ngời hàng xóm hai con cò, nói là vạc đã bị mất nên đền hai con cò này. Ngời hàng
xóm đi kiện. Quan gọi hai ngời đến xử. Ngời hàng xóm tha: Bẩm quan, con cho hắn
mợn vạc, hắn không trả. Anh chàng nói: Bẩm quan, con đã đền cho anh ra cò.
- Nhng vạc của con là vạc thật.

e,sờn
- Nó hích vào sờn tôi.
- Con đèo chạy ngang sờn núi.
- Tôi đi qua phía sờn nhà.
- Dựa vào sờn của bản báo cáo
g, xuân
- Mùa xuân là tết trồng cây.
Ngời thực hiện: Lu Thị Hơng Trờng TH TT Thống Nhất
15
SKKN: một số biện pháp dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều
nghĩa
Làm cho đất nớc càng ngày càng xuân.
(Hồ Chí Minh)
- Ngày xuân con én đa thoi
(Nguyễn Du)
- Sáu mơi tuổi hãy còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên
(Hồ Chí Minh)
- Khi ngời ta đã ngoài 70 xuân thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càn thấp
c. Kết luận
Dạy các nội dung về nghĩa của từ thực sự không đơn giản , nhất là phân biệt từ đồng
âm với từ nhiều nghĩa và cả với từ đồng nghĩa. Trong quá trình giảng dạy ,tổ chức cho
HS nắm đợc kiến thức , bản thân tôi cũng đã cố gắng nghiên cứu ,tìm tòi , học hỏi và
lựa chọn sao cho HS nắm kiến thức mới và vận dụng trong học tập cũng nh trong cuộc
sống một cách hiệu quả .Việc dạy kiến thức về từ đồng âm , từ nhiều nghĩa , phân biệt
từ đồng âm với từ nhiều nghĩa theo một số biện pháp trên đây là một thử nghiệm của
bản thân tôi trong năm học 2010- 2011 . Kết quả tuy cha thực sự cao , song so với
chất lợng HS học nội dung này ở năm học trớc đã có sự chuyển biến . Cụ thể , năm
học này tôi cũng ra những bài tập tơng tự năm học 2009 - 2010 cho các em HS lớp 5B
- lớp chủ nhiệm .Kết quả làm bài nh sau :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status