MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
Lời mở đầu
Phần A: MỞ ĐẦU
1. Bối cảnh của đề tài - Lý do chọn đề tài ….………………………… 3
2. Phạm vi nghiên cứu ………………………………………………… 4
3. Những điểm mới trong nghiên cứu………………………………… 4
Phần B: NỘI DUNG CHÍNH
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Khái niệm - Cơ sở lí luận… ……………………………………….…5
2. Thực trạng của vấn đề……………………………… 8
BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT
1. Đặc điểm tình hình nhà trường……………………………………… 9 - 10
2. Các biện pháp thực hiện…………………………………………… 11- 20
3. Những kết quả đạt được…………………………………………… 21
Phần C : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Những bài học kinh nghiệm……………………………………… 22
2. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm……………………………… 23
3. Khả năng ứng dụng triển khai………………………………………23 -
24
4.
Nhng kin ngh xu t . 24
5.
Danh muùc tham khaỷo taứi lieọu.25
TI LIU THAM KHO
Phn A: M U
LI M U
Lnh vc Giỏo dc o to c ng v Nh nc ta xỏc nh l Quc
sỏch hng u. Mun cú cht lng hc tp tht tt , trc ht phi chỳ ý n
từ lứa tuổi học sinh học tiểu học. Giáo dục đạo đức lại càng phải quan tâm và coi
trọng, nó là một nhân tố quyết định đến nhân cách con người, là luân thường đạo
lý của con người. Đạo đức gắn liền với nền văn hoá của xã hội. Có thể nói đạo
đức gắn liền với tâm hồn con người tạo nên lời ăn tiếng nói, cách cư xử với cộng
Trang 3
đồng xã hội … khiến cho mọi người xung quanh vui vẻ, hạnh phúc. Đạo đức là
các tốt, cái đúng của mỗi con người được chuyển hoá thành lời nói và hành vi tốt
đẹp. Con người phải có nhận thức đúng đắn và theo chiều hướng tích cực về một
sự vật, hiện tượng nào đó để từ đó có lời nói, hành vi tốt về sự vật hiện tượng đó.
Như Bác Hồ nói “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà
nên”.
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh là một phần không thể thiếu để
hinh thành và phát triển đạo đức, nhân cách của học sinh. Trong bối cảnh đất
nước đang hội nhập toàn cầu, đang cần những con người có tài có đức, là những
người vừa hồng vừa chuyên mới có thể góp phần xây dựng đất nước vững mạnh
giàu đẹp. Vì vậy vấn đề giáo dục đạo đức cho những mầm non của đất nước rất
cần thiết và thiết thực.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng,
có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Do đó việc xây dựng đạo đức,
lối sống cho các em ngay khi đang ngồi trên ghế nhà trường là vấn đề vô cùng
quan trọng, đây cũng chính là thước đo để đánh giá một con người. Bộ GD-ĐT
cũng thường xuyên chỉ đạo các trường học cần tập trung: “Giáo dục đạo đức
trong nhà trường là nhiệm vụ rất cấp bách hàng đầu không thể thiếu được của
các trường học”.
Trường học là môi trường giáo dục và rèn luyện cho thế hệ trẻ về cả đức
lẫn tài. Vì vậy với vai trò của một giáo viên bản thân tôi cần phải làm thế nào để
giáo dục các em trở thành con ngoan trò giỏi với một nhân cách hoàn thiện là
điều quan trọng.
Xuất phát từ những lý do nêu trên cùng với mong muốn nâng cao hiệu quả
Cơ sở lí luận:
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục
thi đua dạy tốt và học tốt”, trong từng giai đoạn ngành Giáo dục đã phát động
nhiều phong trào thi đua .Cùng với cuộc vận động “Nói không với tiêu cực và
bệnh thành tích trong giáo dục” từ năm 2006 và “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một
tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” từ năm 2007 ; ngày 15 tháng 5 năm
2008 tại Trường THCS Vạn Phúc, Hà Đông, Phó Thủ tướng chính phủ, Bộ
Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo GS .Nguyễn Thiện Nhân đã phát động phong
trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các
trường phổ thông giai đoạn 2008-2013. Mục tiêu của phong trào thi đua là huy
động sức mạnh tổng hợp của lực lượng trong và ngoài nhà trường để xây dựng
môi trường giáo dục an toàn ,thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa
phương và đáp ứng nhu cầu xã hội; hình thành, phát huy tính chủ động, tích cực,
sự sáng tạo của học sinh trong học tập và trong các hoạt động xã hội. Để sớm
khắc phục những tồn tại về “ đạo đức của học sinh, nhất là học sinh cá
biệt…”-
Như vậy , để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh cá biệt
có hiệu quả– ngành đã phát động nhiều phong trào thi đua, nhiều cuộc vận động.
Trang 6
Xuyên suốt trong các hướng hướng dẫn nhiệm vụ năm học của Sở giáo dục cũng
như Phòng giáo dục đào tạo đều thể hiện đầy đủ tinh thần của các cuộc vận động
này. Đặc biệt với năm học này nhiệm vụ chủ yếu của ngành giáo dục và đào tạo
An Giang là “ Tiếp tục đổi mới công tác quản lý và thực hiện đồng bộ các giải
pháp để nâng cao chất lượng giáo dục, nhằm mục tiêu giáo dục toàn diện cho học
sinh”. Là giáo viên cần phải quán triệt sâu sắc tinh thần đó và biến nó thành
những giải pháp cụ thể để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho
học sinh , nhất là các em cá biệt của đơn vị mình.
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ Ở LỨA TUỔI HỌC SINH TIỂU HỌC
2.1. Đặc điểm về nhận thức của học sinh tiểu học
Trên thực tế, học sinh tiểu học là lứa tuổi từ 6 đến 11 tuổi. Tuổi học
theo nhiều hình thức, một hiện tượng có thể có nhiều nguyên nhân. Các em
đã có khả năng lập luận cho các phán đoán của mình.
Tóm lại, khả năng tư duy ở học sinh tiểu học, tính trực quan cụ thể
được thể hiện rõ ở các lớp đầu cấp và chuyển dần sang tính khái quát, trừu
tượng.
b) Khả năng tưởng tượng
Khả năng tưởng tượng của trẻ tiểu học đã phát triển và phong phú hơn
so với trẻ mẫu giáo. Song quá trình tưởng tượng của trẻ còn tản mạn và ít có
tổ chức. Hình ảnh tưởng tượng chưa được gọt dũa, còn hay thay đổi chưa bền
vững; đến lớp 4-5 tính trực quan trong hình ảnh tưởng tượng giảm dần, các
em đã có khả năng sáng tạo vì biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng các hình
ảnh tưởng tượng mang tính trừu tượng khái quát cao hơn.
c) Khả năng ngôn ngữ
Ngôn ngữ của học sinh tiểu học phát triển mạnh về cả ngữ âm và ngữ
pháp và từ ngữ. Các lớp cuối cấp các em đã nắm được ngữ âm. Các em đã
Trang 8
biết sử dụng ngôn ngữ dưới hai hình thức ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
Qua hoạt động giao tiếp rộng rãi với người xung quanh và được tiếp thu các
tri thức qua các môn học mà vốn từ ngữ của các em càng phong phú , chính
xác và giàu hình ảnh.
Tuy nhiên trong quá trình phát triển về tâm lí không phải trẻ nào cũng
như nhau. Nó còn tùy thuộc vào các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Giống
như “gần mực thì đen gần đèn thì sáng vậy”. Sự phát triển còn chịu sự chi
phối rất lớn từ hoàn cảnh sống. Phần lớn các em học sinh cá biệt đều xuất
thân từ những gia đình cha mẹ ít quan tâm dạy dỗ, đôi khi do được cha mẹ
chiều chuộng quá các em cũng trở nên ngang bướng ỷ lại.
2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
-Thực tế giảng dạy từ nhiều năm qua, tôi đã lưu ý và quan sát được nguyên
nhân học sinh chưa ngoan là do cha mẹ các em ít quan tâm hoặc quá nuông chiều
dẫn đến các em ỷ lại và hành động sai, số khác do tác động từ phim ảnh, các trò
còn ít nhiều khó khăn.
- Trường có đội ngũ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn, đủ trình độ
nắm bắt được việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học các môn học
.Nhiều giáo viên có kinh nghiệm ,tay nghề cao và nhiệt tình giảng dạy.
- Sự lãnh đạo kịp thời của Sở ,Phòng ,
Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân địa
phương.
- Hội cha mẹ học sinh phát huy tác dụng tốt và phối hợp chặt chẽ với
nhà trường.
Trang 10
Bảng 1: Thống kê số lượng học sinh hiện nay:
Khối lớp
Tổng số
học sinh
Nữ
Tuyển
mới
Huy
động
Học sinh
lưu ban
Biên
chế
lớp
1
2
3
4
5
715 343 / / 03 29
- Bình quân một lớp là 24 học sinh.
Bảng 2: Thống kê tình hình đội ngũ cán bộ, công nhân viên:
Cán bộ CNV
Tổng
số
Trình độ đào tạo
ĐHSP CĐSP CĐTH THSP
Trung
cấp
Giáo viên 30 18 / 09 02 /
Cán bộ quản lý 03 02 / 01 / /
Tổng phụ trách
đội
01 01 / / / /
Giáo viên chuyên 06 03 03 / / /
Công nhân viên 08 / / / / 08
∗
Cơ sở vật chất trường:
- Trường có 25 phòng học: Bố trí 29 lớp học, 12 lớp học 2 hai
buổi/ngày
- Có đầy đủ trang thiết bị cần phục vụ học tập, (sách giáo khoa, sách
tham khảo, đồ dùng dạy học…).
Trang 11
Bảng 3: Thống kê chất lượng giáo dục ( Trường TH “Đ” Kiến Thành)
Năm học
Kết quả học lực
Ghi chú
Tổng
số học
sinh.
- Nghiên cứu kết quả học tập rèn luyện của học sinh qua những năm
học trước đó.
Trang 12
- Nghiên cứu qua những nhận xét, đánh giá của bạn bè đặc biệt là
người thân.
- Nghiên cứu hoạt động giao tiếp giữa giáo viên với học sinh để hiểu
biết về tâm lý, tính cách, nhận thức của học sinh.
Qua tìm hiểu tôi đã nắm tình hình một số đối tượng như sau:
BẢNG THỐNG KÊ HỌC SINH CÁ BIỆT
STT Họ và tên Lớp
Học
lực
Hoàn cảnh gia
đình
Biểu hiện vi phạm
01 Trần Văn Nông 1A TB Cha mẹ làm ăn xa
Thường xuyên nghỉ
học, tới lớp không
chịu học…
02 Huỳnh Văn Đức 2C Yếu
Sống với ông ngoại
đã lớn tuổi
Nghỉ học, hay chửi
thề, không viết bài…
03 Huỳnh thị Tỏ 3A TB Cha mẹ đi làm xa
Ngại tiếp xúc với
thầy cô, bạn bè, hay
lo lắng,…
04
Cha mẹ thiếu quan
tâm.( gia đình hay
gây gỗ nhau)
Hay tụ tập đánh nhau,
chửi thề,…
09
Trần Văn Quốc
Thạnh
5A TB
Gia đình ít quan
tâm
Mê chơi, không chăm
lo học tập.
10 Mai Ngọc Thịnh 5B TB Gia đình nghèo
Hay đánh nhau, có tật
trộm vặt,…
2/ Tìm hiểu nguyên nhân vì sao các em này thuộc đối tượng học sinh cá
biệt:
a/ Nguyên nhân:
Tất nhiên có nhiều nguyên nhân khác nhau, có em học yếu kém gây ra
chán nản, có em do gia đình thiếu quan tâm, chăm sóc giáo dục chưa chặt chẽ, có
em phải sống nhờ ông bà ( do nhà nghèo, ba mẹ đi làm ăn xa)…
- Bố mẹ sống không hạnh phúc, sống ly thân, ly hôn (có rất nhiều học
sinh cá biệt đều có hoàn cảnh này). Phương pháp giáo dục con chưa phù hợp
( quá nghiêm khắc hoặc quá chiều chuộng).
- Học sinh không có khả năng tự giáo dục, bị bạn bè lôi kéo, ham chơi
sớm, có nhiều mối quan hệ không lành mạnh thích đua đòi, ăn diện.
Trang 14
- Tư chất của học sinh chậm trong nhận thức, hổng kiến thức từ lớp
dưới nên chán học, thường hay nghịch phá, mất trật tự.
+ Tôi kết hợp cùng giáo viên chủ nhiệm đến trực tiếp gia đình các em để
trao đổi ( đối với những phụ huynh đã viết thư mời mà không đến )
+ Trực tiếp gặp gỡ những học sinh cá biệt trong các trường hợp như : Giờ
chơi, các buổi lao động tập thể, nhưng tôi không khiển trách la rầy mà tôi thăm
hỏi trò chuyện để giúp cho khoảng cách giữa giáo viên và học sinh gần gũi hơn,
thân thiện hơn.
+ Có những lúc tôi trực tiếp hỏi han những vấn đề có liên quan đến kiến
thức, rồi tôi giảng nghĩa ,chỉ dẫn cho các em hiểu câu trả lời tôi vừa đề cập
( phần này nếu các em lúng túng thì tôi khéo léo gợi mở để các em có đáp án trả
lời ) nếu trả lời đúng dù chưa hoàn toàn thì tôi cũng kịp thời khen ngợi, động
viên các em.
+ Những buổi lao động, trò chơi tập thể ( NGLL) , tôi yêu cầu giáo viên
chủ nhiệm nên khuyến khích cho các em tham gia và đề cử một số em này làm
nhóm ( tổ) trưởng để các em có trách nhiệm và sẽ gương mẫu tham gia tốt. ( bản
thân tôi là Bí thư chi đoàn trường nên việc này khá dễ và quen thuộc. )
Trang 16
+ Tôi cũng hòa mình cùng các em, có khi tôi thư giãn kể những mẩu
chuyện vui, những mẫu chuyện có nội dung giáo dục để hướng các em là con
ngoan, trò giỏi.
+ Đối với những em có hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn, tôi sẵn sàng giúp
đỡ, tham mưu với BGH trường tạo điều kiện về sách vở, áo quần, dụng cụ học
tập để các em thấy được sự quan tâm của giáo viên, của nhà trường đối với các
em.( Các em sẽ không có cảm giác mình bị bỏ rơi, đứng bên lề lớp học. )
+ Hàng năm, trường có tổ chức cho học sinh đi tham quan, tôi không ngần
ngại sự có mặt của các em mà tôi luôn tạo mọi điều kiện cho các em này có cơ
hội vui chơi để các em xóa đi tự ti, mặc cảm, xóa đi ý nghĩ bị cô lập tách rời tập
thể, mà các em luôn thấy rằng nhà trường, bạn bè luôn mở rộng vòng tay đón
tiếp các em.
+ Đối với giáo viên chủ nhiệm của các em, tôi trao đổi đề nghị các tiết dạy,
giáo viên nên lôi cuốn, dẫn dắt các em này vào bài giảng bằng những câu hỏi dễ
. Kéo co
I. Mục đích
-
yêu cầu
:
- Đọc rành mạch, trôi chảy. Bước đầu biết đọc diễn cảm một đoạn
diễn tả trò chơi kéo co sôi nổi trong bài.
Trang 18
- Hiểu nội dung bài: Kéo co là một trò chơi thể hiện tinh thần
thượng võ của dân tộc ta cần được giữ gìn, phát huy. ( trả lời được các
câu hỏi trong SGK )
II. Đồ dùng dạy học
: Tranh minh họa SGK
- Bảng phụ viết sẵn đoạn cần luyện đọc.
III. Hoạt động dạy học
1. Ổn đònh
2. Kiểm tra bài cũ:
Tuổi Ngựa
- HSCHT đọc thuộc khổ thơ 1 – 2 và trả lời câu hỏi 1.
- HS đọc thuộc 2 khổ thơ cuối và trả lời câu hỏi 3.
- HS đọc thuộc toàn bài và nêu nội dung bài.
3. Bài mới
: Kéo co
a. Luyện đọc
2
đội bằng nhau……… Kéo co phải
đủ 3 keo. Đội nào kéo được đối phương
ngã về phía mình nhiều hơn là đội ấy
thắng.
HSCHT
nói
được đơn giản
cách chơi kéo co.
+ Cuộc chơi kéo co ở làng Hữu Trấp rất
đặc biệt so với cách thi thông thường. Đó
là cuộc thi giữa bên nam và bên nữ…
+ Đó là cuộc thi giữa trai tráng hai giáp
trong làng. Số người mỗi bên không hạn
chế. Có giáp thua keo đầu, keo sau đàn
ông trong giáp kếo đến đông hơn, thế là
chuyển bại thành
thắng.
+ Trò chơi: thi nấu cơm, nhảy bao bố,
đập nồi, múa võ, đá cầu, đấu vật
HSCHT
Kể được vài trò chơi có thể
chưa được chính xác.
Trang 20
- GV đọc diễn cảm. Chú ý nhấn giọng
những từ gợi tả: thượng võ, nam, rất là
vui, ganh đua, hò reo,….
- Cho HS luyện đọc theo nhóm.
không chịu học…
Đã đi học đều, chịu
viết bài và học bài,…
TB
02 Huỳnh Văn Đức 2C
Nghỉ học, hay
chửi thề, không
viết bài…
Đã đi học đều, không
còn chửi thề, viết bài
khá tốt,…
TB
03 Huỳnh Thị Tỏ 3A
Ngại tiếp xúc với
thầy cô, bạn bè,
hay lo lắng,…
Đã trò chuyện với các
bạn, giơ tay phát
biểu, tự tin hơn,…
Khá
04 Nguyễn Phong Phú 3B
Mê game, không
học bài, không
viết bài,…
Đã bớt chơi game,
biết lo hoc tập hơn,…
Khá
05 Nguyễn Ngọc Thẳng 3B
Mê chơi, nghỉ học,
hay chửi thề,…
trước.
10 Mai Ngọc Thịnh 5B
Hay đánh bạn, có
tật trộm vặt,…
Đã cư xử với bạn tốt
hơn, không còn trộm
vặt, biết lo học,…
Khá
a/ Nguyên nhân thành công
:
- Nhờ hết lòng quan tâm đến các em học sinh , liên kết giáo viên chủ nhiệm
thực hiện giáo dục kịp thời.
- Nhờ sự hỗ trợ tích cực của giáo viên chủ nhiệm, của Tổng phụ trách đội
và đoàn thể nhà trường.
- Nhờ sự kết hợp tiếp tay của Phụ huynh học sinh.
- Bản thân có xây dựng kế hoạch cụ thể từ đó biết phối hợp sử dụng linh
hoạt các biện pháp giáo dục đến từng đối tượng học sinh.
- Nhờ sự giáo dục học sinh theo phương châm “ Nước chảy đá mòn” . Dù
các em cá biệt nhưng giáo viên phải biết giáo dục đúng lúc , đúng nơi và đúng
cách, giáo dục không nóng dội, phải kiên trì nhẫn nại.
Trải qua thời gian áp dụng sáng kiến kinh nghiệm, với những biện pháp
phù hợp, kịp thời đã góp phần cho việc giáo dục học sinh cá biệt được hiệu quả
cao. Đa số các em chuyển biến tích cực , các em có cái nhìn đúng đắn dẫn đến
học lực và hạnh kiểm có tiến bộ.
b/Những hạn chế còn tồn tại
:
Trang 23
- Còn một số giáo viên chủ nhiệm chưa quan tâm đúng mức đến việc giáo
chủ nhiệm của người giáo viên , vì đội ngũ này đóng vai trò quyết định cho việc
giáo dục đạo đức các em, kịp thời động viên , giúp đỡ , uốn nắn, giáo dục các em
sẽ có hiệu quả .
Ý nghĩa của sángkiến kinh nghiệm:
Trong quá trình giáo dục, giáo viên và học sinh chịu sự tác động qua lại
với nhau để thực hiện mục tiêu giáo dục song cả giáo viên và học sinh đều chịu
sự tác động của quản lý mà giáo viên là một thành tố quan trọng, cơ bản nhất của
quá trình giáo dục.Từ đó người giáo viên phải biết định hướng tổ chức lao động
một cách khoa học là yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục toàn diện cho
học sinh. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải có năng lực và bản lĩnh, cũng
như nhận thức đúng về nó, để từ đó mới có biện pháp tác động tốt, thúc đẩy mọi
hoạt động thường ngày càng tiến bộ , từng bước nâng dần chất lượng giáo dục
đạo đức cho học sinh nói chung, cho học sinh cá biệt nói riêng.
Trong việc thực hiện các biện pháp để giáo dục đạo đức cho học sinh cá
biệt . … Để sự tương tác có tác dụng tích cực thì các giải pháp phải được tiến
hành một cách đồng bộ và có khoa học, từ đó chất lượng giáo dục của đơn vị
mới ngày một được nâng lên.
KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG VÀ TRIỂN KHAI
:
Bên trên là những biện pháp mà tôi đã và đang thực hiện tại trường, đã
mang những kết quả tốt, bản thân tôi nghĩ các đồng nghiệp trong ngành giáo dục
có thể tham khảo và áp dụng tùy điều kiện và hoàn cảnh cụ thể ở mỗi đơn vị của
mình.
Trang 25