Tên đề tài:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH
TRONG DẠY VÀ HỌC TOÁN HÌNH HỌC 8 Ơ TRƯỜNG THCS
I/ LÝ DO:
Dạy học như thế nào để tạo hứng thú cho học sinh, phát huy tính tích cực của học
sinh đó là điều trăn trở của hầu hết các người thầy đang đứng trên bục giảng. Vì vậy đòi
hỏi người thầy phải có sự sáng tạo, phải có phương pháp dạy học phù hợp, phải đầu tư
vào từng tiết dạy, đổi mới phương pháp theo từng đối tượng học sinh cho phù hợp.
Hơn nữa môn Toán 8 là môn học có hệ thống kiến thức nhiều, có sự kết hợp các
kiến thức liên tục của các lớp học dưới mà tính thực hành vận dụng cao. Nên để nắm
vững kiến thức và vận dụng tốt kiến thức vào thực hành đòi hỏi tính chuyên cần, tự học,
tự sáng tạo cao của người học. Như ta đã biết học sinh chỉ tích cực suy nghĩ khi có nhu
cầu hiểu biết về một vấn đề nào đó mà tình huống có vấn đề là tình huống khó khăn mà
để giải quyết nó phải có sự tìm tòi suy nghĩ, phải có những tri thức mới, những biện pháp
mới, những cách giải quyết hợp lý.
Bản thân tôi một giáo viên đang đứng trên bục giảng, làm thế nào để giúp học sinh
có hứng thú trong học tập kèm các hoạt động tích cực để giải quyết vấn đề và thông qua
đó mà lĩnh hội kiến thức, kỹ năng để đạt được những những kết quả học tập cao hơn đó
là trăng tở không những của bản thân tôi mà hầu hết của các giáo viên khác.
Qua thực tế giảng dạy môn Toán học sinh hai lớp 81 và 83 sở tại năm học 2014 2015 tôi đã rút ra được một số biện pháp mà đã đem lại hiệu quả là :“ Một số biện pháp
tạo hứng thú cho học sinh trong dạy và học Toán hình học 8 ở trường THCS”.
II/ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1/ Cơ sở lý luận:
Khác với các bộ môn khác môn Toán học được coi là môn học “Trí tuệ” nó cung
cấp những định lý, những kiến thức quan trọng trong chuỗi kiến thức phổ thông. Vì vậy
làm thế nào để học sinh nắm vững và lĩnh hội kiến thức cũng như tạo cho các em có hứng
thú cho học sinh học Toán nói chung hay học Toán 8 nói riêng là mục tiêu mà chúng ta
mỗi người thầy đang mong mỏi.
Vậy : MN =
1
BC
2
Gợi ý việc tính đường trung bình MN của hình thang ABCD được thông qua việc
đường trung bình MK và KN của ∆ ADC và tam ∆ ABC.
MN =
Ví
dụ
2:
1
( AB + CD)
2
Hoặc từ hình học phẳng dự đoán
hình học không gian cụ thể:
Trong hình học phẳng: Nếu hai đường thẳng phân biệt cùng song song với đường
thẳng thứ ba thì chúng song song với nhau.
Trong hình học không gian: Nếu hai mặt phẳng cùng song song với mặt phẳng thứ ba thì
chúng song song với nhau, hình vẽ minh họa:
Hình học phẳng
a
Cách thực hiện: Thông qua các hoạt động trải nghiệm thực hành như: đo đạc, gấp giấy,
vẽ hình, cắt dán…
Ví dụ 1: Ở bài “Đối xứng trục” ta có thể đặt vấn đề như sau: tại sao khi gấp tờ giấy làm
tư ta cắt được chữ H, gấp đôi tờ giấy ta cắt được chữ A,D. Vậy chữ H, chữ A có gì đặc
biệt? Lúc này học sinh tò mò và mong muốn tìm cách giải quyết và hiểu vấn đề đó. Hoạt
độnng thực hành cắt các chữ cái trên là một trải nghiệm thực tế giúp học sinh hiểu rõ kiến
thức:
Ví dụ 1: HĐ: Tìm hiểu hai hình như thế nào gọi là đối xứng nhau qua một điểm
Giáo viên cho học sinh cho học sinh vẽ hình và kiểm nghiệm: Cho hai điểm A,B và điểm
O vẽ điểm A’, B’ lần lượt đối xứng A, B qua O. Lấy điểm C thuộc đoạn thẳng AB, vẽ
điểm C’ đối xứng với C qua O. Dùng thước kẻ kiểm nghiệm rằng điểm C ' thuộc đoạn
thẳng A'B' và điểm A',B',C' thẳng hàng.
Giáo viên giới thiệu hai đoạn thẳng AB và A’B’ gọi là hai hình đối xứng nhau
qua điểm O rồi đặt câu hỏi: “Vậy hai hình đối xứng nhau qua 1 điểm khi nào? “
Học sinh sẽ thuận lợi hơn trong việc trả lời câu hỏi đó chúng ta dễ dàng giúp học sinh
phát biểu định nghĩa hai hình đối xứng nhau qua một điểm.
Ví dụ 3: Ở bài “Ứng dụng thực tế của tam giác đồng dạng” ta có thể đặt vấn đề như
sau: làm thế nào để đo được chiều cao của một cây, hoặc một tháp mà không cần lên đến
ngọn?
Từ việc giới thiệu dụng cụ đo, công dụng của dụng cụ đó đến cách đo:
Sẽ giúp học sinh nắm chắc kiến thức bài và việc tính toán kết quả trên các số liệu thực
hành sẽ cũng cố các bài học liên quan.
Bên cạnh đó gió viên có thể giới thiệu một số cách đo mà khi không có dụng cụ là giác
Chính sự lồng ghép, đan xen, sinh động các kiến thức các bộ môn liên quan còn
giúp các em khám phá những điều hay, bổ ích giáo dục tính cho cuộc sống sau này của
các em chính từ điều đó giúp các em sẽ hứng thú và yêu thích môn học hơn.
Cách thực hiện: Từ những kiến thức bài giáo viên liên hệ đến những tình huống thực tế
hay các môn học liện quan thật gần gũi thật ý nghĩa không những giúp hiễu rõ bài hơn
còn khắc sâu kiến thức bên cạnh đó cho học sinh thấy rõ sự cần thiết của môn học bài học
từ đó có động lực trong học tập và yêu thích với môn học học bài học hơn.
Ví dụ: Kết hợp kiến thức môn hình học và môn vật lý
- Theo định luật phản xạ ánh sáng hay cách vẽ ảnh qua gương phẳng – môn vật lý lớp 7,
học sinh dễ dàng vẽ ra được hình vẽ bên :
Giáo viên giới thiệu hai điểm A, C trên hình có quan hệ gì, Khoảng cách giữa từ điểm A
đến điểm D rồi điểm B có đặc biệt gì ?
Liên môn Hình học – môn Mỹ thuật :
Dựa vào khả năng vẽ hình môn Mỹ thuật 8- bài: Vẽ lọ hoa quả
Giáo viên đưa hình vẽ lọ hoa đầu học sinh vẽ hình lọ hoa, hay trang trí mặt nạ (học
sinh chuẩn bị sẳn ở nhà). Giáo viên đưa hình vẽ thứ hai có ứng dụng trục đối xứng.
Cho học sinh nhận xét, nếu dựa vào tính chất đối xứng việc vẽ lọ hoahay việc trang trí
mặt nạ sẽ có thuận lợi gì?
Để cũng cố cho kiến thức bài “ Đối xứng trục”, giáo viên đưa ra tình huống là bài toán
sau: :Một câu bé đi từ nhà ra bờ sông lấy nước tưới cây hãy chỉ cho bạn ấy con đường đi
để tiết kiện được nhiều thời gian và công sức nhất như hình vẽ:
Từ kiến thức bài đã học, học sinh dễ dàng tìm dược câu trả lời cho bài tập như hình vẽ :
Biện pháp 5: Sử dụng bản đồ tư duy :
Ý nghĩa biện pháp: Việc áp dụng phần mềm vào dạy học bộ môn toán nói chung cũng
III/ HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI:
Học sinh biết vận dụng kiến thức bài vào thực tế cuộc sống hàng ngày, biết tích
toán trong chi tiêu hàng ngày và xử lý linh hoạt các bài toán thực tế liên quan và hơn nữa
chất lượng điểm trung bình cuối kỳ và cả năm học tăng lên rõ rệt. Bên cạnh đó còn đánh
giá qua thái độ học tập của các em như tích cực xây dựng bài làm bài tập đầy đủ hơn và
học bài tốt hơn và nhanh nhẹn linh hoạt trong các hoạt động học tập không chỉ môn Toán
mà cả các môn học khác. Đặc biệt biểu hiện sôi nổi nhiệt tình trong các phong trào của
lớp và các xử lý các tình huống liên quan trong thực tế cuộc sống ... Cụ thể qua chất
lượng đạt được với với 75 học sinh của hai lớp thực dạy ở năm học 2014 - 2015 như sau:
IV/ ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ :
Chính sự lồng ghép sinh động hài hòa giữa các môn học với nhau; sự liên kết của
các kiến thức; hay các hình ảng động nhờ áp dụng các phầm mềm hổ trợ; cũng như các
hình ảnh trực quan là hình ảnh sống động đó giúp các em quên đi sự khô khan bởi các
công thức, các định lý các em sẽ hiểu là các con số tưởng đơn điệu đó biết nói nó gởi tới
các em thông điệp hãy luôn học hỏi, luôn khám phá, kho kiến thức là cánh cửa mở đến
tương lai thành công của các em sau này. Từ đây các em học sinh thấy được ý nghĩa của
môn học mà có động lực học tập tốt hơn.
Vì vậy để tạo được hứng thú cho học sinh đòi hỏi giáo viên phải có vốn kiến thức ,
phải có sự nhạy bén trong sự dụng phối hợp các phương pháp đặc biệt không ngừng học
hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình mới thu hút được sự hứng thú
học tập của học sinh. Giáo viên cần mạnh dạn, tự tin, không ngại khó và không ngừng
sáng tạo. Tiếp tục duy trì các cuộc thảo luận chuyên đề về phương pháp dạy học có hiệu
quả cao, để giáo viên các trường trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, nhằm ngày càng
nâng cao chất lượng bộ môn.
Trên đây là nội dung đề tài tôi thực hiện, thời gian còn hạn chế nên không tránh
khỏi những sai sót kính mong quý thầy cô xây dựng để tôi thực hiện tốt hơn, tôi xin chân
thành cảm ơn.