HỘI THẢO QUỐC TẾ NĂM 2015
“PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY”
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI
HỌC HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC ĐÁP ỨNG
NHU CẦU XÃ HỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Họ và Tên: Ngô Thị Hoài Nam
Học hàm, học vị: Thạc sĩ
Tóm tắt bài tham luận
Mục tiêu chung trong Luật Giáo dục Đại học 2012 nêu rõ: “Đào tạo người học
có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp,
năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng
với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề
nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân”. Đồng
thời, giáo dục đại học là bậc đào tạo quan trọng, cung ứng nguồn nhân lực có tri
thức, có khả năng nghiên cứu khoa học và tiếp cận kịp thời với khoa học - kỹ thuật
tiên tiến của thế giới. Trong khi đó, Việt Nam đã và đang phải thực hiện giai đoạn
2 của lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ Việt Nam theo cam kết gia nhập Tổ chức
thương mại thế giới (WTO), trong đó có dịch vụ giáo dục bậc cao và năm 2015 là
năm đầu tiên mở cửa thị trường lao động ASEAN. Để nguồn nhân lực bậc cao của
Việt Nam đáp ứng được nhu cầu xã hội, đạt được những mục tiêu đã đặt ra, cần
thiết phải thực hiện việc đổi mới toàn diện giáo dục đại học hướng đến phát triển
năng lực người học.
Bài tham luận tập trung phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục đại học tại Việt
Nam hiện nay, cơ hội và thách thức cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội.
Qua đó, tác giả xác định những vấn đề cần đặt ra khi thực hiện đổi mới giáo dục
đại học và đề xuất các giải pháp thiết thực đối với Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Lao
động – Thương binh và Xã hội, Bộ chủ quản các Trường Cao đẳng, Đại học, với
các cơ sở đào tạo, với đội ngũ giảng viên từ thể chế đến chính sách tuyển dụng, tổ
chức quá trình đào tạo và phương pháp giảng dạy.
Nội dung bài tham luận
Đặt vấn đề
Một là, sự trái chiều giữa các văn bản pháp quy. Đơn cử, Nghị quyết số
14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện
giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 nêu rõ: “…Xây dựng và thực hiện
lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để
người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông chuyển tiếp tới
các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài”. Tuy nhiên, theo hướng dẫn
tại Thông tư số 55/2012/TT-BGDĐT ngày 25/12/2012 về đào tạo liên thông trình
độ cao đẳng, đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo lại quy định về tuyển sinh đào
tạo liên thông theo kiểu bó buộc và không tạo điều kiện thuận lợi cho người học
như người học phải tốt nghiệp sau 36 tháng kể từ ngày được cấp bằng hoặc dưới
36 tháng phải dự thi trong kỳ thi tuyển sinh cao đẳng, đại học chính quy do Bộ
Giáo dục và Đào tạo tổ chức hàng năm. Qua đó cho thấy, giáo dục đại học chưa
thực sự hướng đến phát triển năng lực người học. Quan điểm về học tập hiện nay
là học tập suốt đời nhưng những rào cản trên đã hạn chế không ít việc lựa chọn
ngành nghề của người học cũng như tư vấn của các bậc phụ huynh đối với con
mình trước ngưỡng cửa tốt nghiệp phổ thông trung học. Đây chính là nguyên nhân
dẫn đến trào lưu “bằng mọi giá phải đậu đại học”.
Hai là, các quy định liên quan đến đào tạo mang tính cứng nhắc, như quy định
về xây dựng chương trình đào tạo. Các trường được giao quyền tự chủ trong việc
phát triển chương trình đào tạo nhưng phải xây dựng trên cơ sở chương trình
khung của Bộ Giáo dục và đào tạo và số lượng tín chỉ của các học phần trong
chương trình khung này đã chiếm một tỷ lệ khá lớn, xấp xỉ 1/3 trong tổng số lượng
tín chỉ của chương trình đào tạo. Điều này đã hạn chế việc lựa chọn các học phần
giảng dạy, chưa kể đến nội dung của một số học phần không còn phù hợp với thực
tiễn.
Ba là, chương trình đào tạo của các bậc thuộc giáo dục đại học được công khai
nhưng chưa xác thực. Trong chương trình đào tạo từ cao đẳng đến đại học và sau
đại học đều được các trường xác định người học sẽ đạt được kỹ năng thành thạo,
kiểm soát chất lượng đào tạo cũng như kiểm soát các điều kiện cần thiết để đảm
bảo thực hiện tốt các chương trình đào tạo tiên tiến này. Đây chính là cơ hội để các
trường tiếp cận với nội dung, phương pháp đào tạo tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm
và là đòn bẩy giúp các trường nâng cao chất lượng đào tạo, cung ứng nguồn nhân
lực có chất lượng cao.
1.2. Thực trạng về đáp ứng nhu cầu xã hội của nhân lực bậc cao Việt Nam
hiện nay
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tính đến
tháng 7 năm 2014, cả nước có khoảng 162.400 người có trình độ đại học trở lên
thất nghiệp; trong đó thanh niên từ 20-24 tuổi có tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở
lên thất nghiệp chiếm tới 20%. Người có trình độ cử nhân trở lên thất nghiệp liên
tục tăng (so với cuối năm 2013 số lượng cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp là hơn
72.000). Một con số đáng báo động về thực trạng giáo dục bậc cao này, bởi lẽ sự
lãng phí của việc đầu tư nguồn lực tài chính của cả Nhà nước và xã hội để đào tạo
ra lực lượng lao động này.
Một cuộc khảo sát do Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích chính sách thuộc
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội)
thực hiện với quy mô gần 3.000 cựu sinh viên thuộc 5 khóa khác nhau (ra trường
từ năm 2006- 2010) của trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại Học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Huế, đã cho thấy những con số đáng quan
tâm: Có đến 26,2% cử nhân cho biết chưa tìm được việc làm, dù khái niệm việc
làm ở đây được hiểu rất rộng là bất cứ công việc gì tạo ra thu nhập, không nhất
thiết phải đúng với trình độ, chuyên ngành đào tạo. Trong số này, 46,5% cho biết
đã đi xin việc nhưng không thành công; 42% lựa chọn một giải pháp an toàn là tiếp
tục học lên hoặc học thêm một chuyên ngành khác.
Nguyên nhân sâu xa của thực trạng này được đánh giá dưới các góc độ sau:
Thứ nhất, quá trình đào tạo nhân lực bậc cao tiến hành một cách ồ ạt, không
theo nhu cầu xã hội, dự báo về nguồn nhân lực chưa thực sự hiệu quả. Sự phân
thực sự trở thành người dẫn đường giúp người học đến sự tìm tòi, khám phá và
phát huy tính sáng tạo. Kiến thức liên môn của người dạy còn hạn chế chưa thể đáp
ứng được nhu cầu giải quyết các tình huống phức hợp trong nền kinh tế thị trường,
cạnh tranh mạnh mẽ hiện nay. Việc sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
được phổ biến tại các trường nhưng phần lớn chỉ dừng ở mức độ lạm dụng nhằm
chuyển đổi từ hình thức “đọc chép” sang “chiếu chép”. Các phòng học lý thuyết
lẫn thực hành vẫn chưa được kết nối internet bởi một số nhà quản lý đào tạo cho
rằng việc trang bị công nghệ thông tin hiện đại sẽ làm cho người học không tập
trung trong giờ học hoặc giảng viên không kiểm soát được người học. Đây là quan
niệm sai lầm, quan niệm “không kiểm soát được thì cấm” cần chấm dứt trong giáo
dục và đào tạo nhân lực bậc cao này.
Tuy nhiên, trong thời gian tới khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ theo
cam kết gia nhập WTO, trong đó có dịch vụ giáo dục bậc cao thì khả năng nguồn
nhân lực bậc cao được đào tạo ở các trường liên kết với nước ngoài sẽ tăng lên và
sự cạnh tranh về giáo dục đại học sẽ diễn ra khốc liệt.
Từ thực trạng trên cho thấy, giáo dục đại học Việt Nam cần thiết đổi mới
hướng đến phát triển năng lực người học đáp ứng nhu cầu xã hội.
2. Các vấn đề đặt ra trong việc đổi mới giáo dục đại học hướng đến phát triển
năng lực người học đáp ứng nhu cầu xã hội
2.1. Nhu cầu xã hội đối với nhân lực bậc cao trong bối cảnh hiện nay
Giáo dục đại học đổi mới để đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển kinh
tế - xã hội và thị trường lao động là một tất yếu khách quan.
Sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với
những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa tạo ra những cơ hội nhưng
đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với nền giáo dục của nước ta. Giáo
dục Việt Nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng đứng trước một thử thách
lớn, đó là tri thức của loài người tăng nhanh nhưng cũng lạc hậu ngày càng nhanh.
Điều đó đòi hỏi nguồn nhân lực, đặc biệt nhân lực bậc cao cần có khả năng thích
ứng nhanh chóng với nhu cầu của công việc. Hay nói cách khác, thị trường lao
động ngày nay luôn đòi hỏi năng lực hành động của đội ngũ lao động. Vì vậy, phát
xét những vấn đề đặt đối với đội ngũ quản lý giáo dục và giảng viên.
Thứ nhất, đội ngũ quản lý giáo dục. Trình độ chuyên môn sâu và kinh nghiệm
của các trưởng khoa, trưởng bộ môn đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn,
thiết kế chương trình đào tạo để đạt chuẩn về kiến thức, khoa học và có tính linh
hoạt cao. Cán bộ quản lý giáo dục ở các phòng chức năng trong trường cao đẳng,
đại học đòi hỏi phải thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa nhà trường và xã hội, thực
hiện được chức năng khảo sát, tổng hợp và tham mưu về chất lượng đào tạo và nhu
cầu xã hội.
Thứ hai, đội ngũ giảng viên. Giảng viên là yếu tố quyết định hàng đầu trong
việc thực hiện đổi mới chất lượng đào tạo. Giảng viên với nhận thức đúng đắn, với
ý thức trách nhiệm và sự quyết tâm cao, kỹ năng thực hành nghề nghiệp và phương
pháp giảng dạy tốt, phù hợp với đối tượng người học là những yêu cầu cần thiết
của người thầy. Người thầy phải thực hiện được vai trò là người dẫn đường cho
người học và có thể là người đồng hành với người học trong tương lai. Như vậy,
giảng viên phải xác định được những vấn đề cần đổi mới, đó là đổi mới mục tiêu
giáo dục, đổi mới nội dung giáo dục, đổi mới phương tiện dạy học, đồng thời hình
thức tổ chức và phương thức đánh giá phải đáp ứng được yêu cầu đổi mới.
3. Giải pháp thực hiện đổi mới giáo dục đại học hướng đến phát triển năng
lực người học đáp ứng nhu cầu xã hội trong bối cảnh hiện nay
3.1. Giải pháp về thể chế
Giải pháp về thể chế đóng vai trò quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý
và tạo môi trường đổi mới giáo dục một cách thuận lợi. Cụ thể:
- Các quy định thuộc về quản lý giáo dục và đào tạo cần được chặt chẽ, khoa
học, có tính liên thông và tạo khả năng mở rộng các dịch vụ, đầu tư quốc tế trong
giáo dục. Đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tăng cường kiểm soát chặt chẽ
quá trình đào tạo từ việc mở trường, mở ngành đến chất lượng đầu ra mà các
trường đã cam kết.
- Thực hiện giao quyền cho các trường trong việc phát triển chương trình đào
một cách thức hiệu quả nhất về tăng cường chất lượng, tiết kiệm thời gian và chi
phí.
Thứ tư, tổ chức quá trình giảng dạy. Tổ chức dạy học kết hợp với thực tiễn tại
xưởng trường hoặc trải nghiệm thực tiễn tại các doanh nghiệp vừa tạo điều kiện
cho người học đáp ứng được nhu cầu công việc và có điều kiện cải thiện thu nhập.
Các trường đào tạo thực hành cần mạnh dạn tiến hành ngoại khóa hoặc chương
trình bồi dưỡng ngắn hạn tại trường với công nhân có tay nghề giỏi hay những cá
nhân đạt các giải quốc tế về lĩnh vực đào tạo.
Thứ năm, cơ sở vật chất. Nhà trường cần trang thiết bị các phòng thực hành
cũng như các phòng lý thuyết kết nối internet để người học có thể chủ động tìm
kiếm thông tin ngay trong thời gian làm việc tại lớp.
Thứ sáu, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường với các doanh nghiệp
hoặc hội doanh nhân của các địa phương sẽ giúp nhà trường cũng như người học
được hỗ trợ lớn về chia sẻ kinh nghiệm, cơ hội thực tập và cơ hội việc làm. Nhà
trường và Khoa thường xuyên tổ chức các hội thảo nhằm gắn kết nhà trường với
doanh nghiệp và xã hội. Đồng thời, nhà trường cung ứng các khóa bồi dưỡng ngắn
hạn với các nội dung mà doanh nghiệp có nhu cầu, đây cũng là cơ hội để giảng
viên có môi trường cọ sát với thực tế.
3.3. Giải pháp về phương pháp giảng dạy
Giảng viên giữ vai trò trọng tâm trong giải pháp này.
Trước hết, người dạy không ngừng đổi mới phương pháp, nâng cao trình độ
chuyên môn, tham gia tích cực việc trao đổi học thuật cả trong và ngoài trường,
tìm kiếm các cơ hội tiếp xúc thực tế để trao dồi kiến thức, kỹ năng đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của người sử dụng lao động, tiến bộ khoa học kỹ thuật và bắt
kịp xu thế thời đại.
Tiếp theo, phương pháp giảng dạy cần được đổi mới một cách toàn diện với sự
hỗ trợ của các thiết bị hiện đại nhằm phát huy hoạt động tích cực của người học.
Phát triển các mục tiêu giảng dạy, nghiên cứu cơ sở lý luận và xây dựng kế hoạch
Tài liệu tham khảo
1. Anderson, L. W. & Krathwohl, D. R. (2001), Phân loại tư duy cho việc dạy, học
và đánh giá, New York: Longman.
2. Robert J. Marzano (2013), Nghệ thuật và khoa học dạy học, NXB Giáo dục Việt
Nam.
3. Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật Giáo dục Đại
học.
4. Các website: http://www. moet.gov.vn; ,
, .
5. />Liên hệ với tác giả theo địa chỉ:
Họ và Tên: Ngô Thị Hoài Nam
Chức vụ, Cơ quan công tác: Phó Trưởng Khoa Kế toán – Kiểm toán, Trường Cao
đẳng Thương mại
Địa chỉ liên hệ: 45 Dũng Sĩ Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0905012188 email: