BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
KHÁO SÁT THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN
DẠY KỸ THUẬT VÀ NGHỀ THEO QUAN ĐIỂM
ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI VÀ NGHIÊN CỨU
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
S
K
C
0
0
3
9
5
9
MÃ SỐ: B2008 - 22 - 33
KHÁO SÁT THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO
GIÁO VIÊN DẠY KỸ THUẬT VÀ NGHỀ
THEO QUAN ĐIỂM ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ
HỘI VÀ NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Chủ nhiệm đề tài:
TS. Nguyễn Văn Tuấn
Thành viên đề tài:
TS. Lâm Mai Long
TS. Phan Long
TS. Võ Thị Xuân
TS. Võ Thị Ngọc Lan
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí
Minh
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 4
I. Lý do chọn đề tài .................................................................................................................. 4
II. Mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ............................................................................ 4
III. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .................................................................................... 5
IV. Phương pháp và công cụ nghiên cứu .................................................................................. 5
V Giới hạn đề tài ........................................................................................................................ 6
VI. Tổ chức nghiên cứu ............................................................................................................... 6
PHẦN NỘI DUNG ..................................................................................................................... 7
CHƢƠNG I. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo đội ngũ giáo viên giáo dục nghề nghiệp
đáp ứng nhu cầu xã hội .................................................................................................... 7
1. Đào tạo theo nhu cầu xã hội..................................................................................................... 7
2. Những định hướng, chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp........................................... 9
Bảng 2. kế hoạch phát triển qui mô giáo viên dạy nghề. ............................................... 13
Bảng 3. Hệ thống các cơ sở đào tạo giáo viên giáo dục nghề nghiệp............................. 17
Bảng 4. Ngành nghề đào tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ................................... 23
Bảng 5. nguồn giáo viên các cơ sở giáo dục tuyển trong 5 năm trở lại đây: ................. 24
Bảng 6. Đánh giá khả năng giảng dạy của GV từ các nguồn khác nhau: ....................... 25
Bảng 7. Kỹ năng của giáo viên từ nguồn trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật và
khoa Sư phạm Kỹ thuật...................................................................................... 25
Bảng 8. Mức độ ưu tiên đào tạo giáo viên GDNN đáp ứng số lượng và cơ cấu ngành
nghề .................................................................................................................... 26
Bảng 9. Đánh giá mức độ phù hợp của các mô hình đào tạo giáo viên GDNN ............. 27
Bảng 10 . Chương trình khung đào tạo giáo viên hai cấp trình độ. ................................ 31
Bảng 11. Các kiểu trường đào tạo giáo viên có ở một số nước trên thế giới ................. 33
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Mô hình đào tạo mạch thẳng một giai đoạn (hay còn gọi là mô hình song song)
......................................................................................................................................... 19
Hình 2. Mô hình đào tạo mạch thẳng hai giai đoạn ....................................................... 19
Hình 3. Mô hình đào tạo nối tiếp bổ sung. ..................................................................... 20
Trang 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AEVO
Ausbilder-Eignungsverordnung – chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm giáo viên
dạy thực hành nghề
CĐ
HEIs
Higher Education Institutions
LĐTBXH
Lao động Thương binh Xã hội
NVSP
Nghiệp vụ sư phạm
PPDH
Phương pháp dạy học
SPKT
Sư phạm kỹ thuật
TCCN
Trung cấp chuyên nghiệp
TCN
Trung cấp nghề
TVET
nghề ( giáo viên giáo dục nghề nghiệp) đáp ứng nhu cầu và đề xuất các giải pháp về
phương thức đào tạo giáo viên phù hợp với yêu cầu thực tiễn, đề tài tập trung vào thực
hiện một số nhiệm vụ sau đây:
(1) Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Phân tích định hướng chính sách, tình hình đào tạo nghề
- Phân tích nhu cầu về nguồn giáo viên giáo dục nghề nghiệp đáp ứng sự phát
triển kinh tế xã hội;
(2) Nghiên cứu phân tích các phương thức đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật, nghề ở
Việt Nam và sự đáp ứng yêu cầu xã hội;
- Phân tích hệ thống cơ sở đào tạo giáo viên giáo dục nghề nghiệp;
- Phân tích các mô hình đào tạo giáo viên giáo dục nghề nghiệp;
- Đánh giá về khả năng đáp ứng yêu cầu của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đối
với giáo viên từ các nguồn khác nhau đặc biệt đối với phương thức đào tạo
truyền thống từ các trường/khoa Sư phạm Kỹ thuật.
Trang 4
(3) Nghiên cứu phân tích các mô hình đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật nghề ở một số
nước;
(4) Nghiên cứu đề xuất mô hình và giải pháp đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật, nghề
theo hướng phù hợp;
III. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
a. Đối tƣợng nghiên cứu: đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật và nghề theo
quan điểm đáp ứng nhu cầu xã hội.
b. Khách thể nghiên cứu: các cơ sở đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật –
nghề nghiệp, và các cán bô quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
ở TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận.
IV. Phƣơng pháp và công cụ nghiên cứu
V Giới hạn đề tài
Đề tài tập trung đánh giá thực trạng đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật, nghề trên quan
điểm đáp ứng nhu cầu về số lượng, cơ cấu ngành nghề đào tạo cũng như mô hình đào
tạo hiện nay.
Về khảo sát cơ sở giáo dục nghề nghiệp, nhóm nghiên cứu chỉ khảo sát các cơ sở giáo
dục nghề nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Do vậy số liệu chỉ giới
hạn trong phạm vi địa giới hành chính này.
VI. Tổ chức nghiên cứu
1. Thu thập phiếu khảo sát tại các trường, phỏng vấn Ban Giám hiệu nhà trường và
giáo viên.
2. Xử lý phiếu khảo sát bằng chương trình spss, phân tích trên các số liệu thu được.
3. Tổng hợp các nhận xét từ điều tra thực trạng để có nhận xét đánh giá về thực
trạng tuyển dụng, nhu cầu về giáo viên GDNN và khả năng đáp ứng và cũng
như ngành nghề đào tạo giáo viên theo mô hình mạch thẳng.
4. Phân tích các tài liệu liên quan đến đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật nghề của một
số nước và đào tạo nghề cũng như đào tạo giáo viên giáo dục nghề nghiệp ở
Việt Nam.
Trang 6
CHƢƠNG I. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo đội ngũ giáo viên giáo dục nghề
nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội
1. Đào tạo theo nhu cầu xã hội
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về đào tạo theo nhu cầu xã hội. Có quan điểm
cho rằng: Đào tạo theo nhu cầu xã hội gồm: đào tạo theo nhu cầu của Nhà nước, các địa
phương- ngành, nhu cầu của người sử dụng lao động và nhu cầu của người học. Cũng
nhóm đối tượng trên. Theo quan điểm thị trường đào tạo, đào tạo theo nhu cầu xã hội
còn được hiểu là đào tạo theo nhu cầu hiện tại và tương lai của thị trường lao động.
- Đào tạo theo nhu cầu hiện tại của thị trường: Đào tạo đội ngũ lao động đáp
ứng ngay cho thị trường lao động, xác định nhu cầu ngành nghề mà xã hội đang cần và
tổ chức đào tạo. Việc đào tạo này thường được tổ chức thành các lớp đào tạo ngắn hạn
(dưới 1 năm). Ưu điểm của loại hình đạo tạo này là đáp ứng ngay được nhu cầu lao
động của thị trường, tuy nhiên nó có nhược điểm lớn là những lao động được đào tạo ra
thường có tay nghề không cao nên sau một thời gian làm việc nếu không có sự bổ sung
kiến thức thì dễ bị đào thải do không còn đáp ứng được yêu cầu cao hơn của công việc.
- Đào tạo theo nhu cầu tương lai của thị trường: Đào tạo các ngành nghề trên cơ
sở phân tích tình hình phát triển hiện tại của nền kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế
của đất nước và xu thế phát triển của thế giới để đưa ra nhưng dự đoán về những ngành
nghề sẽ phát triển trong tương lai. Việc đào tạo này thường được tổ chức dưới dạng đào
tạo dài hạn (từ 3 đến 5 năm). Những lao động được tạo ra từ đây thường có trình độ
cao, có khả năng tiếp cận những thành tựu của khoa học công nghệ, thích ứng nhanh
với sự thay đổi.Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là do thời gian đào tạo là dài nên đòi
hỏi việc dự báo phải có tính chính xác cao để tránh sự lãng phí nguồn lực và gia tăng tỷ
lệ thất nghiệp.
Nhu cầu của ba nhóm đối tượng trên thường xuyên biến động, thay đổi theo từng
giai đoạn, phụ thuộc vào sự phát triển của KT – XH của đất nước tạo ra một tập hợp có
các vùng giao thoa với nhau. Tuỳ theo tầm nhìn và nhiệm vụ đào tạo, các cơ sở giáo
dục sẽ điều chỉnh số người học, ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với xu thế phát
triển, thoả mãn nhu cầu đào tạo của nhà nước, của doanh nghiệp và nhu cầu của bản
thân người học.
Đề tài này tập trung vào phân tích nhu cầu đào tạo theo nhu cầu xã hội của hai
nhóm đối tượng là của nhà nước và của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Trang 8
Trang 9
sinh tốt nghiệp. Trên cơ sở đó xây dựng nội dung, định khung thời gian cho dạy lý
thuyết và dạy thực hành (tăng nội dung dạy thực hành lên đến 70%), đổi mới phương
pháp dạy học, tăng cường cơ sở vật chất để có thể tổ chức đào tạo đạt được mục tiêu
đào tạo2. Bộ LĐTBXH đã hướng dẫn xây dựng chương trình và đã ban hành 150
chương trình khung nghề đào tạo và ban hành các tiêu chuẩn nghề để các cơ sở GDNN
xây dựng chương trình đào tạo theo hướng năng lực thực hiện.
- Đào tạo theo năng lực thực hiện đáp ứng nhu cầu xã hội: từ năm 2007 bộ
LĐTBXH đã tập huấn và hướng dẫn về thiết kế chương trình và tổ chức đào tạo theo
năng lực thực hiện. Để đáp ứng yêu cầu này về phía bộ LĐTBXH đã đầu tư cho nhiều
cơ sở GDNN trang thiết bị máy móc hiện đại phù hợp với yêu cầu của thực tế của thị
trường lao động. Nhiều doanh nghiệp đóng góp nguồn lực cho giáo dục, tổ chức ký kết
hợp đồng đào tạo nhân lực; góp phần hoàn thiện thị trường lao động trong quá trình hội
nhập quốc tế, thúc đẩy công tác đào tạo theo nhu cầu xã hội.
3. Hệ thống và quy mô giáo dục nghề nghiệp
Giáo dục nghề nghiệp gồm giáo dục trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) và dạy
nghề. Hiện nay nước ta có 506 cơ sở đào tạo TCCN bao gồm 276 trường TCCN (trong
đó 71 trường TCCN ngoài công lập chiếm 26,3%) và 230 trường cao đẳng, cao đẳng
nghề, đại học và học viện có đào tạo TCCN. Năm 2007, số giáo viên dạy nghề ở các
trường cao đẳng nghề và trường trung cấp nghề tăng 2,25 lần so với năm 1999, và 2,02
lần so với năm 2003.
Quy mô đào tạo TCCN đã tăng gấp 2,4 lần từ 255.000 học sinh năm 2000 đến
trên 614.000 học sinh vào năm 2008. Hàng năm khoảng 150.000 học sinh nhập học
TCCN. Về ngành nghề đào tạo, hiện nay các cơ sở đào tạo TCCN có trên 300 ngành
đào tạo (nghề đào tạo). Trong những năm qua, xuất phát từ nhu cầu thị trường lao động,
một số ngành nghề mới đã được đào tạo tại các trường trong lĩnh vực kỹ thuật, công
nghệ, dịch vụ...như công nghệ thông tin, tài chính ngân hàng, du lịch, y tế.
Song song với đào tạo TCCN hiện nay có 102 trường cao đẳng nghề (CĐN), 265
như thời gian vừa qua... Mục tiêu lớn đề ra là đến năm 2015, Việt Nam sẽ có 2 vạn giáo
viên dạy nghề đạt chuẩn”.
3
Lê Vinh: Phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu cầu dạy nghề. 2008 (Báo cáo hội thảo UNEVOC-2008, Hà
Nội)
4
Lê Vinh: đd
Trang 11
4. Đội ngũ giáo viên trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp
Đội ngũ giáo viên trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp gồm giáo viên trung cấp
chuyên nghiệp (TCCN) và giáo viên dạy nghề.
Đội ngũ giáo viên TCCN tăng nhanh về quy mô. Năm học 2000-2001 tổng số
giáo viên TCCN chỉ có 10.113 người, năm 2007-2008 với 14.658 người, đó là chưa kể
đến khoảng gần 10.000 giảng viên trong các trường Cao đẳng và Đại học tham gia dạy
TCCN. Số lượng đội ngũ giáo viên TCCN các năm học gần đây ở bảng sau:
Bảng 1. Thống kê số lượng giáo viên TCCN (nguồn: www.moet.edu.vn)
200
Năm
2000
1
2002
2001
200
2003
2004
2005
2006
2007
2008
học
Trình độ
2008
2
1013
932
1024
1112
Trên đại học
583
566
780
1335
1958
2383
2133
2323
3207
1085
1067
1133
1111
1209
1447
3
656
1131
1064
1125
1170
1068
1223
Hiện nay số lượng giáo viên TCCN khoảng 17000 giáo viên. Để đáp ứng cho
nhu cầu tăng trưởng khoảng 5% và bù vào lượng giáo viên về hưu khoảng 5% thì mỗi
năm cần đào tạo thên khoảng 1.700 giáo viên mới.
Theo phan Văn Kha5, chất lượng của giáo viên TCCN chưa theo kịp được yêu
cầu giáo dục nghề nghiệp. Qua khảo sát giáo viên ở hầu hết các trường TCCN, kiến
thức về chuyên môn của giáo viên không được thường xuyên cập nhật, trong khi năng
lực thực hành còn yếu. Về kiến thức và kỹ năng sư phạm còn bộc lộ nhiều hạn chế mặc
5
Phan Văn Kha, Nguyễn Xuân Bảo, Lê Thanh Nhu: Kinh nghiệm đào tạo giáo viên tccn của một số nước và đề
xuất mô hình, giải pháp phát triển đào tạo giáo viên tccn ở việt nam. 2009
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
11.504 14.237 17.724 20.577 24.625 27.540 31.909 36.909
3.308 4.199 3.740 5.077 4.146 5.745 6.596
10.880 11.347 11.843 12.248 12.561 12.762 13.395 14.089
1.011 1.063 0.998 0.925 0.829 1.271 1.364
22.384 25.584 29.566 32.825 37.186 40.302 45.303 50.998
4.319 5.261 4.737 6.002 4.975 7.017 7.959
Lê Vinh, vụ trởng Vụ Giáo viên và CBQLDN, Tổng cục Dạy nghề- Báo cáo hội thảo
UNEVOC- Hà Nội 2010
Trang 13
Trước ngày giải phóng ở miền nam, ban Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật được thành
lập ngày từ năm 1962 (nay là Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh). Năm 1972,
Trường được đổi tên thành Trung tâm Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ
Thủ Đức và được nâng cấp thành Trường Đại học Giáo dục Thủ Đức vào năm 1974.
Sau giải phóng năm 1976 Trường được đổi tên thành Trường Đại học Sư phạm Kỹ
thuật Thủ Đức. Năm 1984, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức sát nhập với
Trường Trung học Công nghiệp Thủ Đức và đổi tên thành Trường Đại học Sư phạm Kỹ
thuật Tp. Hồ Chí Minh. Sau giải phóng miền nam, đồng thời cũng cố trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức và phát triển đào tạo giáo viên dạy nghề cho khu vực miền
nam, Tổng cục dạy nghề đã thành lập thêm hai trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật:
1) Trường Sư phạm Kỹ thuật số 4 Vĩnh Long
2) Trường Sư phạm Kỹ thuật số 5 Tp. Hồ Chí Minh.
Như vậy, đến năm 1979 Việt Nam có năm trường đào tạo giáo viên dạy nghề và
một trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật đào tạo giáo viên dạy nghề cho nhóm ngành
nghề như: Cơ khí chế tạo, Điện và Cơ khí động lực.
Năm 1979, trường Sư phạm Kỹ thuật số 1 Hưng Yên được nâng cấp thành trường Cao
đẳng Sư phạm Kỹ thuật. Sau đó 3 trường khác cũng được nâng lên trường Cao đẳng Sư
phạm Kỹ thuật: Vinh, Nam định và Vĩnh Long.
Năm 1991, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh sát nhập thêm
Trường Sư phạm Kỹ thuật 5 và phát triển cho đến ngày nay. Năm 2001 trường
CĐSPKT Hưng Yên, năm 2004 trường CĐSPKT Nam Định và năm 2006 Trường
CĐSPKT Vinh đã được nâng cấp thành trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật.
Cùng thời gian trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép thành lập các khoa Sư phạm Kỹ
thuật trong các trường Đại học chuyên ngành trên cơ sở lợi thế tiềm năng của các
trường đó về ngành nghề đào tạo, cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên với nhiệm vụ là
đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật trong các trường Trung học, Trung cấp chuyên nghiệp
và trường dạy nghề. Gồm các trường sau:
-
Sư phạm kỹ thuật điện - điện tử - viễn thông
-
Sư phạm kỹ thuật điện công nghiệp
-
Sư phạm kỹ thuật cơ khí chế tạo máy
-
Sư phạm kỹ thuật công nghiệp
-
Sư phạm kỹ thuật cơ điện tử
-
Sư phạm kỹ thuật cơ khí động lực
-
Sư phạm kỹ thuật nhiệt lạnh
-
Sư phạm kỹ thuật công nghệ thông tin
Khoa SPKT trong
trƣờng ĐH
Khoa SPN trong Trƣờng CĐN
Trường ĐHSPKT Tp. HCM
ĐHBK Hà Nội
CĐN Cần thơ
Trường ĐHSPKT Vinh
ĐHBK Đà Nẵng
CĐN Giao thông 3 – TP. HCM
Trường ĐHSPKT Hưng Yên
ĐHSP Hà Nội
CĐN Nha Trang
Trường ĐHSPKT Nam Định
ĐHNN1 Hà Nội
CĐN Đắc Lắc
Trường CĐSPKT Vĩnh Long
vụ sư phạm cho đào tạo chính qui và chương trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm bổ sung
cho giáo viên dạy nghề.
Các trường cao đẳng nghề đào tạo sư phạm nghề theo chương trình khung của quyết
định số 742/QD TCDN ngày 7 tháng 12 năm 2005.
Trang 17
5.2. Mô hình đào tạo giáo viên giáo dục nghề nghiệp.
Trong lịch sử hơn 4 thập kỷ hình thành và phát triển của hệ thống sư phạm kỹ
thuật với nhiệm vụ đào tạo giáo viên dạy nghề, giáo viên chuyên nghiệp theo các mô
hình đào tạo khác nhau. Trong thập niên 1980 các trường sư phạm kỹ thuật thời đó
thường đào tạo giáo viên dạy nghề từ học sinh phổ thông theo hai giai đoạn: Giai đoạn
đầu đào tạo công nhân kỹ thuật trong thời gian hai năm rưởi, giai đoạn tiếp theo đào tạo
giáo viên dạy nghề trong hai năm. Từ năm 1990, khung thời gian đào tạo giáo viên cao
đẳng sư phạm nghề đã rút ngắn trong bốn năm rưỡi, và sau đó bốn năm. Từ năm 1995,
là khung thời gian đào tạo giáo viên dạy nghề trình độ cao đẳng rút ngắn còn ba năm
rưỡi, tại thời điểm này, mô hình của giáo viên dạy nghề đào tạo không còn là hai giai
đoạn, mà là đào tạo nghề và nghiệp vụ sư phạm trong một quá trình theo mô hình song
song.
Hiện nay các trường đại học sư phạm kỹ thuật đào tạo giáo viên GDNN từ học sinh phổ
thông thường đào tạo theo mô hình song song (xem hình 1), và mô hình đào tạo nối tiếp
hai giai đoạn (đào tạo chuyên môn xong rồi đào tạo nghiệp vụ sư phạm trong một qui
trình đào tạo không gián đoạn – Hình 2 ) với thời gian đào tạo là 3,5 năm cho trình độ
cao đẳng và 4,5 năm cho trình độ đại học.
Năm
học
Học
kỳ
10
3
Kiến thức ngành
2
1
1
KT đại cƣơng
Trang 18
Kiến
thức SP
Kiến thức GD đại cương
Kiến thức ngành kỹ thuật
Thực hành nghề nghiệp
Kiến thức sư phạm
Thực tập sư phạm
Thực tập tốt nghiệp
Hình 1. Mô hình đào tạo mạch thẳng song song7
Năm Học
học kỳ
9
Kiến thức SP
Phan Văn Kha, Nguyễn Xuân Bảo, Lê Thanh Nhu: Kinh nghiệm đào tạo giáo viên TCCN của một số
Nước và đề xuất mô hình, giải pháp phát triển đào tạo giáo viên TCCN ở việt nam, 2009. Kỹ yếu hội
thảo lần quốc tế lần 9 - Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN.
Trang 19
Song song với đào tạo chính qui theo mô hình đào tạo mạch thẳng song song và mô
hình đào tạo mạch thẳng nối tiếp hai giai đoạn, các trường đại học và cao đẳng sư phạm
kỹ thuật còn đào tạo theo mô hình bổ sung cho các kỹ sư, cử nhân, công nhân, nghệ
nhân có nhu cầu trở thành giáo viên để họ nhận được các chứng chỉ sư phạm như sư
phạm bậc 1, bậc 2 và sư phạm nghề với một số lượng lớn hơn 5 đến 6 lần so với số
lượng giáo viên được đào tạo theo mô hình 1 và 2 nhằm đào tạo nhanh về số lượng và
phù hợp với sự đa dạng các ngành nghề của ngũ giáo viên dạy trung cấp chuyên nghiệp
và dạy nghề như mô hình sau đây:
Thời
gian
học
3 đến
6
tháng
Kiến thức SP
TTSP
Tốt nghiệp
học – máy tính.
Những trường đại học sư phạm kỹ thuật mới thành lập như Nam Định, Vinh,
Hưng Yên ngoài mô hình đào tạo song song tuyển sinh từ học sinh phổ thông, còn
tuyển học sinh trung cấp hay cao đẳng để đào tạo liên thông lên giáo viên trình độ đại
học. Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh hiện nay chỉ đào tạo chính
qui theo mô hình mạch thẳng song song. Theo nhận xét của các cơ sở đào tạo giáo viên
trình độ đại học đều cho rằng khả năng giảng dạy của giáo viên được đào tạo từ hai loại
hình này ít có sự khác biệt. Văn bằng của các khóa đào tạo giáo viên theo mạch thẳng
song song và nối tiếp hai giai đoạn của các trường có sự khác nhau, có trường cấp 1
bằng cử nhân (kỹ sư) đại học chuyên ngành và chứng chỉ sư phạm, có trường cấp một
bằng cử nhân sư phạm kỹ thuật chuyên ngành.
Theo kết quả khảo sát từ năm 2003 đến nay có ít thay đổi là các trường và các
khoa SPKT mới đào tạo được GV cho 25/385 nghề (chiếm 8,5% nghề hiện có). Trong
tổng số giáo viên GDNN hiện nay, có khoảng 25% giáo viên được đào tạo chính khóa
theo mô hình song song từ các trường cao đẳng sư phạm kỹ thuật và đại học sư phạm
kỹ thuật, 75% số giáo viên còn lại được đào tạo sư phạm ngắn hạn theo mô hình bổ
sung8. Hàng năm, các trường đaị học và cao đẳng sư phạm kỹ thuật đào tạo giáo viên
dạy kỹ thuật –nghề chính qui theo mô hình song song được khoảng 5.500 giáo viên.
8
Tổng cục Dạy nghề: Thống kê giáo viên dạy nghề. Tháng 10 năm 2003
Trang 21
Giáo sinh tốt nghiệp từ các khoa sư phạm kỹ thuật của các trường đại học phần lớn làm
giáo viên dạy kỹ thuật công nghệ tại trường phổ thông.
Tuy chưa có công trình khảo sát chính xác về tỉ lệ giáo sinh từ trường ĐH và CĐ
SPKT sau khi ra trường làm đúng công việc đã đào tạo, nhưng với con số ước đoán là
khoảng 20% làm công tác giảng dạy tại các cơ sở GDNN. Như vậy, về số học, chúng ta
Trang 22