Bài tập cá nhân mỹ học 9đ giới thiệu thể loại giao hưởng và bình luận bản giao hưởng số 9 của beethoven - Pdf 31

A. Giới thiệu vấn đề
Âm nhạc là một môn nghệ thuật có nhiều loại hình phong phú và đa
dạng, từ làn điệu dân ca mộc mạc , từ nét nhạc tấu đơn giản của cây đàn nghiệp
dư , đến những bản a-ri-a hết sức phức tạp trong opera… Nhắc đến các thể loại
âm nhạc tuy nhiều nhưng không thể không nhắc đến thể loại giao hưởng. Được
cho là thể loại âm nhạc bác học, rất kén người nghe, tuy nhiên nếu tìm hiểu
thêm về thể loại nhạc này ta sẽ thấy dễ dàng hiểu và cảm thụ tốt hơn. Bài làm
sau đây là để “Giới thiệu thể loại Giao hưởng” đồng thời bình luận một tác
phẩm tiêu biểu của thể loại giao hưởng đó là tác phẩm bản giao hưởng số 9 của
Beethoven
B.

Giải quyết vấn đề

I. Giới thiệu về thể loại giao hưởng.
1. Định nghĩa “giao hưởng”.
Giao hưởng là một thể loại tác phẩm quy mô dành cho dàn nhạc (hoặc
dàn nhạc với giọng hát) và thường có nhiều hơn một chương. Thuật ngữ “giao
hưởng” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “cùng nhau phát ra âm thanh.”
Ý nghĩa này của thuật ngữ “giao hưởng” đã trải qua nhiều thay đổi trong lịch sử
âm nhạc. Ý nghĩa của nó theo cách hiểu của chúng ta ngày nay đã được định
hình từ nền âm nhạc Đức và Áo trong suốt đầu thế kỷ 18.
2. Nguồn gốc
Thuật ngữ giao hưởng xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1597 với vai trò là
tiêu đề các tác phẩm của nhà soạn nhạc thành Venice Giovanni Gabrieli, đó là
những tác phẩm nhạc lễ cho giọng hát và nhạc cụ, có tên gọi “Sacrae
symphoniae”. Khi đấy, từ “symphoniae” đã được dùng để chỉ “sự cùng nhau
diễn xướng” của các giọng hát và nhạc cụ. Tuy nhiên, việc Adriano Banchieri
cho ra mắt một bản Giao hưởng nhạc cụ mà không có giọng hát vào năm 1607
đã vạch ra một xu hướng mới quan trọng trong lịch sử giao hưởng. Năm 1619,
nhà soạn nhạc và lý thuyết âm nhạc người Đức Michael Praetorius đã viết trong

này đem lại cho các nhà soạn nhạc những “chất liệu nguyên sơ” – những chủ đề
để họ có thể tái kết hợp, tái hòa thanh và phát triển chúng trong hình thức
sonata.
2


b. Thế Kỷ 18
Vienna là nơi mà nền giao hưởng thế kỷ 18 vươn đến đỉnh cao. Đó là thời
điểm cuối thế kỷ 18, với các tuyệt tác của Joseph Haydn, Wolfgang Amadeus
Mozart và Ludwig van Beethoven. Haydn, nhà giao hưởng Vienna vĩ đại đầu
tiên, đã không ngừng thử nghiệm với những kỹ thuật và đạo cụ mới trong sáng
tác cho dàn nhạc. Ông đã sáng tác 104 bản giao hưởng và quá trình đó đã kéo
dài và mở rộng hình thức giao hưởng. Những phần mở đầu chậm thường đi
trước trong các chương một, các chương sonata thường tránh sự tương phản chủ
đề; các chương kết, hình thức sonata hoặc rondo, có sức sống và sức nặng chưa
hề thấy trong các sáng tác của những nhà soạn nhạc trước đó. Haydn thường sử
dụng phép đối âm, gắn kết nó vào trong phong cách giao hưởng. Những đặc
trưng tiêu biểu này thậm chí vẫn có mặt cả trong những giao hưởng khác
thường như Giao hưởng “Tiễn biệt” (1772) – trong đó các nhạc công dần dần
dời khỏi sân khấu cho đến những phút cuối cùng của tác phẩm.
Mặc dù Haydn thường được gọi là cha đẻ của giao hưởng, nhưng thể loại
này thực ra đã có sự khởi đầu ở Ý và Đức. Haydn đã phát triển thể loại này dưới
dạng bốn chương, đem lại cho nó cái được gọi là hình thức cổ điển, đưa nó đến
một đỉnh cao mới của âm nhạc. Haydn và người bạn thiên tài của ông –
Wolfgang Amadeus Mozart đã tạo ảnh hưởng lẫn nhau trong kỹ thuật giao
hưởng. Mozart, một trong những bậc thầy giao hưởng vĩ đại nhất của mọi thời
đại, đã sáng tác 41 bản giao hưởng với tính chất sáng tạo kỳ diệu. Trong những
giao hưởng nổi tiếng nhất của ông có Giao hưởng Linz (1783), Prague (1786),
Haffner (1782), và ba bản giao hưởng cuối cùng: Mi giáng trưởng, Son thứ
và Jupiter (1788), đưa thể loại giao hưởng vĩnh viễn trở thành một thể loại lớn

chất sâu sắc, triết lý trong sự biểu hiện cảm xúc lãng mạn.
Nhà soạn nhạc Nga Peter Tchaikovsky sáng tác sáu bản giao hưởng, với
tinh thần là âm nhạc chương trình, chúng gắn kết những cảm xúc mãnh liệt với
những chất liệu âm nhạc dân gian Nga, và đặc biệt là trong ba giao hưởng cuối
cùng có một sự phát triển âm nhạc sâu sắc.
Các nhà soạn nhạc Áo Anton Bruckner và Gustav Mahler chịu ảnh hưởng
lớn của nhà soạn nhạc kịch opera Richard Wagner. Chín giao hưởng của
4


Bruckner khai thác những hiệu quả dàn nhạc lớn và đạt được tính thống nhất
trong sự tranh đua giữa các mẫu hình nhịp điệu và giai điệu. Mahler đã mở rộng
một cách đặc biệt độ dài của giao hưởng và thường xuyên thay thế những hình
thức của nó bằng những đoạn thanh nhạc. Mahler đã nhấn mạnh màu sắc, hay
âm sắc của những nhạc cụ riêng lẻ và ông đã thử nghiệm kết thúc một bản giao
hưởng bằng một âm điệu khác với âm điệu mở đầu. Trước đó, việc mở đầu và
kết thúc một bản giao hưởng bằng cùng một âm điệu giúp nó đạt được sự thống
nhất hoàn chỉnh. Mahler đã mong ước rằng các giao hưởng của ông “chứa đựng
thế giới”, và ông đã gắn kết các ý tưởng tôn giáo và triết học về những khát
vọng của con người và sự đấu tranh của loài người chống lại định mệnh. Nhà
soạn nhạc người Czech Antonin Dvorak nổi tiếng với tài năng sử dụng các giai
điệu dân gian, như được thể hiện qua bản giao hưởng có tiêu đề “Từ Thế giới
Mới” (1893) của ông.
Các nhà soạn nhạc Pháp như Vincent d’Indy và Camille Saint-Saens, các
nhà soạn nhạc Nga như Alexander Borodin và Nikolai Rimsky-Korsakov cũng
viết nhiều bản giao hưởng nổi tiếng. Giao hưởng Rê thứ của nhà soạn nhạc
Pháp-Bỉ César Franck cũng là một ví dụ cho xu hướng “cấu trúc hình trụ” của
thế kỷ 19, đó là xu hướng gắn kết các chương khác nhau bằng sự lặp đi lặp lại
các chủ đề và motif.
d. Thế Kỷ 20

và cổ điển về hình thức. Những tác phẩm có giá trị đặc biệt thuộc về một nhà
soạn nhạc Nga khác là Dmitri Shostakovich, các giao hưởng của ông thường đồ
sộ về quy mô và đôi khi mang tính chất chương trình. Họ đã nối tiếp truyền
thống của Mahler khi đem lại cho giao hưởng sử biểu hiện nội tâm đầy xáo
động của chính bản thân nhà soạn nhạc.
Trong giai đoạn sau Thế Chiến II, nhiều nhà soạn nhạc tiếp tục coi giao
hưởng như một phương tiện cho những tuyên ngôn quan trọng nhất của họ. Bốn
giao hưởng của nhà soạn nhạc Anh Sir Michael Tippett phản ánh từng thời kỳ
khác nhau trong sự phát triển phong cách của ông, trong khi đó, Giao hưởng
Turangalila (1948) của Olivier Messiaen (Pháp) là một tổ khúc lớn 10 chương
xoay quanh một vài chủ đề trung tâm.
6


Những người Mỹ viết giao hưởng vào cuối thế kỷ 20 và đầu 21 bao gồm
Philip Glass, John Coregliano và Eileen Taaffe Zwillich. Ở châu Âu có Sir
Peter Maxwell Davies (Anh); Arvo Pärt (Estonia); Einojuhani Rautavaara (Phần
Lan); Hans Werner Henze (Đức); cùng các nhà soạn nhạc Ba Lan Henryk
Górecki, Witold Lutosławski, và Andrzej Panufnik.
5. Cấu trúc của một bản giao hưởng
Giao hưởng cổ điển thường cấu trúc bốn chương.
Phần mở đầu: Có thể có hoặc không. Trong 12 giao hưởng London của
Haydn luôn luôn có phần mở đầu trừ Symphony No.95. Giữa phần mở đầu và
chương I là cả một sự tương phản về điệu thức ( âm thể) và về tiết tấu ( thường
mở đầu rất chậm).
Chương I. Allegro. Chương này thường có tộc độ nhanh, nên còn được
gọi là chương Allegro. Hình thức chính của chương này là sonate như chúng ta
đã đề cấp đến. Ở đây có 2 chủ đề, thường gọi là chủ đề chính ( principal theme
– hay chủ đề 1) và chủ đề phụ ( subordinate theme – hay chủ đề 2). Tư tưởng
của tác phẩm luôn được thể hiện trong chương này. Đặc điểm của nó là tạo sự

6. Dàn nhạc giao hưởng.
Dàn nhạc giao hưởng là sự kết hợp muôn màu, muôn vẻ các loại âm sắc
khác nhau. Âm thanh của bản giao hưởng vang lên khi mạnh mẽ, khi tương
phản tột độ, khi hài hòa tới mức tuyệt vời. Dàn nhạc được chia thành bốn bộ:
Bộ dây ( viôlông, viôlôngxen, viôla, côngtrơbas), bộ kèn gỗ ( fluyt, oboa,
claninet, fagôt), bộ kèn đồng ( trompet, trombôn, cor, tube) và bộ gõ.
Các thành phần tạo nên dàn nhạc:
Dàn nhạc giao hưởng ngày nay tùy theo biên chế, có khi nó đạt đến 100
nhạc công với xấp xỉ 30 loại nhạc cụ. Tuy nhiên dù dàn nhạc lớn hay nhỏ bao
giờ nó cũng được cấu tạo với thành phần gồm 4 bộ chính như sau:
- Bộ dây: gồm các loại đàn violon, alto (viola), violoncello và
contrebasse
- Bộ gỗ: gồm các kèn chính là: flûte, hautbois, clarinette, basson
(fagotte), ngoài ra tùy theo cơ cấu dàn nhạc lớn hoặc nhỏ mà người ta có thể sử

8


dụng thêm một số kèn khác như: piccolo, flûte contralto (flûte alto), cor anglais,
contrebasson.
- Bộ đồng: gồm các loại kèn chính là: cor, trompette, trombone, tuba. Có
khi người ta sử dụng thêm trombone basse.
- Bộ gõ: Được chia ra làm 2 nhóm là nhạc cụ gõ định âm (là những nhạc
cụ có cao độ như: timbales, xylophone, vibraphone, celesta, cloches...); nhạc cụ
gõ không định âm (là những nhạc cụ không có cao độ như: tambour de basque,
triangle, caisse claire, cymbales, grosse caisse, tam tam...).
Ngoài ra người ta còn sử dụng những nhạc cụ không có mặt thường
xuyên trong biên chế dàn nhạc như harpe, piano, guitare... được gọi là nhạc cụ
bổ sung.
Biên chế của dàn nhạc giao hưởng: Biên chế của dàn nhạc tức số lượng

trombone trong cả 3 dàn nhạc (2, 3 và 4 quản) đều có số lượng như nhau, đôi
khi trong dàn nhạc 4 quản người ta cũng sử dụng 4 trombone. Việc sử dụng 3
trombone và 1 tuba trong các dàn nhạc được xem như 4 bè của hợp xướng đảm
trách phần trầm
II. Bình luận bản giao hưởng số 9 của Beethoven.
1. Hoàn cảnh ra đời
Hiệp hội London (The Society of London - sau này là Royal
Philharmonic Society) đặt hàng bản giao hưởng vào năm 1817. Beethoven bắt
đầu làm việc với bản giao hưởng cuối cùng vào năm 1818 và kết thúc vào đầu
năm 1824. Khoảng 10 năm sau bản giao hưởng số 8. Tuy nhiên, Beethoven bắt
đầu sáng tác tác phẩm này sớm hớn. Ông đã muốn đặt An die Freude vào nhạc
rất sớm từ năm 1793. Ông đã làm điều đó, nhưng thật không may tác phẩm này
bị mất vĩnh viễn. Từ chủ đề cho chương scherzo có thể lần ngược về bản fugue
được viết vào năm 1815. Đoạn mở đầu cho phần thanh nhạc của bản giao
hưởng gây ra rất nhiều khó khăn cho Beethoven. Bạn ông, Anton Schindler, sau
này kể lại: "Khi anh ấy bắt đầu sáng tác chương 4, sự nỗ lực bắt đầu như chưa
bao giờ có. Mục đích là tìm ra cách đi vào phần mở đầu của đoạn tụng ca của
Schiller. Một hôm Beethoven nhảy vào phòng và la lớn "Tôi tìm ra rồi, tìm ra
rồi" Sau đó anh ấy cho tôi xem phác thảo của những từ "cho chúng tôi hát bản
10


tụng ca của Schiller bất tử". Tuy nhiên, đoạn mở đầu đó đã không có trong sản
phẩm cuối cùng, và Beethoven đã trải qua rất nhiều thời gian viết lại phần đó
cho đến khi nó thành hình dáng như chúng ta thấy ngày hôm nay.
2. Nội dung
Chương một “Allegro ma non troppo, un poco maestoso”: Hùng vĩ và
trang nghiêm, chương một bắt đầu mạnh mẽ như bao tác phẩm khác của
Beethoven. Giai điệu hơi u ám như báo hiệu cơn bão nào đó sắp ùa tới. Chương
một được biểu diễn ở tốc độ vừa phải, chủ đề kịch tính xuất hiện, tan biến, rồi

cũng từng làm vậy với một số tác phẩm khác của ông, nhưng đây là lần đầu tiên
và cũng là lần cuối cùng ông sắp xếp một bản giao hưởng theo hướng phá cách
đó. Chương hai - Scherzo - đầy khí thế nghe vừa như một bản anh hùng ca vừa
đầy chất thơ. Giai điệu kịch tính vẫn hiện diện không mất đi, cảnh huy hoàng có
khí thế và hiệu lực, nó lao nhanh dồn dập như một trận bão lửa, tạo nên ấn
tượng lúc thì mang tính chất anh hùng ca, lúc thì phóng túng, mơ mộng. Nhưng
trong dòng âm thanh như đuổi theo nhau đó khuôn phép nghiêm ngặt về nhịp
điệu vẫn khống chế. Những phần ngoài cùng được viết ở hình thức sonata
allegro (lại một cải tiến mới mẻ nữa) tương phản với phần trio mang tính chất
phong cảnh phong tục, với nhiều màu sắc tươi sáng của đồng quê.
Chương ba “Adagio molto e cantabile - Andante Moderato - Tempo
Primo - Andante Moderato - Adagio - Lo Stesso Tempo”: Đáng chú ý nhất ở
chương này là sự dịu dàng, tuy chậm rãi nhưng đầy sâu lắng và trăn trở.
Chương ba chậm đến mức tưởng chừng như có thể kéo dài vô tận, giai điệu nhờ
đó càng như tuôn thêm chất thơ và đầy vẻ lãng mạn. Bè violin nghe rin rít như
những lát cắt sâu tạo ra hiệu quả ấn tượng. Ở chương ba thể hiện lý tưởng đạo
đức, vẻ đẹp và tính chất hùng vĩ của âm nhạc đầy cảm hứng bởi ý tưởng cao cả
về đạo đức và hoàn thiện, sứ mệnh và nghĩa vụ của con người. Tính chất minh
bạch sáng sủa, sự hài hòa của lý trí và tình cảm bao trùm niềm suy tư triết lý
tỉnh táo ấy. Điệu trưởng chiếm ưu thế hầu như khắp nơi trong nền tảng dàn
nhạc đầy chất giai điệu tươi sáng, chỉ có hai lần bị phá vỡ do sự xâm nhập của
chủ đề chính của chương I - như muốn nhắc rằng đạt được sự rõ ràng và cân đối
ấy phải trả bằng một giá đắt.
12


Chương bốn “Presto; Allegro molto assai (Alla marcia); Andante
maestoso; Allegro energico, sempre ben marcato”: Chương cuối với phần đầu
tràn lên dữ dội, khôi phục cái lạc điệu tưởng như đã được khắc phục. Nhưng
điều đó chỉ là sự cố gắng để quay về. Nhưng sự trở về đã không thể có được

sự ca ngợi Tự do, tình huynh đệ của Nhân loại.
Như vậy là, từ tối tăm - ra ánh sáng, qua đấu tranh và tổn thất - đến giác
ngộ sứ mệnh của con người, từ u tối - đến ánh sáng của chân lý, đến niềm vui
của thế giới được giải phóng và hạnh phúc. Đó là những nét lớn trong nội dung
tư tưởng của bản giao hưởng số 9, thể hiện những lý tưởng bất tử mà hàng bao
nhiêu thế kỷ loài người đang vươn tới.
3. Ý nghĩa với nhân loại
Có lẽ là tác phẩm được nhiều người biết đến, một số người coi nó là một
bản thánh ca về cuộc sống con người. Do vậy không có gì ngạc nhiên khi nó
được chuyển thể và sử dụng vào trong nhiều loại hình văn hóa đại chúng,
như điện ảnh, truyền hình, âm nhạc. Dưới đây là một vài tác phẩm có liên quan.
Năm 1964, Maurice Béjart sáng tác vở ballet Ballet du XXe siècle dựa
trên bản "Giao hưởng số 9", và được liệt nhiệt tán thưởng.
Tại hầu hết các Thế Vận Hội từ nửa sau thế kỷ 20, chương bốn được
trình diễn như một phần của các lễ nghi thức. Bản Giao Hưởng số 9 đã được
các phi hành gia của phi hành đoàn Apollo 11 đem lên để tại Mặt trăng năm
1969 như một thông điệp thân ái của con người đến các nền văn minh ngoài
hành tinh.
C. Kết thúc vấn đề.
Thể loại âm nhạc giao hưởng là một thành tựu của nền nghệ thuật thế
giới. Hiểu rõ về thể loại này giúp chúng ta cảm thụ, tận hưởng những tinh hoa
của cái đẹp nghệ thuật. Về Bản giao hưởng số 9 của Beethoven là minh chứng
cho tinh hoa của nghệ thuật âm nhạc, sức sáng tạo trí tuệ của con người. Là một
tác phẩm đáng để thưởng thức trong cuộc đời.

14





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status