TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
-oOo-
PHẠM NGUYỄN ANH DUY
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THUỐC
TRỪ SÂU ĐỐI VỚI NHỆN SÓI PARDOSA
PSEUDOANNULATA (ARANEAE: LYCOSIDAE)
TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ
NHÀ LƯỚI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
-oOo-
PHẠM NGUYỄN ANH DUY
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THUỐC
TRỪ SÂU ĐỐI VỚI NHỆN SÓI PARDOSA
PSEUDOANNULATA (ARANEAE: LYCOSIDAE)
TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ
NHÀ LƯỚI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng đã chấm luận văn tốt nghiệp kỹ sư Bảo Vệ Thực Vật với tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THUỐC TRỪ SÂU ĐỐI VỚI NHỆN
SÓI PARDOSA PSEUDOANNULATA (ARANEAE: LYCOSIDAE)
TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ NHÀ LƯỚI
Do sinh viên Phạm Nguyễn Anh Duy thực hiện và bảo vệ trước hội đồng.
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:……………………………………...
………………………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………………………...
Luận văn tốt nghiệp hội đồng đánh giá ở mức:………………………………………
DUYỆT KHOA
Cần Thơ, ngày …. tháng …. năm ….
CHỦ NHIỆM KHOA NÔNG
NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Chủ tịch hội đồng
ii
LÝ LỊCH CÁ NHÂN
LỜI CẢM TẠ
Kính dâng!
Ông bà, cha mẹ, những người đã suốt đời tận tụy, hết lòng vì con đã chăm sóc và
dạy bảo con nên người.
Thành kính biết ơn!
Thầy Lăng Cảnh Phú đã dành nhiều thời gian quý báu hướng dẫn và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp.
Thầy cố vấn học tập Nguyễn Chí Cương cùng toàn thể các thầy, cô trong bộ môn
Bảo Vệ Thực Vật đã giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu
trong suốt quá trình thực hiện đề tài và trong những ngày ở giảng đường đại học.
Chân thành cảm ơn!
Anh Đỗ Thành Đạt lớp Cao học Bảo Vệ Thực Vật K20, anh Nguyễn Minh Đăng,
Nguyễn Trần Phú Minh lớp Bảo Vệ Thực Vật K36… đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm
thực tiễn trong quá trình thực hiện đề tài. Và các bạn lớp Bảo Vệ Thực Vật K37
cùng các em lớp Bảo Vệ Thực Vật K38 đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá
trình điều tra để hoàn thành đề tài.
PHẠM NGUYỄN ANH DUY
v
Phạm Nguyễn Anh Duy, 2014: “Ảnh hưởng của một số thuốc trừ sâu đối với
nhện sói Pardosa pseudoannulata (Araneae: Lycosidae) trong điều kiện phòng
thí nghiệm và nhà lưới”. Luận văn tốt nghiệp Đại học, ngành Bảo Vệ Thực Vật,
khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ.
Cán bộ hướng dẫn: Thạc sĩ: Lăng Cảnh Phú.
TÓM LƯỢC
và Kinalux 25EC gây chết ở mức rất cao đạt 100%. Các thuốc còn lại gây chết ở
mức 62,5% (Abatin 5.4EC), 31,25% (Proclaim 1.9EC), 26,25% ( Prevathon 5SC).
vi
Đối với thành trùng: thuốc Kinalux 25EC có độ độc cao nhất, gây chết 100%;
Cyperan 10EC gây chết 90%. Thuốc Chess 50WG không có tác động gây chết,
thuốc Prevethon 5SC có độ độc rất thấp (7,5%). Thuốc Abatin 5.4EC đạt 55,0% và
Proclaim 1.9EC (15,0%).
vii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU ....................................................... 2
1.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ..................................................... 2
1.2 SÂU HẠI CHÍNH TRÊN LÚA ................................................................. 2
1.3 RẦY NÂU NILAPARTAVATA LUGENS (STAL)…………….……….4
1.3.1 Sự phân bố và kí chủ của rầy nâu………………………………..4
1.3.2 Ảnh hưởng của rầy nâu đến tình hình sản xuất lúa……………....4
1.3.3 Đặc điểm hình thái và sinh học…………………………………..6
1.3.4 Tập quán sinh sống và cách gây hại của rầy nâu………………...8
1.3.5 Thiên địch của rầy nâu…………………………………………...8
1.4 VAI TRÒ CỦA NHỆN THIÊN ĐỊCH TRONG
NỀN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ......................................................... 9
1.4.1 Vai trò của nhện thiên địch ............................................................ 9
1.4.2 Thành phần của nhện thiên địch trên ruộng lúa…………………10
2.2.2 Tiến hành thí nghiệm…………………………………………....24
2.2.2.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ sâu
đối với ấu trùng nhện sói (P. pseudoannulata) trong điều kiện phòng thí
nghiệm ………………………………………………………………..24
2.2.2.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ sâu
đối với thành trùng nhện sói (P. pseudoannulata) trong điều kiện phòng
thí nghiệm……………………………………………………………………25
2.2.2.3 Thí nghiệm 3: Khảo sát ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ sâu
đối với ấu trùng nhện sói (P. pseudoannulata) trong điều kiện nhà
lưới…………………………………………………………………….25
2.2.2.4 Thí nghiệm 4: Khảo sát ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ sâu
đối với thành trùng nhện sói (P. pseudoannulata) trong điều kiện nhà
lưới…………………………………………………………………………….26
2.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÍ SỐ LIỆU…………………………………….26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN………………………………28
3.1 KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRỪ SÂU
ĐỐI VỚI ẤU TRÙNG VÀ THÀNH TRÙNG NHỆN SÓI (P.
PSEUDOANNULATA)
TRONG
ĐIỀU
KIỆN
PHÒNG
THÍ
NGHIỆM………............……………………………………………………..28
3.1.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ sâu
đối với ấu trùng nhện sói (P. pseudoannulata) trong điều kiện phòng thí
nghiệm…………………………………………………………………….…..28
3.1.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ sâu
đối với thành trùng nhện sói (P. pseudoannulata) trong điều kiện phòng thí
nghiệm……………………………………………………………………...…32
3.1
Hiệu lực gây chết của một số loại thuốc hóa học lên ấu trùng nhện
sói (P. pseudoannulata) bằng phương pháp phun trực tiếp, trong
điều kiện phòng thí nghiệm
28
3.2
Hiệu lực gây chết của một số loại thuốc hóa học lên ấu trùng nhện
sói (P. pseudoannulata) bằng phương pháp phun gián tiếp, trong
điều kiện phòng thí nghiệm.
31
3.3
Hiệu lực gây chết của một số loại thuốc hóa học lên thành trùng
nhện sói (P. pseudoannulata) bằng phương pháp phun trực tiếp,
trong điều kiện phòng thí nghiệm.
33
3.4
Hiệu lực gây chết của một số loại thuốc hóa học lên thành trùng
nhện sói (P. pseudoannulata) bằng phương pháp phun gián tiếp,
trong điều kiện phòng thí nghiệm.
nhện sói (P. pseudoannulata) bằng phương pháp phun gián tiếp,
trong điều kiện nhà lưới.
44
xi
DANH SÁCH HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
2.1
Lồng chứa nhên sói trong thí nghiệm (A), bố trí thí nghiệm
(B)
27
xii
MỞ ĐẦU
Ngày nay vấn đề phòng trừ dịch hại tổng hợp được xem là thành phần cơ bản
để phát triển nền nông nghiệp bền vững. Trong đó, thiên địch đóng vài trò rất quan
trọng trong phòng trừ và quản lý dịch hại tổng hợp. Chúng là tác nhân điều chỉnh,
duy trì mật số các loài gây hại dưới mức gây thiệt hại về kinh tế và không cho bộc
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2009), diện tích trồng lúa trên thế giới đã tăng rõ rệt
trong giai đoạn 1955 – 1980, trong khoảng thời gian đó diện tích trồng lúa tăng
trung bình 1,36 triệu ha/năm. Từ năm 1980 diện tích trồng lúa tăng chậm và đạt cao
nhất vào năm 1999 (156,77 triệu ha). Trong đó, châu Á chiếm 90% diện tích trồng
lúa trên thế giới. Các nước có diện tích lớn nhất là Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia,
Bangladesh, Thái Lan, Việt Nam đứng thứ 6 trước Miến Điện.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng có diện tích sản xuất lúa trọng
điểm của cả nước, do áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kĩ thuật trong sản xuất. Trong
khoảng 4 triệu ha diện tích trồng lúa cả nước, ĐBSCL đã chiếm hơn 2,5 triệu ha.
Hằng năm, vùng ĐBSCL sản xuất hơn 18 triệu tấn lúa (tương đương 12 triệu tấn
gạo), chiếm 53% sản lượng lúa gạo cả nước (2008) đóng góp 90% sản lượng lúa
gạo xuất khẩu cho cả nước (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Từ vùng lúa nổi mênh mông, An Giang, Đồng Tháp, vùng trũng phèn Đồng
Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, với chỉ một vụ lúa mùa, năng suất bấp
bênh….nay đã chuyển dần thành các vùng lúa 2 - 3 vụ ngắn ngày, năng suất cao, ổn
định; cộng với những hệ thống canh tác đa dạng, điều đó đã góp phần rất đáng kể
vào sản lượng năng suất lúa cả nước. Năng suất bình quân cả năm của toàn đồng
bằng đã gia tăng từ 2,28 tấn/ha (1980) đến 3,64 tấn/ha (1989) và 4,8 tấn/ha (2004),
cá biệt có huyện có thể đạt được năng suất 6,5 tấn/ha/vụ và 12 - 17 tấn/ha/năm với 2
- 3 vụ lúa. (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.2 SÂU HẠI CHÍNH TRÊN LÚA
Khi việc sản xuất lúa phát triển, việc thâm canh tăng vụ được đẩy mạnh, cây
lúa hầu như có mặt trên đồng ruộng quanh năm với đầy đủ các giai đoạn sinh
trưởng khác nhau. Việc sử dụng phân bón, nhất là phân đạm để nâng cao năng suất
của ruộng lúa. Lượng phân không hợp lí, không phù hợp với các giai đoạn sinh
trưởng của cây lúa đã tạo điều kiện cho nhiều loại côn trùng và bệnh hại phát triển
gây hại cho ruộng lúa.
cincticepa, và N. nigropictus. Chúng sống trên lá lúa, cũng hút chích nhựa và gây
cháy rầy. Rầy xanh có thể truyền bệnh siêu vi khuẩn: Tungro và vàng lùn (Nguyễn
Ngọc Đệ, 2008).
Bọ xít đen (Scotinophora lurida )
Bọ xít đen thường sống ở phần bẹ và gốc lúa. Thành trùng bọ xít đen hút chích
nhựa cây lúa làm cây lúa suy yếu dần, lá và bẹ lúa bị khô héo, rồi chết. Lá non có
thể bị cuốn tròn dọc theo gân lá. Bọ xít đen ưa khí hậu ẩm thấp nên không hoạt
động lúc khí hậu khô lạnh hay quá nóng. Trứng thường được xếp thành 2-4 hàng
dọc trên phiến lá hay bẹ lá. Trứng mới nở màu nhợt, biến thành màu cam đậm khi
gần nở, thời gian từ lúc đẻ đến lúc trứng nở khoảng 6 ngày. Bọ xít non mới nở ở
quanh gần ổ trứng, dần dần tiến về phía gốc lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenée)
Sâu có kích thước nhỏ, màu xanh hơi vàng, khi gần hóa nhộng có màu hồng.
Bướm có 3 sọc ngang màu đen. Bướm đẻ trứng rời rạc trên phiến lá. Sâu thường
cuốn lá lại ở bên trong ăn phá phần nhu mô, để lại những vệt trắng dài nằm dọc theo
gân lá. Khi còn nhỏ sâu chỉ ăn phần nhu mô mà không cuốn lá lại. Cây lúa bị sâu
3
tấn công sẽ bị còi cọc, diện tích lá quang hợp giảm làm tỷ lệ lép cao, bông ít hạt.
Sâu thường phá hại nặng ở những nơi rậm rạp thiếu ánh sáng. (Nguyễn Ngọc Đệ,
2008).
1.3 RẦY NÂU NILAPARVATA LUGENS (STAL)
Rầy nâu có tên khoa học là Nilaparvata lugens (Stal), thuộc họ Rầy thân
(Delphacidae), bộ cánh đều (Homoptera).
1.3.1. Sự phân bố và kí chủ của rầy nâu.
Rầy nâu xuất hiện ở những khu vực trồng lúa trên khắp thế giới, tập trung
nhiều ở các nước đồng bằng nhiệt đới ở châu Á như Ấn Độ, Bangladesh, Đài Loan,
đảo Solomon, Indonesia, Nhật Bản, Fiji, Philippines, Thái Lan, Việt Nam, Triều
Tiên, New Guinea, Trung Quốc,…
tích nhỏ (Dyck và Thomas, 1979).
Ở Indonesia, có những cuộc điều tra vào các năm 1931, 1939 và 1940 cho
thấy các côn trùng chích hút đã gây ra những thiệt hại trực tiếp lên cây trồng trên
đồng ruộng. Năm 1951, diện tích bị ảnh hưởng do rầy lá và rầy thân ở Java ở mức
50 – 150 ha. Những ảnh hưởng nghiêm trọng chỉ bắt đầu xuất hiện từ vụ mùa 1974
– 1975 và 1975 – 1976, bao gồm những ảnh hưởng trực tiếp do sự chích hút của rầy
và ảnh hưởng gián tiếp từ dịch bệnh vàng lùn với hơn 200.000 ha trồng lúa bị ảnh
hưởng, thiệt hại ước tính khoảng 30 triệu USD (Dyck và Thomas, 1979).
1.3.2.2. Thiệt hại ở Việt Nam
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), tại Việt Nam rầy nâu đã
xuất hiện từ rất lâu nhưng không gây ra những trận dịch lớn. Từ năm 1965, việc du
nhập giống lúa cao sản ngắn ngày từ Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) được thực
hiện, làm tăng vụ trong năm do đó làm duy trì kí chủ cho rầy gia tăng mật số và gây
ra những dịch cháy rầy nặng ở Phan Rang và một số tỉnh miền Trung vào năm
1969.
Trong giai đoạn 1971 – 1974, rầy nâu đã gây hại mạnh cho các vùng sản
xuất lúa ở nhiều tỉnh duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long, diện tích
bị ảnh hưởng lên đến 94.800 ha (1974). Giai đoạn 1977 – 1979, rầy nâu đã gây
thành dịch tại một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long với diện tích bị gây hại lên đến
một triệu hecta, thất thu hàng triệu tấn lúa.
Từ vụ Hè Thu năm 1988 đến vụ Đông Xuân năm 1990, rầy nâu đã phát
thành dịch và gây hại nặng nề ở một số tỉnh thành phố như Hồ Chí Minh, An Giang,
Tiền Giang, Minh Hải,…Riêng tại đồng bằng sông Cửu Long đã có khoảng 237.820
ha lúa bị nhiễm rầy nâu, chiếm 8,3% diện tích lúa cả năm.
Vụ Hè Thu năm 1978, cùng với sự bùng phát của rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn
xoắn lá đã bắt đầu xuất hiện trên diện rộng ở đồng bằng sông Cửu Long (bị ảnh
hưởng trên 40.000 ha), miền Đông Nam Bộ và các tỉnh duyên hải miền Trung.
5
dài 1,1 mm. Rầy tuổi 2 có màu nâu vàng nhạt, lề ngực sau lõm ra phía trước, cơ thể
dài 1,5 mm. Rầy tuổi 3 có màu nâu vàng lẫn lộn, có mầm cánh rõ, cơ thể dài 2 mm.
6
Rầy tuổi 4 có màu nâu vàng lẫn lộn, có mầm cánh sau nhọn, cơ thể dài 2,4 mm. Rầy
tuổi 5: có màu nâu vàng lẫn lộn, có mầm cánh trước dài hơn mầm cánh sau, cơ thể
dài 3,2 mm.
Ấu trùng rầy nâu tuổi lớn rất giống rầy nâu cánh ngắn, nhưng cánh đục,
trong khi cánh của rầy nâu cánh ngắn thì trong suốt với các gân cánh màu đậm.
Thời gian để rầy non phát triển từ khi nở đến khi lớn hoàn toàn từ 14 – 20 ngày
(Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen, 1993; Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004).
c) Thành trùng
Rầy nâu trưởng thành thường có 2 dạng cánh: Dạng cánh dài: có cánh che phủ
hết cả thân và chủ yếu dùng cánh để bay đi tìm thức ăn. Dạng cánh ngắn: cánh chỉ
che phủ đến hết hết đốt thứ sáu của bụng, dạng cánh này chỉ phát sinh khi đầy đủ
thức ăn, thời tiết thích hợp. Dạng cánh này đẻ trứng với số lượng rất lớn (Nguyễn
Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004). Trưởng thành cánh dài có kích thước cơ thể lớn
hơn trưởng thành cánh ngắn, chân và máng đẻ cũng dài hơn (Phạm Văn Lầm,
2006).
Rầy nâu trưởng thành có cơ thể màu nâu vàng, đỉnh đầu nhô ra phía trước.
Phần gốc râu có hai đốt nở to, đốt roi râu dài và nhỏ. Cánh trong suốt, giữa cạnh sau
của mỗi cánh có một đốm đen. Khi hai cánh xếp lại hai đốm này chồng lên nhau tạo
thành một đốm đen to trên lưng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004). Phần
bụng nở rộng, cuối bụng có rãnh (Phạm Văn Lầm, 2006), có bộ phận đẻ trứng sắc,
nhọn, màu đen (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004).
Trưởng thành dạng cánh dài có chiều dài cơ thể từ 3,6 – 4,0 mm (Nguyễn
Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004). Đa số thành trùng đực có cơ thể màu nâu tối,
phần cuối bụng có dạng loa kèn (Phạm Văn Lầm, 2006). Tuổi thọ trung bình của
rầy nâu trưởng thành khoảng 10 – 20 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen,
chích chọc vào cây lúa và hút nhựa để sống (Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen, 1993).
Trong khi chích hút nhựa từ thân cây, rầy tiết nước bọt phân hủy mô cây, tạo thành
một bao xung quanh vòi chích hút, cản trở sự di chuyển của nhựa nguyên và nước
lên phần trên của cây lúa làm cây lúa bị khô héo, gây nên hiện tượng cháy rầy
(Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004). Rầy nâu thích tấn công cây lúa còn nhỏ,
nhưng nếu mật số cao có thể gây hại trên mọi giai đoạn tăng trưởng của cây lúa:
Giai đoạn lúa đẻ nhánh: rầy chích nơi bẹ tạo thành những sọc màu nâu đậm dọc
theo thân.Giai đoạn lúa từ làm đòng đến trổ: rầy tập trung chích hút ở phần cuốn
đòng non. Lúa chín: rầy thường tập trung lên phần thân non.
Ngoài gây hại trực tiếp, rầy nâu còn gây hại gián tiếp cho cây lúa như: Mô
cây tại các vết chích hút và đẻ trứng của rầy trên thân cây lúa bị hư do sự xâm nhập
của một số loài vi khuẩn và nấm. Phân rầy tiết ra có thế thu hút nấm đen đến đóng
quanh gốc lúa, cản trở quang hợp, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa (Nguyễn
Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004).
1.3.5. Thiên địch của rầy nâu
Có nhiều loài côn trùng kí sinh, ăn thịt và nấm bệnh gây hại mọi giai đoạn
tăng trưởng của rầy nâu. Các loài thiên địch quan trọng này là:
8
Bọ rùa: có nhiều loài bọ rùa tấn công rầy nâu. Mỗi ngày một con bọ rùa (cả
thành trùng lẫn ấu trùng) có thể ăn từ 5 – 15 con rầy nâu (cả ấu trùng lẫn thành
trùng).
Kiến ba khoang: có 2 loài kiến ba khoang thường gặp trên ruộng lúa là:
Paederus fuscipes (Curtis) thuộc họ Staphylinidae và Ophionea indica (SchmidtGoebel) thuộc họ Carabidae. Cả ấu trùng và thành trùng các loài kiến ba khoang kể
trên đều ăn ấu trùng và thành trùng rầy nâu. Một con kiến ba khoang có thể ăn từ 3
– 5 rầy nâu mỗi ngày.
Bọ xít nước: có 2 loài thường xuyên xuất hiện trên ruộng lúa là: Microvelia
atrolineata Bergroth (họ Veliidae) và Mesovelia sp. (họ Mesoveliidae). Cả hai loài
trên đều thuộc bọ cánh nửa cứng (Hemiptera). Ấu trùng và thành trùng các loài bọ
không xương sống. Nó có hơn 30.000 loài, trên 60 họ phân bố trên toàn thế giới.
Nhện sống gần như trong tất cả các môi trường. Nhện là động vật ăn thịt phong phú
nhất đối với côn trùng của hệ sinh thái trên cạn và tiêu thụ lớn lượng côn trùng gây
hại mà không làm tổn hại đến cây trồng. Mật độ và sự phong phú của các loài nhện
trong khu vực trồng trọt có thể cao như trong hệ sinh thái tự nhiên và có khả năng
kiểm soát sự gia tăng mật số của côn trùng gây hại trên khu vực chúng sinh sống.
Nhện có nhiều đặc tính tiềm năng đáng chú ý như: khả năng giết nhiều côn
trùng trên một đơn vị thời gian, khả năng tìm kiếm mồi tốt (đặc biệt là nhện săn
mồi), có phổ kí chủ rộng, thích ứng theo điều kiện thức ăn hạn chế, dễ dàng nhân
nuôi và phát triển trong tự nhiên, đặc biệt sống được ở những môi trường hay bị xáo
trộn do con người. Có khoảng 19 loài nhện trong hệ sinh thái lúa, 13 loài nhện trong
hệ sinh thái bắp, 57 loài nhện trong hệ sinh thái mía, 13 loài nhện trong hệ sinh thái
rau màu, 11 loài nhện trong hệ sinh thái cây ăn trái và 26 loài nhện trong hệ sinh
thái dừa (Rajeswaran và ctv., 2005).
Trong những năm gần đây, việc sử dụng nhện trong quản lý và phòng trừ
sinh học ngày càng được phổ biến vì nhện có khả năng bắt mồi và ăn thịt rất thành
công. Các nhà khoa học đã khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng bền
vững, họ đã tháo gỡ nhiều thắc mắc về nhện trong việc định danh, bảo tồn, phân
loại, sự sinh sản, trao đổi tín hiệu và nhiều vấn đề khác. Tuy nhiên, nhiều quốc gia
trên thế giới vẫn chưa sử dụng nhện như là một phương pháp quản lí và phòng trừ
dịch hại (Rajeswaran và ctv., 2005).
Một số ví dụ điển hình về sử dụng nhện để quản lí và phòng trừ dịch hại: “Ở
Mỹ, Úc và Trung Quốc, nhện được đưa vào chương trình phát triển sinh học một
cách có hiệu quả. Riêng Trung Quốc, đặc biệt là ở tỉnh Hà Bắc, việc sử dụng nhện
thay cho thuốc bảo vệ thực vật đã làm giảm lượng thuốc hóa học từ 70 - 90%. Ở
Hàn Quốc, nếu mật độ nhện cao đủ để quản lí các loài côn trùng thuộc họ rầy thân
và rầy lá thì hiệu quả của nhện cũng giống như hiệu quả thuốc trừ sâu”. Hiệu quả
của việc sử dụng nhện như tác nhân sinh học được đánh giá là khả thi và đầy triển
vọng (Rajeswaran và ctv., 2005).
1.4.2. Thành phần nhện thiên địch trên ruộng lúa
to so với phần đầu ngực. Đầu ngực màu nâu vàng với phần ngực màu nhạt hơn. Mắt
có viền đen, xếp thành hai hàng với mắt giữa sau lớn nhất và tứ giác mắt hẹp trước
rộng sau. Hàm ngắn với bốn gai mặt ngoài và ba gai mặt trong. Chân dài trung bình,
màu nâu nhạt hơi vàng. Bụng hình bầu dục dài, màu nâu vàng, đặc sắc là ở bụng
của nhện cái có hai sọc đen lớn chạy dọc hai bên và gãy khúc thành hàng đốm đen
lớn tập trung ở hai đầu của bụng. Chính giữa có một sọc trắng lớn, gợn sóng chạy
dọc. Bốn ống nhả tơ không nhìn thấy từ phía trên.
11