điều tra hiện trạng canh tác, khảo sát thành phần côn trùng gây hại và thiên địch trên dưa hấu ở tỉnh sóc trăng. đánh giá hiệu quả của một số loại thuốc trừ sâu lên rầy mềm aphis gosspii glover trong điều kiện phòng thí nghiệm và nhà lưới - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN TRẦN PHÚ MINH
NGUYỄN SƠN

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC, KHẢO SÁT THÀNH PHẦN CÔN
TRÙNG GÂY HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN DƢA HẤU Ở TỈNH SÓC
TRĂNG. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRỪ
SÂU LÊN RẦY MỀM APHIS GOSSPII GLOVER TRONG ĐIỀU KIỆN
PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ NHÀ LƢỚI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT

Cần Thơ – 2013


TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC, KHẢO SÁT THÀNH PHẦN CÔN
TRÙNG GÂY HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN DƢA HẤU Ở TỈNH SÓC
TRĂNG. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRỪ
SÂU LÊN RẦY MỀM APHIS GOSSPII GLOVER TRONG ĐIỀU KIỆN
PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ NHÀ LƢỚI

Giáo viên hƣớng dẫn
Ths. Lăng Cảnh Phú


BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

-O0O-

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn đính kèm với đề tài: “Điều tra

hiện trạng canh tác, khảo sát thành phần côn trùng gây hại và thiên địch ăn
mồi trên dƣa hấu ở tỉnh Sóc Trăng. Đánh giá hiệu quả của một số loại thuốc
trừ sâu lên rầy mềm Aphis gossypii Glover trong điều kiện phòng thí nghiệm và
nhà lƣới”.

Đƣợc thực hiện từ 7/2012 – 1/2013 do sinh viên Nguyễn Trần Phú Minh và Nguyễn Sơn
thực hiện và bảo vệ trƣớc hội đồng ngày……tháng……năm 2013.
Luận văn tốt nghiệp đã đƣợc hội đồng đánh giá ở mức: .........................................................
.................................................................................................................................................
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn: .......................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................

Duyệt khoa
Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2013
Trƣởng Khoa Nông Nghiệp và SHƢD
Chủ tịch hội đồng

ii


LƢỢC SỬ CÁ NHÂN


Từ năm 2007 - 2010: học tại trƣờng Trung học phổ thông Tân An, TP. Tân An, tỉnh
Long An.
Từ năm 2010 đến nay học tại trƣờng Đại học Cần Thơ, đƣờng 3/2, quận Ninh Kiều,
thành phố Cần Thơ.

iii


LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số
liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chƣa từng đƣợc ai
công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trƣớc đây.

Tác giả luận văn

Nguyễn Trần Phú Minh

iv

Nguyễn Sơn


LỜI CẢM TẠ
Kính dâng!
Ông bà, cha mẹ, những ngƣời đã suốt đời tận tụy, hết lòng vì con đã chăm sóc và
dạy bảo con nên ngƣời.
Thành kính biết ơn!
Thầy Lăng Cảnh Phú đã dành nhiều thời gian quý báu hƣớng dẫn và giúp đỡ
chúng tôi trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp.
Thầy, cô trong bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã giúp đỡ, truyền đạt những kiến

rõ kỹ thuật canh tác dƣa hấu nhƣng còn lạm dụng phân bón hoá học (sử dụng đạm,
lân, kali cao gấp 2 lần khuyến cáo) và thuốc bảo vệ thực vật (sử dụng 14 loại thuốc
trừ bệnh, 25 loại thuốc trừ sâu, 78,3 % phun thuốc trừ bệnh trên 10 lần/vụ và 70%
phun thuốc trừ sâu trên 10 lần/vụ).

Theo điều tra, có 7 đối tƣợng bệnh hại và 7 đối tƣợng sâu hại đƣợc nông dân
nhắc đến. Trong đó bệnh bã trầu, thán thƣ, khảm là 3 đối tƣợng bệnh hại đƣợc quan
tâm nhiều nhất và bù lạch, rầy mềm, sâu xanh ăn lá là 3 đối tƣợng sâu hại đƣợc
quan tâm nhiều nhất.

Kết quả điều tra tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng cho thấy côn trùng gây
hại chủ yếu trên dƣa hấu là bù lạch (Thrips palmi Karny) và rầy mềm (Aphis
gossypii Glover). Thiên địch xuất hiện chủ yếu trên ruộng là bọ rùa 6 vệt đen
Menochilus sexmaculatus.

Mật độ bù lạch (Thrips palmi Karny) và rầy mềm (Aphis gossypii Glover)
diễn biến theo chiều hƣớng tăng dần về cuối vụ. Trong giai đoạn có xử lý thuốc (10
– 35 NSKG), mật độ bù lạch và rầy mềm ở ruộng có phun thuốc luôn thấp hơn
ruộng không phun thuốc. Khi ngừng phun thuốc, mật độ rầy mềm và bù lạch ruộng
có phun thuốc tăng nhanh và vƣợt qua ruộng không phun thuốc trong lần quan sát
cuối cùng (54 NSKG).

Tất cả 8 loại thuốc trừ sâu đều có hiệu quả gây chết 100% đối với rầy mềm
Aphis gossypii Glover trong điều kiện phòng thí nghiệm. Hiệu quả nhanh nhất là
Vitashield 40EC, hiệu quả chậm nhất là Radiant 60SC và Applaud 10WP.

Qua khảo sát, 6 loại thuốc trừ sâu: Regent 800WG, Cyperan 10EC, Binhtox
1.8EC, Vitashield 40EC, Oshin 20WP, Confidor 100SL cho hiệu quả gây chết cao
nhất đối với rầy mềm Aphis gossypii Glover trong điều kiện nhà lƣới. Radiant 60SC
và Applaud 10WP cũng cho hiệu quả gây chết cao đối với rầy mềm nhƣng thấp hơn

ĐẶT VẤN ĐỀ

CHƢƠNG 1
1.1

1
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU

2

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY DƢA HẤU

2

1.1.1 Nguồn gốc và vai trò của dƣa hấu

2

1.1.2 Tình hình sản xuất dƣa hấu ở nƣớc ta

2

1.1.3 Đặc tính thực vật

2

1.1.4 Điều kiện ngoại cảnh

3


13

1.2.7 Nhện đỏ Tetranychus sp.

15

1.3 ĐẶC TÍNH MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRỪ SÂU ĐƢỢC SỬ
DỤNG TRONG THÍ NGHIỆM
1.3.1 Cyperan 10EC

16
16

1.3.2 Applaud 10WP

17

1.3.3 Vitashield 40EC

18

1.3.4 Confidor 100SL

19

1.3.5 Regent 800WG

20

1.3.6 Oshin 20WP


2.1.2 Vật liệu và dụng cụ thí nghiệm

24

PHƢƠNG PHÁP

25

2.2.1 Điều tra hiện trạng canh tác và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
trên dƣa hấu của nông dân tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng và quận Bình
Thuỷ, thành phố Cần Thơ 2012

25

2.2.2 Khảo sát thành phần côn trùng gây hại, thiên địch ăn mồi và
diễn biến mật số của một số sâu hại quan trọng trên dƣa hấu tại huyện Kế
Sách, tỉnh Sóc Trăng vụ Hè Thu 2012

25

2.2.3 Đánh giá hiệu lực các loại thuốc trừ sâu với rầy mềm Aphis
gossypii Glover trong điều kiện phòng thí nghiệm

27

2.2.4 Đánh giá hiệu lực các loại thuốc trừ sâu trên rầy mềm Aphis
gossypii Glover trong điều kiện nhà lƣới

28

34

3.1.5 Phƣơng pháp gieo, mật độ cây và khoảng cách trồng

36

3.1.6 Bón phân

36

3.1.7 Quản lý bệnh hại

39

3.1.8 Quản lý sâu hại

44

viii


3.2 KHẢO SÁT THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG GÂY HẠI, THIÊN
ĐỊCH ĂN MỒI VÀ DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ CỦA MỘT SỐ SÂU HẠI
QUAN TRỌNG TRÊN DƢA HẤU TẠI HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH
SÓC TRĂNG VỤ HÈ THU 2012

50

Thành phần, mức độ phổ biến của sâu, nhện hại và thiên
địch ăn mồi trên dƣa hấu tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng vụ Hè Thu


60

có độc cao lên rầy mềm Aphis gossypii Glover trong điều kiện phòng thí
nghiệm
3.4 KHẢO SÁT ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRỪ
SÂU ĐỐI VỚI RẦY MỀM APHIS GOSSYPII TRONG ĐIỀU KIỆN
NHÀ LƢỚI

62

3.4.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hƣởng của một số thuốc trừ sâu

62

có độ độc thấp lên rầy mềm Aphis gossypii Glover trong điều kiện nhà lƣới

3.4.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát ảnh hƣởng của một số thuốc trừ sâu

64

có độ độc cao lên rầy mềm Aphis gossypii Glover trong điều kiện nhà lƣới

CHƢƠNG 4

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

66

4.1


28

2.3

Các loại thuốc và nồng độ sử dụng trong điều kiện nhà lƣới.

30

3.1

Thông tin về các nông hộ trồng dƣa hấu tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc
Trăng và quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ.

31

3.2

Một số biện pháp xử lý đất của nông dân tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc
Trăng và quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ, 2012.

34

3.3

Cách thiết kế líp trồng dƣa hấu của nông dân tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc
Trăng và quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ, 2012.

34


39

3.8

Giai đoạn gây hại nghiêm trọng của một số bệnh hại trên ruộng dƣa hấu
tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng và quận Bình Thuỷ, thành phố Cần
Thơ, 2012.

39

3.9

Thời vụ gây hại nghiêm trọng của một số bệnh hại trên ruộng dƣa hấu tại
huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng và quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ,
2012.

40

3.10

Các loại thuốc bảo vệ thực vật đƣợc nông dân sử dụng để quản lý bệnh
hại trên dƣa hấu tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng và quận Bình Thuỷ,
thành phố Cần Thơ, 2012.

42

3.11

Một số thói quen sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trị bệnh hại
trên ruộng dƣa hấu của nông dân tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng và


3.15

Một số thói quen sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trị sâu hại trên
ruộng dƣa hấu của nông dân tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng và quận
Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ, 2012.

50

3.16

Thành phần, mức độ phổ biến của côn trùng gây hại trên dƣa hấu tại
huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng vụ Hè Thu 2012.

52

3.17

Thành phần, mức độ phổ biến của thiên địch ăn mồi gây hại trên dƣa hấu
tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng vụ Hè Thu 2012.

54

3.18

Độ hữu hiệu của một số thuốc trừ sâu có độ độc thấp lên rầy mềm Aphis
gossypii Glover trong điều kiện phòng thí nghiệm

59



2.1

Đĩa petri thử thuốc rầy mềm Aphis gossypii Glover trong điều kiện
phòng thí nghiệm

27

2.2

Chậu cây con thử thuốc rầy mềm Aphis gossypii Glover trong điều kiện
nhà lƣới

29

3.1

Tỷ lệ (%) số vụ trồng dƣa hấu trên năm tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc
Trăng và quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ, 2012

32

3.2

Tỷ lệ (%) số hộ có trồng dƣa hấu theo thời vụ tại huyện Kế Sách, tỉnh
Sóc Trăng và quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ, 2012

33

3.3

rầy mềm Aphis gossypii Glover trong điều kiện phòng thí nghiệm

59

3.8

Biến động hiệu lực của các loại thuốc trừ sâu có độ độc cao lên rầy mềm
Aphis gossypii Glover trong điều kiện phòng thí nghiệm

61

3.9

Biến động hiệu lực của các loại thuốc bảo vệ thực vật có độ độc thấp lên
rầy mềm Aphis gossypii Glover trong điều kiện nhà lƣới

63

3.10

Biến động hiệu lực của các loại thuốc bảo vệ thực vât có độ độc cao lên
rầy mềm Aphis gossypii Glover trong điều kiện nhà lƣới

65

xii


DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

cho việc quản lý sâu bệnh hại như rầy mềm, bù lạch, sâu xanh ăn lá, bệnh bã trầu,
thán thư,...ngày càng khó khăn. Nông dân không có chiến lược quản lý lâu dài, lạm
dụng thuốc bảo vệ thực vật làm cho dịch hại ngày càng nghiêm trọng và ảnh hưởng
xấu đến chất lượng của sản phẩm.
Do đó, đề tài: “Điều tra hiện trạng canh tác, khảo sát thành phần côn
trùng gây hại và thiên địch ăn mồi trên dƣa hấu ở tỉnh Sóc Trăng. Đánh giá
hiệu quả của một số loại thuốc trừ sâu lên rầy mềm Aphis gossypii Glover trong
điều kiện phòng thí nghiệm và nhà lƣới” được thực hiện nhằm mục đích:
- Tìm hiểu biện pháp canh tác, các loài sâu bệnh hại chính trên ruộng dưa hấu
và các biện pháp quản lý sâu bệnh hại của nông dân.
- Khảo sát thành phần và mức độ phổ biến côn trùng, nhện hại và thiên địch ăn
mồi nhằm đề xuất giải pháp quản lý dịch hại.
- Theo dõi diễn biến mật số của bù lạch và rầy mềm trên ruộng dưa hấu.
- Đánh giá hiệu quả phòng trừ của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với
rầy mềm Aphis gossypii Glover, từ đó chọn lọc những loại thuốc bảo vệ thực vật sử
dụng hiệu quả và tiết kiệm.

1


CHƢƠNG 1: LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY DƢA HẤU
1.1.1. Nguồn gốc và vai trò của dƣa hấu
Dưa hấu có tên khoa học là Citrullus lanatus, tên tiếng Anh là Watermelon,
thuộc họ Dưa bầu bí (Cucurbitaceae) (Trần Thị Ba và ctv., 1999).
Dưa hấu có nguồn gốc từ Nam Phi (Seshadri, 1993). Theo Phạm Hồng Cúc
(2002) dưa hấu được canh tác rộng rãi trong vùng Địa Trung Hải cách đây hơn
3.000 năm. Dưa hấu là một loại rau màu ngắn ngày được gieo trồng trên nhiều lục
địa có khí hậu ôn đới, cận nhiệt đới (Robinson and Decker-Walters, 1997) và được
tiêu thụ khắp thế giới. Ngày nay dưa hấu được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế

gần gốc phát triển mạnh hơn chồi gần ngọn. Thân có nhiều lông tơ dài, màu trắng
và số lượng lông nhiều hay ít tùy theo giống và tuổi của cây (Trần Thị Ba và ctv.,
1999).
1.1.3.3 Lá
Lá mầm lớn, hình trứng, giúp cho việc quang hợp tạo vật chất nuôi cây và lá
thật đầu tiên. Lá thật là lá đơn hình chân vịt, xẻ thùy sâu, mọc xen (Trần Thị Ba và
ctv.,1999). Mai Thị Phương Anh và ctv. (1996) cho biết thêm, lá dưa hấu màu xanh
vàng nhạt, cuống lá dài, lá phân 3-5 thùy, trên mặt lá thường có lớp phấn trắng.
1.1.3.4 Hoa
Theo Trần Thị Ba và ctv. (1999) dưa hấu là hoa đơn tính, đồng chu, nhỏ có
kích thước 2,5-3cm, nằm ở nách lá, 5 lá đài màu xanh và 5 cánh hoa màu vàng. Hoa
đực có 3-5 tiểu nhị, bao phấn hợp thành khối. Hoa cái vòi nhụy ngắn, nướm nhụy
phân 3 thùy, bầu noãn hạ với 3 tâm bì. Hoa đực xuất hiện sớm hơn hoa cái và 3-5
hoa đực mới xuất hiên một hoa cái mọc xen kẽ trên thân. Hoa cái ở gần gốc cho trái
chín sớm, hoa cái ở xa gốc cho trái chín muộn, hoa cái ở vị trí 12-20 dễ đậu trái và
cho trái tốt nhất (Mai Thị Phương Anh và ctv., 1996).
1.1.3.5 Trái
Trái to và chứa nhiều nước có hình dạng thay đổi tùy theo từng giống từ hình
bầu dục, hình cầu, hình trứng. Vỏ trái cứng, láng, có nhiều văn hoa màu sắc thay
đổi từ đen, xanh đậm, xanh nhạt và nhiều khi có sọc. Thịt trái có màu đỏ đậm đến
vàng, thịt trái xốp, nhiều nước đến rắn chắc (Tạ Thu Cúc, 2005). Thịt trái chứa
0,22%; 0,016% Na; 0,022% Ca, lượng đường dao động từ 5-20% tùy theo lọai
giống (Mai Thị Phương Anh và ctv., 1996).
1.1.3.6 Hạt
Trái chứa nhiều hạt nằm lẫn trong thịt trái, trung bình từ 200-700 hạt/ trái
(Phạm Hồng Cúc, 1999). Có màu nâu nhạt đến đen, trọng lượng hạt trung bình từ
25-30 hạt/ gam (Trần Thị Ba và ctv., 1999).
1.1.4. Điều kiện ngoại cảnh
1.1.4.1 Nhiệt độ
Dưa hấu thích nhiệt độ cao, nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của dưa hấu là

giới hạn sự tăng trưởng cây nhiều nhất (Trần Thị Ba và ctv., 1999). Thừa N thân lá
phát triển sum suê, chống chịu sâu bệnh kém, khó đậu trái, không giữ lâu sau thu
hoạch. Lượng N tăng trong giai đoạn đầu sẽ tăng số hoa đực trên cây và tích lũy
nitrat trong lá và trái (Trần Khắc Thi, 2000). Thừa đạm lá dưa hấu sẽ có màu xanh
đậm, tăng kích thước lá, rễ kém phát triển, dễ bị côn trùng tấn công (Lê Văn Hòa,
2001).
 Lân (P)
Là tác nhân sau N làm giới hạn sự tăng trưởng dưa hấu, lân có tác dụng rất rõ
trong thời kỳ cây con và lúc rễ còn yếu (Lê Văn Căn, 1978). P kích thích sự tăng
trưởng rể vì vậy nên bón đầu vụ, bón thúc ít hiệu quả. Thiếu P làm cho tốc độ sinh
trưởng chậm, cây ít đậm nhánh, lá mỏng xanh, giảm năng suất (Phạm Hồng Cúc,
2000). Theo Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Huy Tài (2003) cho biết thêm nguyên nhân
lá có màu xanh sậm khi thiếu lân là do sự giản nở của tế bào chậm hơn so với sự
hình thành diệp lục tố, do đó hàm lượng diệp lục tố trên đơn vị diện tích sẽ cao hơn.
P trong đất bị cố định nên bón theo băng gần rễ có hiệu quả cao hơn bón rãi, nhưng
bón theo băng có thể làm giảm sự hấp thu khoáng vi lượng dẫn đến giảm năng suất
(Trần Thị Ba và ctv., 1999).
 Kali (K)
Kali di động cao trong cây và được vận chuyển từ mô lá vào trái, khi trái thiếu
K thì K sẽ di chuyển từ lá già đến lá non làm cây tăng trưởng chậm, chóp lá già

4


thiếu diệp lục tố và bị hoại tử trái phát triển không bình thường và bị một số bệnh
tấn công (William, 1993). Theo Trần Khắc Thi (1996) K có tác dụng làm tăng khả
năng chín sớm của trái. Ngoài ra, hỗn hợp K và P có tác dụng tốt tới chất lượng trái
và tăng lượng đường trong trái (Trần Thị Ba và ctv., 1999).
 Calcium (Ca)
Nồng độ Ca trong lá già khoảng 1-2% và trong trái 0,2-0,3%. Đất thiếu Ca

gieo hạt, mỗi bầu một hạt. Sau đó đem ra nơi có nắng tốt và không được động nước
để chăm sóc khi cây được 6-10 ngày tuổi thì đem ra ruộng trồng.

5


1.1.5.3 Chuẩn bị đất trồng
Đất trồng dưa hấu cần có tầng canh tác dầy, tơi xốp, không phèn, không mặn,
có đầy đủ nước tưới, dễ thoát nước. Kiểu líp phổ biến nhất hiện nay là líp đôi, hai
mương tim cách nhau trung bình 4,5-6 m. Mương đào rộng 30-40 cm sâu khoảng 40
cm. Đất được đào mương sâu một lớp leng và đào từng lớp đất mỏng 2-3 cm để cho
đất mau khô và dễ tơi ra (Trần Thị Ba và ctv., 1999).
1.1.5.4 Khoảng cách trồng và mật độ trồng
Khoảng cách trồng là 2,5-3 m (hàng cách hàng) và 0,4-0,7 m (cây cách cây).
Mật độ trồng thay đổi theo mùa vụ. Tưới đẫm trước khi đậy màng phủ, sau đó đục
lổ. Bón lót và rãi Basudin 10H ngừa kiến cắn phá (Trần Thị Ba và ctv., 1999).
1.1.5.5 Bón phân
Theo Trần Thị Ba và ctv. (1999) phân bón làm tăng năng suất nhưng ảnh
hưởng rất lớn đến phẩm chất trái dưa, tùy theo độ màu mỡ mà lượng phân bón khác
nhau. Lượng phân trung bình cho 1 ha dưa hấu ở ĐBSCL như sau:
 Phân chuồng hoai 10-20 tấn.
 Vôi bột 500-1000 kg.
 120-160 kg N, 120-160 kg P2O5, 60-80 kg K2O.
1.1.5.6 Tưới nước
Trước khi đậy màng phủ (sau khi bón phân lót) cho nước vào vừa ngập mặt
ruộng, nước sẽ thấm lên đỉnh líp giúp bộ rễ cây con đầy đủ ẩm độ nên không cần
thiết tưới trên mặt lá. Trời nắng nóng tưới nước bằng thùng vòi sen, tưới 1 lần vào
buổi trưa trong 10 ngày đầu sau khi gieo. Sau đó 5 ngày tưới 1 lần, giai đoạn phát
triển 2 ngày tưới 1 lần. Khi dưa bắt đầu chín giảm lượng nước tưới từ từ và ngừng
hẳn vài ngày trước khi thu hoạch (Trần Thị Ba và ctv., 1999).

Bộ Lepidoptera. Do sâu có đặc tính cắn phá và gây hại chủ yếu trên lá nên người
dân thường gọi là sâu xanh ăn lá (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011). Ngoài
ra sâu có hai sọc trắng rất rõ chạy dọc theo cơ thể nên người dân còn gọi là sâu xanh
hai sọc trắng.
Kí chủ rất rộng gồm hầu hết các loại cây trồng cùng họ dưa bầu bí, gây hại
đặc biệt nghiêm trọng trên cây dưa hấu, dưa lê, dưa leo, khổ qua (Nguyễn Văn
Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011).
1.2.1.2 Đặc điểm hình thái và sinh học
Theo Lê Huy Vũ (2002) bướm có thân màu xám sáng, đầu màu xám, cơ thể
không có lông, râu đầu hình sợi chỉ dài 6-8 mm miệng có vòi hút dài 3-4 mm để hút
mật hoa, vòi thường cuộn tròn nằm dưới ngực. Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị
Sen (2011) cho biết thêm bướm có chiều dài thân từ 10-12 mm, sải cánh rộng 20-25
mm. Cánh trước bướm có màu trắng bạc với đường viền màu nâu đậm dọc theo
cạnh cánh trước của cánh trước và cạnh ngoài của cánh trước và cánh sau. Thời
gian bướm sống từ 5-7 ngày và bướm cái đẻ trứng từ 150-200 trứng. Trứng có màu
trắng đục và chuyển thành màu trắng hơi ngả vàng trước khi nở, trứng được đẻ
riêng lẻ trên hai mặt lá nhất là đọt non và trái non. Còn theo Ganehiarachchi (1997)
thì trứng có màu vàng, hình tròn, đường kính 0,5 mm.
Thời gian ủ trứng của Diaphania indica Saunders theo Nguyễn Văn Huỳnh và
Lê Thị Sen (2011) là 4-5 ngày, còn theo Brown và ctv. (2003) là 1-7 ngày, theo
Ganehiarachchi (1997) thì thời gian ủ trứng là 3-5 ngày.
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) ấu trùng có màu xanh lá cây
nhạt, có 2 sọc chạy dọc trên thân rất rõ. Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển từ 10-20 ngày.
Ấu trùng đủ lớn dài 20-25 mm. Còn theo Lê Huy Vũ (2002) thì giai đoạn ấu trùng

7


từ 11-16 ngày, thời gian sinh trưởng ngắn nhất ở giai đoạn ấu trùng là tuổi 3 với
trung bình 2,2 ngày và thời gian sinh trưởng dài nhất là ở giai đoạn ấu trùng là tuổi

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) bướm có chiều dài thân từ 2025 mm, sải cánh rộng từ 35-45 mm. Cánh trước có màu nâu vàng, phần giữa từ
cạnh cánh trước và cánh sau có một vân ngang rộng, màu trắng. Trong đường vân
trắng này có đường vân màu nâu. Cánh sau màu trắng óng ánh. Đời sống của bướm
trung bình 1-2 tuần tùy theo điều kiện thức ăn. Bướm có thể đẻ trung bình khoảng

8


300 trứng, nhưng nếu điều kiện thích hợp bướm có thể đẻ từ 900-2.000 trứng.
Trung bình một bướm cái có thể đẻ từ 200-300 trứng ở mặt dưới của lá cây
(Gahukar, 1992).
Trứng có đường kính 0,4-0,5 mm, hình bán cầu. Bề mặt trứng có những đường
khía dọc từ đỉnh xuống tới đáy và bị cắt ngang bởi những đường khía ngang tạo
thành những ô nhỏ. Trứng mới đẻ có màu trắng vàng và sau chuyển thành màu vàng
tro, lúc mới nở có màu tro đậm. Ổ trứng có phủ lông từ bụng bướm mẹ và có thời
gian ủ trứng 4-7 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011). Trứng nở sau 3-4
ngày (Schreiner, 2000).
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) sâu có 5-6 tuổi và phát triển
tuổi trong thời gian từ 20-25 ngày tùy theo điều kiện môi trường. Có hình ống tròn
và dài khoảng 35-53 mm khi sâu lớn đủ sức. Dương Minh (1999) cho biết thêm ấu
trùng tuổi 1 và tuổi 2 có màu xanh lợt, đầu đen. Khi trưởng thành sâu có màu đen
hay xám sậm, lưng có 3 sọc vàng, hai bên có 2 hàng chấm đen nhỏ.
Nhộng dài từ 18-20 mm, màu nâu hoặc màu nâu tối. Cuối bụng có một đôi gai
ngắn. Thời gian làm nhộng từ 7-10 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011).
1.2.2.3 Tập quán sinh sống và cách gây hại
Bướm vũ hóa vào buổi chiều và bay ra hoạt động vào lúc vừa tối, ban ngày thì
bướm đậu ở mặt dưới lá hoặc các bụi cỏ. Bay rất mạnh, có khi xa đến vài chục mét
và cao đến 6-7 m. Hoạt động mạnh từ tối đến nửa đêm. Sau khi vũ hóa vài giờ thì
bướm có thể bắp cặp và một ngày sau thì có thể đẻ trứng. Trứng được đẻ thành ổ và
có phủ lông màu vàng nâu (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011). Trứng trong

đen (Lemis, 1997). Miệng có cấu tạo chuyên biệt với chức năng chích hút để chích
hút nhựa cây (Võ Tòng Xuân, 1993). Chân của bù lạch rất đặc biệt là đốt bàn không
có móng mà tận cùng bằng một mảnh nhỏ, râu màu đen gồm sáu đốt. Thành trùng
có thể sống đến 2 tháng và đẻ độ 200 trứng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen,
2011).
Trứng rất nhỏ màu trắng đến vàng nhạt, dạng hình thận (Jayma et al., 1992).
Trứng do con cái dùng bộ phận đẻ trứng ghim thẳng vào trong thân lá non, trứng nở
trong thời gian khoảng 3 ngày. Ấu trùng rất giống thành trùng nhưng màu nhạt hơn,
gồm 2 tuổi kéo dài độ 3-4 ngày. Nhộng phát triển trong từ 3-4 ngày (Nguyễn Văn
Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011).
1.2.3.3 Tập quán sinh sống và cách gây hại
Cả thành trùng và ấu trùng đều chích vào biểu bì lá và hút nhựa, bù lạch
thường đẻ trứng trong mô lá, thường sống ở mặt dưới lá và chui vào gần gân để trốn
(Gabystoll, 1986; Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011). Lewis (1997) và Lê
Ngọc Hoa (2003) cho biết thêm bù lạch thường chích cho nhựa cây chảy ra để hút
ăn, đôi khi còn ăn cả mô lá hoặc cây.
Lá cây bị bù lạch gây hại sẽ có dạng quăn queo, lá non biến dạng và bị cong
xuống phía dưới. Đọt non bị bù lạch tấn công không phát triển dài ra được mà chùn
lại và cất cao lên, nên nông dân thường gọi là hiện tượng “khảm” hay “bắn máy
bay” trên dưa hấu. Bù lạch còn truyền bệnh khảm do vi rút làm vàng và xoăn lá, cây
không chết nhưng ra hoa mà không cho trái (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen,
2011).
1.2.3.4 Biện pháp phòng trị
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) thì nên đốt tàn dư thực vật,
dùng bẫy màu vàng đặt vào rẫy từ khi cây con đến lúc trổ hoa để xác định mật số và
quyết định khi nào áp dụng thuốc. Cày sâu để chôn vùi nhộng (Gabystoll, 1986).
Ngày nay, một vài phương pháp được áp dụng do có hiệu quả cao đến việc
hạn chế bù lạch. Màng phủ Nông nghiệp và sử dụng sự phản chiếu kim loại trên

10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status