điều tra thành phần côn trùng và nhện gây hại trên hoa lan đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc đối với nhện đỏ tenuipalpus pacificus baker gây hại trên giống lan dendrobium tại tỉnh đồng tháp - Pdf 30



TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN VĂN LÝ ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG VÀ NHỆN
GÂY HẠI TRÊN HOA LAN - ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC
CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC ĐỐI VỚI NHỆN ĐỎ
TENUIPALPUS PACIFICUS BAKER GÂY HẠI TRÊN
GIỐNG LAN DENDROBIUM TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT


KS. CHÂU NGUYỄN QUỐC KHÁNH MSSV: 3103632
Lớp: TT1073A1
Cần Thơ, 2013
i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Chứng nhận đã chấp nhận Luận văn tốt nghiệp với tên đề tài “Điều tra thành phần
côn trùng và nhện gây hại trên hoa lan - Đánh giá hiệu lực của một số loại
thuốc đối với nhện đỏ Tenuipalpus pacificus Baker gây hại trên giống lan
Dendrobium tại tỉnh Đồng Tháp”.
Do sinh viên Nguyễn Văn Lý thực hiện.
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp.

Cần Thơ, ngày…….tháng…….năm 2013
Cán bộ hướng dẫn TS. Lê Văn Vàng KS. Châu Nguyễn Quốc Khánh

Ý kiến của hội đồng chấm luận văn:

Duyệt khoa Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2013
Trưởng Khoa Nông Nghiệp và SHƯD Chủ tịch hội đồng iii

TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN VĂN LÝ
Ngày tháng năm sinh: 15/07/1991
Dân tộc: kinh
Con ông: NGUYỄN VĂN QUẮN
Con bà: NGUYỄN THỊ VEN
Quê quán: TX Tân Châu, tỉnh An Giang
Tóm tắt quá trình học tập:
 Tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2009 tại trường Trung Học Phổ Thông
Nguyễn Quang Diêu, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
 Vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2010, học ngành Bảo Vệ Thực Vật khóa
Nguyễn Văn Lý
vi

Nguyễn Văn Lý, 2013. “Điều tra thành phần côn trùng và nhện gây hại trên hoa
lan - Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc đối với nhện đỏ Tenuipalpus
pacificus Baker gây hại trên giống lan Dendrobium tại tỉnh Đồng Tháp”. Luận
văn tốt nghiệp Đại học, ngành Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học
Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ. Cán bộ hướng dẫn: Ts. Lê Văn Vàng và Ks.
Châu Nguyễn Quốc Khánh.

TÓM LƯỢC

Bằng phương pháp điều tra nông dân và khảo sát trực tiếp trên các vườn lan
tại tỉnh Đồng Tháp từ tháng 5/2013 đến tháng 11/2013 cho thấy:
Nông dân trồng lan tại tỉnh Đồng Tháp với số hộ có thời gian canh tác từ 1
năm đến 5 năm chiếm 60%, chỉ có 20% số hộ có thời gian canh tác trên 5 năm.
Giống trồng chính là giống Dendrobium, nguồn giống chủ yếu là nhập nội từ Thái
Lan chiếm 80% số hộ. Nông dân trồng chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm bản thân và
thông qua việc giao lưu và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Có đến 60% số hộ chưa
tham gia lớp tập huấn IPM nên việc phòng trừ dịch hại chủ yếu dựa vào việc phun
ngừa định kỳ chiếm đến 73%. Do đó, áp lực phun thuốc phòng trừ dich hại của nhà
vườn là rất cao và tốn rất nhiều chi phí.
Kết quả điều tra ngoài đồng ghi nhận có 6 loài côn trùng và 1 loài nhện gây

Danh sách bảng xi
Danh sách hình xii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY HOA LAN 2
1.1.1 Tình hình sản xuất và kinh doanh hoa lan ở Việt Nam 2
1.1.2 Đặc điểm thực vật họ lan 2
1.1.2.1 Phân loại thực vật học 2
1.1.2.2 Một số yêu cầu ngoại cảnh 2
1.1.3 Một số giống lan được trồng phổ biến ở Việt Nam 3
1.1.3.1 Lan Dendrobium 3
1.1.3.2 Lan Mokara 3
1.1.3.3 Lan Cattlaya 4
1.2 MỘT SỐ LOÀI CÔN TRÙNG VÀ NHỆN HẠI CHỦ YẾU TRÊN
HOA LAN 4
1.2.1 Nhện Tenuipalpus pacificus Baker (Tenuipalpidace – Acari) 5
1.2.1.1 Một số đặc điểm hình thái 6
1.2.1.2 Đặc điểm và khả năng gây hại của nhện Tenuipalpus
pacificus Baker 7
1.2.1.3 Biện pháp phòng trị 9
viii

1.2.2 Muỗi Contarinia maculipennis Felt (Diptera: Cecidomyidae) 9
1.2.3 Bọ trĩ Thrips hawaiiensis Morgan 11
1.2.4 Bọ trĩ Echinothrips sp. 11
1.2.5 Rệp sáp Parlatoria proteus Curtis (Diaspidae) 12
1.2.6 Rệp sáp Planococcus citri (Pseudococcidae) 12
1.3 ĐẶC TÍNH HÓA HỌC VÀ CÔNG DỤNG CỦA MỘT SỐ LOẠI
THUỐC BVTV 12
1.3.1 Takare 2EC 12

3.1.3. Thành phần côn trùng, nhện và động vật thân mềm gây hại theo
ghi nhận của nông dân 30
3.2 THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG, NHỆN VÀ ĐỘNG VẬT
THÂN MỀM GÂY HẠI TRÊN HOA LAN TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP
QUA KHẢO SÁT THỰC TẾ ĐIỀU TRA TRÊN VƯỜN 31
3.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC ĐỐI VỚI
NHỆN TENUIPALPUS PACIFICUS BAKER GÂY HẠI TRÊN
GIỐNG LAN DENDROBIUM 34
3.3.1 Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc đối với nhện
Tenuipalpus pacificus Baker trong điều kiện phòng thí nghiệm 34
3.3.2 Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc đối với nhện
Tenuipalpus pacificus Baker trong điều kiện nhà lưới 36
3.3.3 Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc đối với nhện
Tenuipalpus pacificus Baker thực tế trên vườn 37
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
Tài liệu tham khảo 41
Phụ lục

x

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
xi

DANH SÁCH BẢNG

Bảng Tên bảng trang
2.1 Nồng độ sử dụng theo khuyến cáo trên nhãn thuốc của các loại
thuốc BVTV đối với nhện Tenuipalpus pacificus Baker trên lan 21
3.1 Đặc điểm chung của vườn điều tra 24
3.2 Tỉ lệ số hộ có tham dự các lớp tập huấn và IPM 25
3.3 Tỉ lệ số hộ điều tra theo giống và nguồn giống 26
3.4 Một số đặc điểm canh tác của các hộ đã điều tra 27
3.5 Tỉ lệ số hộ điều tra theo việc tưới nước cho lan 27
3.6 Tỉ lệ số hộ điều tra theo việc bón phân 29
3.7 Tỉ lệ số hộ điều tra theo việc phun thuốc BVTV 30
3.8 Thành phần loài gây hại theo ghi nhận của nông dân 31
3.9 Thành phần loài côn trùng, nhện và động vật thân mềm gây hại trên
hoa lan 33
3.10 Hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với nhện Tenuipalpus
pacificus Baker trong điều kiện phòng thí nghiệm, ĐHCT, 5/2013
(T(
0
C): 31 - 34; H(%): 70 - 80) 34
3.11 Hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với nhện Tenuipalpus
pacificus Baker trong điều kiện nhà lưới, ĐHCT, 5/2013 (T(
0
C): 36
- 40; H(%): 45 - 55) 36
3.12 Hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với nhện Tenuipalpus


MỞ ĐẦU

Hoa lan hiện nay đang là mặt hàng xuất khẩu chiến lược, mang lại nguồn lợi
kinh tế cao cho nhiều quốc gia. Thái Lan là nước xuất khẩu lan đứng đầu thế giới,
với sản phẩm chủ lực là hoa lan cắt cành Dendrobium, hàng năm doanh thu từ xuất
khẩu đạt trên 70 triệu USD (Office of Agriculture Economic, 2005). Ở nước ta các
giống lan thương phẩm phổ biến là Mokara, Aranda, Oncidium và đặc biệt là
Dendrobium. Chúng cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước với nhiều hình
thức: hoa cắt cành, cây trong chậu, lẵng hoa, vòng hoa,…(Nguyễn Công Nghiệp,
1999).
Trong điều kiện kinh tế phát triển hiện nay, nhu cầu về văn hóa tinh thần
ngày càng trở nên thiết yếu, chính vì thế hoa kiểng nói chung và hoa phong lan nói
riêng đã và đang được tiêu thụ ngày càng nhiều. Với nhu cầu ngày càng cao của thị
trường, nhiều nông dân đã đẩy mạnh đầu tư, nhiều vườn hoa phong lan xuất hiện ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng. Song song với
sự phát triển về diện tích thì tình hình dịch hại cũng ngày càng trở nên phổ biến trên
hoa lan. Với sự cạnh tranh ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế hiện
nay, để có thể trồng hoa lan đạt hiệu quả kinh tế cao, đòi hỏi người trồng hoa phải
có kiến thức về giống kỹ thuật trồng và biện pháp phòng trừ dịch hại. Tuy nhiên
trong thời gian qua, những tài liệu, thông tin liên quan đến tình hình dịch hại cũng
như biện pháp phòng trừ một cách hiệu quả các loài dịch hại trên hoa kiểng nói
chung và trên hoa lan nói riêng còn rất hạn chế.
Trên thực tế đó, đề tài “Điều tra thành phần côn trùng và nhện gây hại
trên hoa lan - Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc đối với nhện đỏ
Tenuipalpus pacificus Baker gây hại trên giống lan Dendrobium tại tỉnh Đồng
Tháp” được thực hiện nhằm bước đầu nghiên cứu, đặc nền tảng cho những nghiên
cứu sâu sau này, để xây dựng quy trình quản lý dịch hại trên hoa phong lan có hiệu
quả tốt nhất, làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình quản lý dịch hại tổng
hợp trên hoa kiểng giúp mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng hoa kiểng

1.1.2.1 Phân loại thực vật học (Hoàng Thị Sản, 2003)
Cây hoa lan được phân loại thực vật học như sau:
Ngành: hạt kín (Angiospermae)
Lớp: một lá mầm (Monocotyledonae)
Phân lớp: hành (Liliidae)
Họ: lan (Orchidaceae)
1.1.2.2 Một số yêu cầu ngoại cảnh
Cây hoa lan với khoảng 25.000 loài khác nhau phân bố khắp nơi trên trái đất
nên có yêu cầu về nhiệt độ và ánh sáng rất rộng. Nhiệt độ cần thiết dao động từ
13
0
C đến 21
0
C tùy theo xuất xứ mỗi loài, nhóm lan có nguồn gốc nhiệt đới cần
nhiệt độ từ 18,5
0
C đến 21
0
C và 100% ánh sáng trực tiếp, nhóm lan ưa sáng trung
bình thì cần 50% – 80% ánh sáng, nhóm ưa ánh sáng yếu thì cần khoảng 30%
(Nguyễn Xuân Linh, 2000).

3

Độ ẩm cần thiết cho cây hoa lan là sự tương hợp giữa các độ ẩm của vùng,
của vườn trồng lan và ẩm độ chậu trồng. Điều khiển ẩm độ qua liều lượng nước tưới
cho lan thường rất được chú trọng. Bên cạnh đó, yếu tố độ thông thoáng và chất
dinh dưỡng đa vi lượng cũng cần được chú ý rất nhiều (Nguyễn Xuân Linh, 2000).
1.1.3 Một số giống lan được trồng phổ biến ở Vi ệt Nam
1.1.3.1 Lan Dendrobium

phát hoa dài mang nhiều hoa thường không phân nhánh. Hoa cỡ trung bình đến lớn,
cánh đài của hoa rất lớn. Hoa có nhiều màu sắc phong phú từ trắng, tím, hồng đỏ,
cam, vàng nâu, xanh. Trên cánh hoa thường có chấm, có đốm hoặc hình carô rất

4

đẹp. Nhóm giống này rất thích hợp với việc trồng sản xuất hoa cắt cành do siêng ra
hoa, có thể đạt 6 – 8 phát hoa/năm.
Về chế độ tưới hàng ngày nhất là vào mùa nắng nên đảm bảo tưới hai lần
mỗi ngày vào buổi sáng và buổi chiều mát. Đối với những ngày có sương hoặc hơi
lạnh có thể tưới sớm để rửa lá trước khi mặt trời mọc.
Nhóm lan Mokara ít bị sâu phá hoại, chủ yếu là theo dõi nếu có kiến quá
nhiều thì nên phun thuốc trừ sâu với nồng độ loãng để diệt kiến. Một số vườn lan
trồng giống này có xuất hiện rệp vẩy cũng cần phải theo dõi và phun thuốc. Lan
Mokara cũng dễ bị bệnh đốm lá nên cần theo dõi vườn để phát hiện bệnh.
(http://hatgionghoa.net/ky-thuat-trong-hoa/ky-thuat-trong-hoa-lan-cat-canh-nhom-
lan-mokara)
1.1.3.3 Lan Cattlaya (theo Huỳnh Văn Thới, 1996)
Lan Cattlaya còn gọi là Cát lan. Cũng như Dendrobium, lan Cattlaya cũng
đa thân, nhưng giả hành mập và lùn hơn, phát trển theo chiều ngang, lúc còn non có
bẹ màu xanh bọc lại, lúc lớn lên bẹ khô lại và rụng đi. Thường trên đỉnh giả hành có
1 đến 2 lá to, chính giữa có một lưỡi mèo bao bọc lấy phát hoa, phát hoa vượt lên và
xuyên qua lưỡi mèo để trổ hoa. Lan Cattlaya được phân ra làm hai nhóm:
 Nhóm 1 lá, giả hành chỉ có một lá và chỉ ra có 1, 2 hoa rất to và rất đẹp.
 Nhóm 2 lá, mỗi giả hành có 2 lá, có hoa chùm 5, 7 hoa, nhưng hoa nhỏ hơn.
Lan Cattlaya có khuyết điểm là hoa chóng tàn, độ 1, 2 tuần lễ là tàn, nhưng
có loại cho hoa có mùi hương rất thơm.
Nhiệt độ lý tưởng của một số loài Cattlaya là 21
0
C, nhưng cũng có loài chịu

mùi thơm như Cattlaya; bù lạch gây hại tương đối quan trọng, đối tượng còn lại là
ruồi. Một số loài ruồi đẻ trứng trên cánh hoa làm xuất hiện những vệt đen lấm tấm.
Chúng là loài sống bằng cách chích lá, nhất là các lá mềm nên hiếm gặp trên cây
hoa lan.
Theo kết quả khảo sát của Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh (2003) thì
nhóm côn trùng và nhện hại trên cây phong lan tại Việt Nam gồm có 11 loài thuộc 5
bộ khác nhau. Trong đó, các đối tượng nhện gây hại (Tenuipalpus pacificus Baker;
Brevipalpus califomicus; Dolicotetranychus vandegooti; Tetranychus sp.) được
đánh giá là quan trọng và khó phòng trị nhất. Các loài còn lại thuộc nhóm gây hại
tương đối quan trọng bao gồm: bù lạch (Thrips palmi, Dichromothrips corbetti); sâu
xanh da láng và sâu ăn tạp (Spodoptera exgua; Spodoptera litura); bọ cánh cứng hại
hoa (Temapeetoralis); rệp vẩy và rầy (Aphis gossypii Glover).
Theo Lê Thị Tuyết Nhung (2008) thành phần loài côn trùng và nhện gây hại
trên họ phong lan tại thành phố Cần Thơ gồm nhện đỏ Tenuipalpus pacificus Baker
(Tenuipalpidae), rệp sáp Aonidiella sp. (Diaspididae), rệp sáp Parlatoria sp.
(Diaspididae), rệp sáp giả Pseudococcus sp. (Pseudococcidae), rệp sáp giả Icerya
sp. (Margarodidae), rầy mềm Aphis sp. (Aphididae), họ Flatidae và họ Lymantriidae
(Lepidoptera) mỗi họ cũng có một loài gây hại (chưa định danh).
1.2.1 Nhện Tenuipalpus pacificus Baker (Tenuipalpidace – Acari)
Kết quả nghiên cứu của Baker và Bambara (1994) về nhóm nhện gây hại
thuộc họ Tenuipidae (Acari) ghi nhận có 10 loài khác nhau gây hại trên nhiều loại
đối tượng cây trồng từ cây cảnh, cây ăn trái, rau cải,… Tuy nhiên, đa số trong chúng
gây hại trên họ phong lan (Orchidaceae), những loài gây hại quan trọng ghi nhận ở
Mỹ gồm có: Tenuipalpus orchidarum, Tenuipalpus pacificus, Tenuipalpus
orchidofilo, Brevipalpus onciidi. Một số loài khác như Brevipalpus inornatus cũng

6

gây hại quan trọng trên cây cảnh thân gỗ ở vùng Đông Bắc Mỹ, loài Brevipalpus
phoenicis đặc biệt nghiêm trọng trong điều kiện trồng trong nhà kính trong các đối

không nhả tơ trong suốt quá trình sống (Võ Thị Thu, 2009)
Theo Charanari et al. (1989) (trích theo Võ Thị Thu, 2009) chu kì phát triển
trung bình của loài Tenuipalpus pacificus Baker trung bình là 23,5


0,27 ngày.
Trong đó giai đoạn trứng chiếm 9,45

0,12 ngày, ấu trùng tuổi 1 trung bình 4,58

7



0,09 ngày, ấu trùng tuổi 2 là 4,51


0,12 ngày, ấu trùng tuổi 3 là 4,66


0,11
ngày trong điều kiện nhiệt độ là 28


2
0
C, ẩm độ 57


3%.


Hình 1.1: Nhện Tenuipalpus pacificus [ Nguồn: Mishustin Ruslan I]
A: trứng; B: ấu trùng; C: thành trùng
1.2.1.2 Đặc điểm và khả năng gây hại của nhện Tenuipalpus pacificus Baker
 Đặc điểm gây hại
Theo Squire (2005) vết cạp và vết chích của nhện làm cho lá có những chấm
li ti vàng, bắt đầu từ bên dưới mặt lá sau đó lan dần hết cả lá. Nếu bị nặng lá sẽ ngã
vàng sau đó héo đi và có thể rụng, dễ dàng thấy xác nhện màu trắng rất nhiều bên
dưới mặt lá. Các vết nhâm li ti chuyển sang màu vàng, sau đó đổi thành màu nâu
đến nâu đen và liên kết lại với nhau làm cho lá trở nên xấu xí. Do nhện chích hút
nhựa của lá và các chất diệp lục làm cho lá mất sức sống và dị dạng. Lá bị nhện tấn

8

công mặt trên thường loang lỗ từng mảnh màu vàng trên bề mặt vẫn còn xanh. Khi
quan sát thấy màu ánh bạc ở mặt dưới lá đã hoàn toàn chuyển sang màu nâu đen thì
đa số nhện đã di cư sang một lá mới và tiếp tục gây hại (Lê Thị Tuyết Nhung,
2008).
Nhện tấn công trên cả lá già lẫn non nhưng quan sát thường thấy nhện tấn
công đầu tiên là ở những lá hơi già. Nhện tập trung gây hại mặt dưới lá là chính, khi
phát hiện nhện tấn công cả ở mặt trên và dưới của lá tức là mật số nhện hiện diện rất
cao. Trong điều kiện trồng không đủ thông thoáng thì nhện vẫn tấn công luôn cả
mặt trên của lá dù mật số không cao. Một điều quan trọng là có thể quan sát thấy
nhện trên lá như những chấm nhỏ di động màu đỏ cam (Lê Thị Tuyết Nhung, 2008).
Trên hoa nhện chích hút nhựa hoa làm cho hoa có những chấm màu nâu và
mau tàn. Đối với hoa của giống Dendrobium trong giai đoạn ra hoa, nhện rất thích
bám sau cuống hoa thành các chấm màu đỏ thẫm hoặc màu nâu làm cho hoa giảm
giá trị và mau tàn mặc dù cánh dài, hoa to (Phan Thúc Huân, 2002).
 Khả năng gây hại trên một số giống lan
Theo Lê Thị Tuyết Nhung (2008) nhện đỏ Tenuipalpus pacificus Baker có

nhiều hơn do thuốc đã tiêu diệt luôn các loài thiên địch, bên cạnh đó là do khả năng
kháng thuốc mạnh mẽ của các loài nhện đỏ gây hại. Vì lẽ đó, nhóm nhện luôn được
xác định là loài gây hại quan trọng, khó kiểm soát. Tiêu diệt chúng nên dùng thuốc
diệt cả con già lẫn trứng. Đồng thời phải luân phiên các loại thuốc sử dụng để nâng
cao hiệu quả phòng trị. Biện pháp phun sương trên lá với nước sạch có thể tránh
được sự gây hại của nhện đỏ. Tuy nhiên, một khi đã xuất hiện chúng rất khó bị tiêu
diệt tận gốc (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003).
1.2.2 Muỗi Contarinia maculipennis Felt (Diptera: Cecidomyidae)
Muỗi Contarinia maculipennis Felt (Diptera: Cecidomyidae), đã có mặt tại
Hawaii kể từ đầu những năm 1900. Hiện nay, loài muỗi này có thể được tìm thấy
trên tất cả các hòn đảo chính của Hawaii. Ở những nơi khác tại Hoa Kỳ, loài muỗi
này cũng được báo cáo trên hoa lan Dendrobium ở Florida năm 1992 (Theo Hara và
Niino-DuPonte, 2002). Sự gây hại của muỗi thuộc giống Contarinia đã được ghi
nhận trên hoa tại nhiều nơi trên thế giới, một số loài tạo bướu và có tính chuyên biệt
tương đối, ấu trùng muỗi Contarinia maculipennis Felt gây hại trên cây lan
Dendrobium, Phalaenopsis được cho là có nguồn gốc tại Đông Nam Châu Á
(Osborne et al., 2008).
 Ký chủ
Theo Hara và Niino-DuPonte (2002) muỗi Contarinia maculipennis Felt có
phổ ký chủ rộng ít nhất 6 họ thực vật, bao gồm nụ hoa phong lan, dâm bụt. hoa
nhài, cải bắp, cải trắng, cà chua, cà, ớt, khoai tây, và các loại cây cảnh khác.
 Đặc điểm hình thái và sinh học
Theo Hara và Niino-DuPonte (2002) Muỗi Contarinia maculipennis sinh
sản quanh năm ở Hawaii. Thời gian của chu kì từ trứng đến trưởng thành là khoảng
21 đến 28 ngày.
 Trứng: có màu trắng đến màu kem, không thể nhìn thấy bằng mắt thường và
nở trong vòng 24 giờ.
 Ấu trùng: có màu trắng khi mới nở, trưởng thành màu vàng với một ánh
hồng. Giai đoạn ấu trùng kéo dài từ 5 - 7 ngày với chiều dài cơ thể khoảng 1 - 2


và vườn lan có đủ số lượng chồi (Theo Hara và Niino-DuPonte, 2002).
 Biện pháp phòng trị
Sinh học: theo Hara và Niino-DuPonte ( 2002) cho đến nay, chưa có loài ký
sinh trùng nào có thể kiểm soát được loài này. Thành trùng thì dể bị kẻ thù chung
chẳng hạn như nhện và kiến. Kiến cũng có thể kiểm soát được nhộng trong đất.
Canh tác: loại bỏ những nụ hoa và chồi đã bị nhiễm trên cây, đặt nụ hoa bị
nhiễm trong một túi nhựa hoặc hộp kín để ngăn chặn sự trốn thoát của dòi, vệ sinh
xung quanh khu vực canh tác, tránh trồng những cây ký chủ xung quanh cây trồng
(Theo Hara và Niino-DuPonte, 2002).
B
A

11

Hóa học: chỉ có giai đoạn trưởng thành của muỗi Contarinia maculipennis
Felt là dễ bị ảnh hưởng với thuốc trừ sâu, vì dòi được bảo vệ trong chồi và nhộng
thì ở dưới đất. Một số thuốc trừ sâu có thể áp dụng là phun trên hoa với giai đoạn ấu
trùng cũng như xử lý đất để nhằm mục tiêu giai đoạn nhộng (Theo Hara và Niino-
DuPonte, 2002).
1.2.3 Bọ trĩ Thrips hawaiiensis Morgan
Theo Kono và Papp (1977) loài này thường xuất hiện trên hoa của rất nhiều
loài cây trong đó có sự ưa thích đặc biệt với những cây thuộc họ đậu và họ bìm bìm,
chúng phân bố rộng ở vùng có khí hậu nhiệt đới và ôn đới.
Theo Lewis (1973) tuổi đầu tiên của nhộng gọi là tiền nhộng, đây là giai
đoạn trung gian giữa ấu trùng và nhộng thật sự. Giai đoạn này có mầm cánh, không
ăn và bài tiết. Sau khi lột sát thì tiền nhộng trở thành nhộng. Nhộng có râu phát triển
và gập về phía sau đầu. Thrips hawaiiensis chích hút trên lá và hoa. Loài này chỉ ăn
trên hoa của những cây chủ, hoa bị chích hút sẽ có những đốm đỏ, lá bị biến dạng
(Takahashi, 1936). Theo Palmer và Wetton (1987) (trích theo Trần Thị Kim Thúy,
2010). Thrips hawaiiensis có thể thụ phấn cho cây cọ dầu nhưng phần lớn là gây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status