khảo sát thành phần côn trùng và nhện gây hại trên ớt tại huyện chợ mới, tỉnh an giang đặc điểm hình thái, sinh học của bù lạch scritothrips dorsalis hood trong điều kiện phòng thí nghiệm - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
LÊ VĂN KHỞI KHẢO SÁT THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG VÀ NHỆN GÂY HẠI
TRÊN ỚT TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG -
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC CỦA BÙ LẠCH
SCRITOTHRIPS DORSALIS HOOD TRONG
ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
KỸ SƢ NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
KỸ SƢ NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
Giáo viên hƣớng dẫn Sinh viên thực hiện
Ths. Lăng Cảnh Phú Lê Văn Khởi
MSSV: 3103621
Lớp: BVTV K36

Cần Thơ - 2013 i
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT Chứng nhận đã chấp nhận Luận văn tốt nghiệp với tên đề tài: “Khảo sát thành
phần côn trùng và nhện gây hại trên ớt tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Đặc
điểm hình thái, sinh học của bù lạch Scritothrips dorsalis Hood trong điều kiện
phòng thí nghiệm”.


Luận văn tốt nghiệp đã đƣợc hội đồng đánh giá ở mức: Ý kiến của hội đồng chấm luận văn:

Duyệt khoa Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2013
Trƣởng Khoa Nông Nghiệp và SHƢD Chủ tịch hội đồng iii
LÝ LỊCH CÁ NHÂN

1. LÝ LỊCH SƠ LƢỢC
Họ và tên: Lê Văn Khởi Giới tính: Nam
Ngày sinh: 16/01/1992 Dân tộc: Kinh
Nguyên quán: Ấp An Thái, xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Họ và tên cha: Lê Văn Mốt
Họ và tên mẹ: Lƣu Thị Niêm
2. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Từ năm 1998 - 2003: học tại trƣờng tiểu học “A” Hòa Bình, xã Hòa Bình, huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Từ năm 2003- 2007: học tại trƣờng Trung học cơ sở Hòa Bình, xã Hòa Bình, huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Từ năm 2007 - 2010: học tại trƣờng Trung học phổ thông Hòa Bình, xã Hòa Bình,
huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Từ năm 2010 đến nay học tại trƣờng Đại học Cần Thơ, quận Ninh Kiều, thành phố
Cần Thơ.

trong suốt quá trình điều tra để hoàn thành đề tài. Lê Văn Khởi

vi
Lê Văn Khởi, 2013. “Khảo sát thành phần côn trùng và nhện gây hại trên ớt tại
huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Đặc điểm hình thái, sinh học của bù lạch
Scirtothrips dorsalis Hood trong điều kiện phòng thí nghiệm”. Luận văn tốt nghiệp
Đại học, ngành Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng,
trƣờng Đại Học Cần Thơ. Cán bộ hƣớng dẫn: Thạc sĩ Lăng Cảnh Phú.

TÓM LƢỢC
Đề tài “Khảo sát thành phần côn trùng và nhện gây hại trên ớt tại huyện Chợ Mới,
tỉnh An Giang. Đặc điểm hình thái, sinh học của bù lạch Scirtothrips dorsalis Hood
trong điều kiện phòng thí nghiệm” đƣợc thực hiện từ tháng 5/2013-11/2013 với kết
quả nhƣ sau:
(1) Qua kết quả điều tra tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cho thấy, côn trùng và
nhện gây hại trên ớt chủ yếu là bù lạch (Scirtothrips dorsalis Hood), rầy mềm
(Aphis gossypii Glover), nhện trắng (Polyphagotarsoneums latus) và nhện đỏ
(Tetranychus cinnabarinus).
(2) Về đặc điểm hình thái và sinh học của bù lạch đƣợc ghi nhận phát triển qua các
giai đoạn nhƣ sau: trứng, ấu trùng tuổi 1, ấu trùng tuổi 2, tiền nhộng, nhộng và
thành trùng: trong đó trứng có hình quả thận đƣợc đẻ trong mô gần gân lá, trứng bù
lạch có màu trắng trong khi mới đẻ chuyển màu vàng khi sắp nở, vài giờ trƣớc khi
bù lạch nở quan sát kỹ sẽ thấy hai mắt màu đỏ, thời gian ủ trứng trung bình là 5,68
ngày; giai đoạn ấu trùng có 2 tuổi: tuổi 1 trung bình là 3,25 ngày, tuổi 2 kéo dài là
5,12; giai đoạn tiền nhộng trải qua 0,7 ngày; giai đoạn nhộng thì kéo dài 1,18 ngày.
Hình dạng ấu trùng ở các tuổi tƣơng tự nhau.
Thành trùng có hình dạng giống nhƣ ấu trùng. Thành trùng cái có kích thƣớc lớn

1.4 Đặc điểm hình thái, sinh thái của bù lạch
8
1.4.1 . Sơ lƣợc về bù lạch
8
1.4.2. Bù lạch Thrips palmi
10
1.4.3. Bù lạch Scirtothrips dorsalis
11
1.5 Khóa phân loại bù lạch Scirtothrips dorsalis Hood
13
CHƢƠNG 2 PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP
15
2.1. Phƣơng tiện
15
2.1.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
15
2.1.2. Vật liệu và dụng cụ thí nghiệm
15
2.2 Phƣơng pháp
15
2.2.1. Phƣơng pháp điều tra thành phần, mức độ phổ biến của côn
trùng và nhện gây hại trên cây ớt tại Chợ Mới, tỉnh An Giang vụ Hè Thu
2013
15

viii
2.2.2. Khảo sát đặc điểm hình thái và sinh học của bù lạch
Scirtothrips dorsalis Hood
16
2.3 Định danh bù lạch


ix
DANH SÁCH HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
2.1
Buồng nuôi bù lạch tự tạo.
17
2.2
Khảo sát vòng đời, thời gian sinh trƣởng và hình thái bù lạch
Scirtothrips dorsalis Hood.
17
3.1
Một số loài côn trùng và nhện gây hại trên ớt
21
3.2
Một số đặc điểm của bù lạch Scirtothrips dorsalis Hood
23
3.3
Trứng bù lạch Scirtothrips dorsalis Hood
25
3.4
Trứng bù lạch vài giờ trƣớc khi nở
25
3.5
Ấu trùng tuổi 1 của bù lạch Scirtothrips dorsalis Hood
26
3.6
Ấu trùng tuổi 2 của bù lạch Scirtothrips dorsalis Hood

24
3.4
Vòng đời và các giai đoạn phát triển của bù lạch Scirtothrips
dorsalis Hood trong điều kiện phòng thí nghiệm, Đại học Cần
Thơ, 2013.
30
1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Rau là một loại thực phẩm thiết yếu trong mỗi bữa ăn hằng ngày. Rau cung
cấp vitamin, khoáng chất và nâng cao tính đề kháng cho cơ thể con người. Trong
các loại rau thì nhóm rau gia vị tương đối phong phú và có giá trị dinh dưỡng cao.
Một trong những loại rau gia vị được trồng phổ biến với diện tích lớn ở Việt Nam
hiện nay là cây ớt (Capsium annum L). Ớt là một loại rau gia vị rất được ưa chuộng
ở Việt Nam và trên thế giới (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 2005).
Ớt được trồng phổ biến ở Ấn Độ, Châu Phi và ở các nước nhiệt đới. Ở nước ta
cây ớt được trồng phổ biến từ Bắc cho tới Nam và cây ớt là một loại rau gia vị được
sử dụng rộng rãi trong các bữa ăn của người dân Việt Nam và các nước trên thế giới
như: Thái Lan, Ấn Độ và Hàn Quốc,…Ớt cũng là nguyên liệu cho một số ngành
công nghiệp chế biến thực phẩm. Ngoài ra, ớt còn là một vị thuốc quý trong y học
cổ truyền, mà có thể chữa một số bệnh rất hữu hiệu. Ngày nay việc trồng ớt mang
lại giá trị kinh tế cao cho người trồng, vì vậy ngày nay cây ớt được trồng rộng rãi
trong cả nước (Đường Hồng Dật, 2003). Ở Việt Nam diện tích canh tác ớt ngày
càng gia tăng là do cây ớt dễ trồng, mang lại giá trị kinh tế cao và thích hợp với
nhiều điều kiện tự nhiên nhưng cũng bị nhiều loại sâu bệnh hại tấn công, nhất là khi
thời tiết nóng ấm cộng với mưa rải rác là điều kiện cho nhiều sâu, bệnh phát triển
như: bù lạch, rầy mềm, nhện trắng, rầy phấn trắng, sâu xanh đục trái,… bệnh virus,

chứa nhiều vitamin C nhất, so với tất cả các loại rau, theo một số tài liệu thì hàm
lượng vitamin C ở một số giống ớt là 340 mg/100 g trái tươi. Ngoài ra ớt là cây rất
giàu các loại vitamin như: vitamin A (các tiền vitamin A như α, β, γ carotene,
cryptoxanthin trong cơ thể người chuyển thành vitamin A), các nhóm vitamin B
như: B
1
(thiamin), B
2
(Riboflavin), B
3
(Niacin), vitamin E, vitamin PP và trong ớt
còn có chứa một lượng Capsaicine (C
18
H
27
NO
3
), là một loại alkaloid có vị cay, gây
cảm giác ngon miệng khi ăn, kích thích quá trình tiêu hóa (Mai Thị Phương Anh,
1999). Ớt không chỉ là gia vị tươi mà còn có giá trị y học để điều chế thuốc trị ngoại
khoa như: phong thấp, nhức mõi, cảm lạnh hay nội khoa như thương hàn, cảm
phổi…(Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001).
1.2 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÂY ỚT
1.2.1. Yêu cầu ngoại cảnh
Nhiệt độ:
Ớt là cây ưa nhiệt độ cao, nhiệt độ thích hợp nhất cho ớt sinh trưởng và phát
triển là 20 - 30
0
C, ở nhiệt độ 15
0

Theo Mai Thị Phương Anh (1999), ớt cay có biên độ thời vụ rộng, nhưng vùng
chuyên canh có thể gieo trồng vào hai thời vụ chính: vụ đông xuân gieo hạt tháng
10 - 12 trồng, tháng 12 - 2, vụ hè thu gieo tháng 6 - 7, trồng tháng 8 - 9.
Ở đồng bằng sông Cửu Long ớt có thể trồng quanh năm, trong sản xuất thực
tế thường canh tác ớt vào các thời vụ. Nhưng cây ớt phát triển tốt mùa khô hơn mùa
mưa. Vụ sớm gieo tháng 8 - 9, trồng tháng 9 - 10, vụ chính (Đông - Xuân) gieo
tháng 10 - 11, trồng tháng 11 - 12, thu hoạch tháng 2 - 3 dl. Trong vụ này cây sinh
trưởng tốt, năng suất cao, ít sâu bệnh. Vụ Hè - Thu gieo tháng 4 - 5, trồng 5 - 6, thu
hoạch 8 - 9 dl. Mùa này cần trồng trên đất thoát nước tốt tránh ngập úng và chọn
giống kháng bệnh thán thư (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001).
Làm đất:
Theo Trần Khắc Thi (1999), Nguyễn Đăng Nghĩa và Nguyễn Mạnh Chinh
(2007), cây ớt thích hợp với đất thịt nhẹ hoặc đất cát pha để thoát nước. Đất sau khi
cày bừa kỹ và phơi đất khoảng 10 - 15 ngày, nếu lâu hơn càng tốt. Lên líp với bề
mặt líp 1 m, cao 30 cm, rãnh rộng 20 cm hoặc líp cao 20 - 30 cm, rộng 1,2 - 1,4 m,
mặt líp làm đất nhỏ và san phẳng.
Bón phân:
Đối với giống ớt lai F
1
lượng phân bón cần đầu tư phải cao gấp 2 - 3 lần so
với các giống ớt địa phương, khoảng 1,5 - 2 tấn NPK 16 - 16 - 8 mới đạt năng suất
20 - 30 tấn/ha.
4

Tùy vào loại đất, mức phân bón cho toàn vụ cho 1000 m
2
như sau: 20 kg
Urê + 50 kg Super lân + 20 kg Clorua kali + 12 kg Calcium nitrat + (50 - 70) kg 16
- 16 - 8 + 1 tấn phân chuồng hoai + 100 kg vôi bột, tương đương với lượng phân
nguyên chất (185 - 210N) - (150 - 180P

Sau đó phơi hoặc sấy khô, tùy vào điều kiện của từng nơi mà có thể áp dụng biện
pháp nào đó cho thích hợp. Nếu chế biến ớt thành dạng bột thì công việc phơi sấy
ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và màu sắc của bột. Ngày nay, ớt còn được sử
dụng để làm tương ớt, được nhiều người ưa thích (Trung tâm UNESCO phổ biến
kiến thức văn hóa giáo dục cộng đồng, 2005).
Theo Trần Thế Tục và Nguyễn Ngọc Kính (2002) thì sau khi trồng khoảng
hai tháng thì ớt ra hoa. Đến tháng thứ ba thì thu hoạch được lứa đầu tiên. Cây ớt có
5

nhiều lứa hoa nên trên cây có trái đang chín, có trái già và có hoa. Nếu nơi tiêu thụ
gần thì thu hoạch khi trái thật chín. Tránh không làm ảnh hưởng đến chùm hoa trên
cây. Sau đó cứ ba ngày thu hoạch trái một lần. Nếu không bị sâu hại phá hại chăm
sóc tốt, cây khỏe có thể thu hoạch liên tiếp trên chục đợt và kéo dài đến hai tháng.
1.3 MỘT SỐ CÔN TRÙNG VÀ NHỆN GÂY HẠI CHÍNH TRÊN ỚT
1.3.1. Rầy mềm Aphis gossypii Glover
Vị trí phân loại và ký chủ
Rầy mềm có tên khoa học Aphis gossypii Glover, họ rầy mềm (Aphididae), bộ
cánh đều (Homoptera) là loài có phân bố rất rộng và đa ký chủ, tấn công nhiều loại
rau màu như cà chua, bầu bí dưa, ớt…
Đặc điểm hình thái và sinh học: thành trùng có hai dạng:
Dạng không cánh: cơ thể dài từ 1,5 - 1,9 mm và rộng từ 0,6 - 0,8 mm. Toàn
thân màu xanh đen, xanh thẫm và có phủ sáp, một ít cá thể có dạng màu vàng xanh.
Dạng có cánh: cơ thể dài từ 1,2 - 1,8 mm, rộng từ 0,4 - 0,7 mm. Đầu và ngực
màu nâu đen, bụng màu vàng nhạt, xanh nhạt, có khi xanh đậm, phiến lưng ngực
trước màu đen. Mắt kép to. Ống bụng đen (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen,
2011).
Tập quán sinh sống và cách gây hại
Ấu trùng và thành trùng tập trung ở mặt dưới lá, nhất là đọt non, hoa, chồi hút
nhựa làm cho các phần bị tấn công khô héo hoặc để lại những vết thâm đen trên lá.
Trên cây dưa, rầy gây hại trầm trọng nếu tấn công các dây chèo hay đỉnh sinh

(Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001 và Nguyễn Đức Khiêm, 2006).
Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng màu trắng bóng, dài 3 - 4 mm, bay chậm, hình dáng giống như
bướm. Ấu trùng rất giống rệp dính, màu trắng trong, được phủ một lớp sáp, ít bò,
thường cố định một chỗ chích hút mô cây (Phạm Hồng Cúc và ctv., 2001).
Trứng hình bầu dục, đẻ thành từng ổ hoặc đẻ rải rác trong mô lá, có cuống, dài
0,18 - 0,2 mm, trứng mới đẻ có màu trắng trong sau chuyển sang màu nâu nhạt rồi
thành màu nâu xám. Một con cái có thể đẻ được 50 - 85 trứng. Ấu trùng có 3 tuổi,
màu vàng nhạt, khi mới nở có chân, bò dưới mặt lá rồi cố định một chỗ mặt dưới lá.
Đến tuổi 2 thì không còn chân, có thể nhìn rõ mắt kép và râu đầu. Nhộng giả có
hình bầu dục, màu trắng, có một số lông thưa hai bên sườn.
Thành trùng dài 0,75 - 1,4 mm, sải cánh, 1,1 - 2 mm. Hai đôi cánh trước và sau
dài bằng nhau toàn thân được phủ một lớp phấn trắng. Mắt kép có một rãnh ngang
chia thành hai phần giống hình số 8. Râu đầu có 6 đốt. Bụng có 9 đốt.
Trong điều kiện nhiệt độ 18 - 19
0
C, ẩm độ 90%, vòng đời rầy phấn trắng là 35
- 54 ngày còn ở 25
0
C thì vòng đời từ 22 - 23 ngày (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003).
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006) thì con cái đẻ từ 50 - 160 trứng, trứng đẻ
từng ổ 4 - 6 trứng ở mặt dưới lá cũng có khi đẻ rải rác trong mô lá. Trong điều kiện
30
0
C giai đoạn trứng kéo dài 5 - 9 ngày.
Tập quán sinh sống và cách gây hại
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006) và Viện Bảo Vệ Thực Vật (2003), rầy thành
trùng ban ngày sống ở mặt dưới lá, không thích ánh sáng trực xạ. Chúng hoạt động
vào lúc sáng sớm và chiều mát. Rầy phấn trắng xuất hiện quanh năm, khó xác định
số thế hệ trong năm. Một năm thường có hai đợt phát sinh rộ là đầu tháng ba và

Có 4 đôi chân, đôi chân thứ 4 không linh hoạt và có hai lông bàn chân rất dài. Con
đực cơ thể nhỏ màu trắng vàng. Kích thước con đực 0,14 × 0,08 mm. Cơ thể hình
oval, nhọn hai đầu, đôi chân thứ 4 đốt đùi to, các đốt tiếp theo nhỏ dần. Gần cuối
đốt bàn có 1 lông dài khoảng bằng ½ chiều dài thân.
Trứng hình nửa trái dứa bổ dọc, màu trong, trên đó có các u lồi màu trắng như
bụi phấn xếp thành 5 - 6 dãy.
Nhện non màu trắng sữa có ba đôi chân.
Tập quán sinh sống và gây hại
8

Nhện trắng phát sinh gây hại quanh năm. Mật độ cao thường thấy nhất trong
các tháng nóng ẩm 4, 5, 9 và 10. Những tháng mùa đông hanh khô nhện bị chết
nhiều và những tháng có mưa rào nhện bị rửa trôi nên mức độ hại không đáng kể,
cây bị hại có thể hồi phục (Nguyễn Văn Đĩnh, 2002).
Nhện trắng sống chủ yếu ở mặt dưới lá non hoặc trên ngọn non hút dịch cây.
Chúng làm cho lá nhỏ, mép lá cong xuống và cuốn vào, lá nhăn nheo. Nhiều trường
hợp triệu chứng cây bị nhện hại khá giống bị virus. Đặc điểm quan trọng là mặt
dưới lá mất màu xanh nhạt đặc trưng, chuyển sang màu xám hoặc thâm nâu hơi láng
bóng. Khi hại nặng lá nhỏ hơn bình thường, màu sắc đậm hơn, lá nhăn nheo và mép
lá cong xuống phía dưới như đối với cây ớt (Nguyễn Văn Đĩnh, 2002).
Biện pháp phòng trừ
Biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) bao gồm các biện pháp kỹ thuật
canh tác hợp lý, trồng đúng thời vụ, luân canh với lúa nước hoặc các cây trồng
không phải là ký chủ của nhện trắng và bón phân cân đối, tránh bón quá nhiều phân
đạm là cần thiết. Thường xuyên quan sát đồng ruộng để phát hiện các ổ nhện hại
ngay từ khi chúng mới xuất hiện trong diện hẹp trên một vài khóm. Tiến hành ngắt
toàn bộ ngọn và lá non bị hại (đến lá thứ 5 - 6 từ ngọn trở xuống) cho vào túi nilon
ngâm xuống nước sẽ hạn chế sự lây lan của nhện một cách hiệu quả.
Các loài thuốc trừ nhện trắng có hiệu quả cao gồm: Danitol 0,1%, Sevin 0,1%,
Pegasus 500SC 0,1%, Nissorun 5EC 0,2% Cần chú ý phun ướt hai mặt lá, nhất là

nhất trong bộ Thysanoptera và gồm hầu hết các loài quan trọng. Cánh thường dài,
hẹp, nhọn ở phía cuối cánh, râu đầu có từ 6 - 9 đốt, ống đẻ trứng của con cái dạng
lưỡi cưa và cong xuống. Cuối bụng con đực tròn, tù.
Theo Nguyễn Viết Tùng (2006), có loài bù lạch có tính bắt mồi, khi phát sinh
số lượng nhiều có thể hút dịch cơ thể các loài bù lạch khác hoặc nhện nhỏ, rệp
muội, rệp bột và các loài côn trùng bé nhỏ khác hoặc trứng, sâu non các loài côn
trùng lớn hơn. Bù lạch thuộc nhóm biến thái không hoàn toàn, bù lạch non và thành
trùng có hình dạng và tập quán sinh sống tương tự nhau và bù lạch có thể sinh sản
theo phương thức hữu tính (phổ biến) hoặc đơn tính. Loài có phương thức sinh sản
hữu tính thì cơ thể con đực bé hơn con cái. Giữa con đực và con cái, một trong hai
giống có thể có cánh dài hoặc ngắn hoặc không có cánh là loài sinh sản theo
phương thức đơn tính. Con đực ít gặp hoặc tuy có gặp nhưng trứng ở con cái vẫn
phát dục theo kiểu sinh sản đơn tính, có một số loài có thể đẻ con.
Bù lạch tùy loài có cách đẻ trứng và vị trí đẻ trứng khác nhau. Có loài, con
cái chọc ống đẻ trứng vào mô cây để đẻ, trứng đẻ từng trứng rất bé (mắt thường khó
thấy), bề ngoài của vị trí đẻ trứng có thể hơi nhô lên. Có loài đẻ vào khe nứt hoặc
dưới vỏ cây, trứng thường có hình trứng dài, đẻ từng trứng một hoặc từng cụm một.
Bù lạch là loài gây hại trên rất nhiều loại cây trồng như: cây có múi, cà phê,
dâu, chuối, xoài, ca cao, lúa mì, trà, cà chua, đậu, cà tím, ớt, hành
10

( Theo Mai Thị Phương Anh,
(1999) trên ớt có hai loài bù lạch gây hại là Scirtothrips dorsalis và Thrips palmi.
1.4.2. Bù lạch Thrips palmi.
Vị trí phân loại, phân bố và ký chủ
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) bù lạch có khoa học là Thrips
palmi, Họ Thripidae, Bộ Thysanoptera. Phân bố rất rộng và có thể tấn công trên
nhiều loại cây trồng từ các loại rau đến cây ăn trái. Đặc biệt, gần đây chúng phát
dịch và gây hại nghiêm trọng trên dưa hấu và trên dưa leo.
Đặc điểm hình thái và sinh học

Bù lạch thường đẻ trứng trong mô cây. Cả ấu trùng và thành trùng bù lạch
thường sống ở mặt dưới lá và hay chui vào gân lá để trốn, do đó rất khó nhìn thấy
và thuốc trừ sâu cũng khó tiếp xúc được với chúng. Bù lạch thường chích cho nhựa
cây chảy ra để hút ăn, đôi khi còn cạp cả mô lá hoặc cây. Lá cây bị bù lạch gây hại
sẽ có dạng quăn queo, lá non biến dạng và cong xuống phía dưới.
Biện pháp phòng trừ
Đốt tàn dư thực vật.
Áp dụng màn phủ nông nghiệp.
Dùng bẫy màu vàng đặt vào rẫy từ khi cây con đến lúc trổ hoa để xác định mật
số và quyết định khi nào áp dụng thuốc.
Bù lạch rất khó trị vì bù lạch rất nhỏ dễ ẩn náu cũng như khả năng kháng thuốc
rất nhanh. Có thể lợi dụng thiên địch để khống chế mật số bù lạch. Nếu sử dụng
thuốc hóa học để trị và nên thay đổi thuốc thường xuyên để tránh bù lạch quen
thuốc. Dùng thuốc Actara hoặc Vertimec kết hợp với dầu khoáng.
1.4.3. Bù lạch Scirtothrips dorsalis
Vị trí phân loại, phân bố và ký chủ
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2010), bù lạch có tên khoa học Scirtothrips
dorsalis, họ Thripidae, bộ Thysanoptera.
Theo Vivek Kumar và ctv. (2013) Scirtothrips dorsalis được phân bố rộng rãi
dọc theo các nước Châu Á bao gồm: Bangladesh, Brunei, Darussalam, Trung Quốc,
Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Myanma, Pakistan,
Philippines, Sri Lanka, Đài Loan và Thái Lan. Ở phía nam bù lạch Scirtothrips
dorsalis xuất hiện tại quần đảo Soloman và miền bắc Australia. Còn ở Châu Phi thì
từng xuất hiện ở Nam Phi và Bờ biển Ngà. Ở Nam Mỹ, Scirtothrips dorsalis đã
được phát hiện và gây hại nghiêm trọng cho cây nho ở miền tây Venezuela.
Phổ ký chủ của bù lạch Scirtothrips dorsalis bao gồm hơn 100 loại thực vật
trong 40 họ thực vật. Các loại thực vật hoang dại chủ yếu thuộc họ Fabaceae. Trong
phạm vi của Ấn Độ, các báo cáo về cây ớt có 25 loài gây hại khác nhau tấn công,
12


cho lá non, chồi và trái bị biến dạng có màu đồng đen, lá bị hư hại cuốn lên và xuất
hiện sự méo mó. Cây ký chủ bị nhiễm khuẩn trở nên cằn cỗi hoặc nhỏ và làm lá bị
rụng. Mật số bù lạch thấp vào mùa mưa nhưng mật số tăng cao trong mùa khô.
Biện pháp phòng trừ
13

Theo Vivek Kumar và ctv., (2013) có những biện pháp quản lý bù lạch như:
Luân canh cây trồng, loại bỏ cỏ dại (có thể loại bỏ ký chủ và nơi cho lan
truyền virus), luân chuyển thuốc trừ sâu và hỗ trợ sử dụng tối đa của kẻ thù tự nhiên
bao gồm cả động vật ăn thịt và ký sinh trùng. Trồng một số giống cây trồng kháng
Scirtothrips dorsalis ăn hại.
Còn có thể sử dụng một số loại thuốc hóa học như: Abamectin, Novaluron,
Spinetoram…
Theo Arthurs và ctv., (2009) có thể sử dụng một số thiện địch ngoài tự nhiên
như: bọ rùa (Coccinella septempunctata Linnaeus), bù lạch ăn thịt Franklinothrips
vespiformis (vespiform thrips), Scolothrips sexmaculatus (sixspotted
thrips), Selenothrips rubrocinctus (redbanded thrips), Leptothrips mali (black hunter
thrips) và nhện ăn thịt Amblyseius spp., Euseius hibisci and Euseius tularensis để
khống chế mật số bù lạch.
1.5 KHÓA PHÂN LOẠI BÙ LẠCH SCIRTOTHRIPS DORSALIS HOOD.
1. Cánh trước, có biểu hiện không rõ ràng theo chiều dọc, trên gân cánh có những
lông cứng chạy dọc và trên bề mặt có phủ những lông nhỏ. Con cái có bộ phận đẻ
trứng có hình lưỡi cưa ở đốt X thường có dạng hình nón; đốt ngực bụng thứ VIII thì
thường không phát triển, nhưng nếu có thì không tách rời khỏi đốt
VII bộ phụ TEREBRANTIA.
2. Con cái có bộ phận đẻ trứng hình lưỡi cưa rất phát triển, đốt ngực bụng thứ VIII
không phát triển, đốt lưng ngực thứ X thường không có 1 cặp lông cứng, nếu có thì
chúng rất nhỏ.
3. Con cái có bộ phận đẻ trứng cong xuống phía dưới cơ thể; râu đầu thường có 7
hoặc 8 đốt, hiếm khi có 6 hoặc 9 đốt, đốt thứ III và IV có cơ quan cảm giác hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status