Điều tra hiện trạng canh tác cây xoài tại huyện Tri Tôn và Tịnh Biên tỉnh An Giang, đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của dòi bông xoài - Pdf 26



TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG HUỲNH VIỆT HƯNG

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC XOÀI
TẠI HUYỆN TRI TÔN VÀ TỊNH BIÊN, TỈNH
AN GIANG -
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI

VÀ TRIỆU
CHỨNG GÂY HẠI CỦA DÒI

BÔNG XOÀI
Chứng nhận đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp đính kèm với đề tài:
“Điều tra hiện trang canh tác xoài tại huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, tỉnh
An
Giang – Đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của dòi bông xoài” Do sinh viên HUỲNH VIỆT HƯNG thực hiện và đề nạp.
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp.
Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2013
Cán bộ hướng dẫn
(Ký tên)
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết quả
trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kì công trình nghiên cứu nào trước đây.


Cảm ơn bạn Nghiệm, Lộc, Còn những người bạn đã giúp tôi đi suốt chặng đường
dài để hoàn thành luận văn này.
Các bạn sinh viên lớp bảo vệ thực vật khóa 35 đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực
hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!!!
Huỳnh Việt Hưng
HUỲNH VIỆT HƯNG, 2012. “Điều tra hiện trang canh tác xoài tại
huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, tỉnh An Giang - Đặc điểm hình thái và
triệu chứng gây hại của dòi bông xoài”. Luận văn tốt nghiệp Đại học,
ngành Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và SHƯD, trường Đại Học
Cần Thơ, 56 trang.
Cán bộ hướng dẫn: Ths. Lăng Cảnh Phú
TÓM LƯỢC
Đề tài “ Điều tra hiện trang canh tác xoài tại huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, tỉnh
An Giang - Đặc điểm hình thái và triệu chứng gây hại của dòi bông xoài” được thực
hiện tại phòng thí nghiệm Côn Trùng, Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông
Nghiệp và SHƯD, Trường Đại Học Cần Thơ và hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên thuộc
tỉnh An Giang từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 11 năm 2012 đạt được kết quả như
sau:
Kết quả điều tra cho thấy có 62,5% tổng số hộ điều tra là vườn trồng xoài
chuyên canh, dòi bông xoài phổ biến (65% số hộ điều tra) và là đối tượng gây hại
quan trọng. Dòi bông xoài chỉ gây hại 7,5% số vườn điều tra với tỷ lệ nhiễm đạt
dưới 50%.
Kết quả khảo sát đặc điểm hình thái trong phòng thí nghiệm: Dòi bông xoài họ
Cecidomyiidae, bộ Diptera, thành trùng có kích thước nhỏ khoảng 1-2 mm màu
vàng cam, cơ thể được bao phủ bởi một lớp lông. Trứng rất nhỏ có màu trắng trong
suốt hình oval giống như hạt gạo, kích thước trứng dài khoảng 1,5 ± 0,17 mm, rộng
0,6 ± 0,07 mm. Ấu trùng hình dáng giống như dòi, có thể có 5 tuổi. Nhộng màu
vàng cam co kích thước dài khoảng 1,5 ± 0,17 mm, rộng 0,6 ± 0,07 mm.
Triệu chứng gây hại ngoài đồng của muỗi gây hại trên bông xoài là bông có

34
3.6
Kết quả khảo sát ngoài đồng về tình hình gây hại của dòi bông
xoài ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên.
36
3.7
Kích thước các giai đoạn phát triển của dòi bông xoài .
39 DANH SÁCH HÌNH
9
Hình

Tựa hình
Trang
1.1 Bông bị muỗi gây hại 12
1.2 Triệu chứng gây hại của muỗi trên trái xoài 14 1.3 Ấu trùng trong mụt hoặc

3.17
Triệu chứng gây hại ngoài đồng đặc trưng của muỗi bông xoài
47
3.18
Bông có nhộng sắp vũ hóa và bao nhộng đã vũ hóa hoàn toàn
48

11
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xoài là loại cây ăn trái có giá trị kinh tế rất cao, được trồng nhiều nơi trong cả
nước như ở trung du miền núi Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền
Trung, Đông Nam Bộ và đặc biệt phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam (2010), diện tích trồng xoài ở ĐBSCL
khoảng 3.000 ha chiếm 9,25% so với tổng diện tích trồng xoài cả nước. Trong điều
kiện tự nhiên ở ĐBSCL, cây xoài thường ra hoa vào tháng 12-1 và thu hoạch tập
trung từ tháng -5 (Trần Văn Hâu, 1997), chính vì thu hoạch tập trung nên giá thành
không được cao trong vụ chính nhưng rất cao trong vụ nghịch, đặc biệt là các dịp lễ,
tết. Từ thực tế này đã thu hút nhà vườn áp dụng nhiều biện pháp để kích thích ra hoa
xoài sớm hay nghịch vụ để có thể bán được giá cao gấp 2-3 lần so với xoài chính vụ.
Mùa vụ trồng xoài không còn phân biệt rõ như trước là nguồn thức ăn dồi dào cho
dịch hại. Những loài dịch hại quan trọng được ghi nhận như thán thư, phấn trắng, xì
mủ trái, rầy bông xoài, bù lạch (bọ trĩ), sâu đục hột, sâu ăn hoa, sâu đục cành,… và
hiện nay muỗi gây hại trên bông xoài là loài gây hại mới đã xuất hiện một số nơi ở
ĐBSCL.
Việc xử lý ra hoa không đồng loạt, không tập trung, vấn đề về biến đổi khí hậu
toàn cầu cùng với việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật quá mức, đặc biệt là những
vườn trồng chuyên canh xoài đã gây ô nhiễm môi trường, tạo tính kháng cho dịch
hại, ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái. Do đó dẫn tới việc xuất hiện dịch hại mới
trên xoài là điều không thể tránh khỏi. Chính vì vậy, đề tài “Điều tra hiện trạng
canh tác xoài tại huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, tỉnh An Giang- Đặc điểm hình

năm, bình quân một năm tăng 0,367 triệu tấn. Xuất khẩu xoài trái tươi tăng liên tục
qua các năm, Pakixtan đứng số 1 thế giới, niên vụ 2009-2010 xuất khẩu: 130.000
tấn, kim ngạch: 1,5 triệu USD và niên vụ 2010-2011 ước đạt 50 triệu USD; kế đến
là Ấn Độ xuất khẩu 82.000 tấn xoài chất lượng cao, với giá 1 hộp xoài 3,5 kg lên
đến 20 USD/hộp (bình quân 1,0 kg xoài xuất khẩu của Ấn Độ: 5,7 USD/kg). Thị
trường nhập khẩu xoài là Mỹ, Nhật, Singapore, Anh, ARập Xêút. Trong đó thị
trường Mỹ chiếm 50% sản lượng xoài nhập khẩu hàng năm trên thế giới (Hoàng
Quốc Tuấn, 2011).
13
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam (2010), cây xoài đã được trồng tất cả tỉnh,
thành phố của cả nước. Trong đó 59/63 tỉnh có diện tích xoài trên 100 ha. Vùng
trồng xoài lớn nhất là ĐBSCL là 3.000 ha chiếm 9,25% so với tổng diện tích xoài
cả nước.
Song song với tiềm năng xuất khẩu cao, diện tích lớn hình thành các vùng
chuyên canh cây ăn trái, trong đó có cây xoài ngày một tăng thì các loài sâu bệnh hại
cũng bắt đầu gây hại với mức độ trầm trọng hơn. Riêng nhóm côn trùng gây hại,
theo đánh giá của các nhà khoa học và tình hình sản xuất thực tế của bà con nhà
vườn cho thấy trong vài năm trở lại đây tình hình sâu hại trên các vườn trồng xoài
đang có chiều hướng gia tăng, gây ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất cũng như
phẩm chất của trái xoài. 1.1.2. Quy trình xử lý xoài ra hoa
1.1.2.1. Giai đoạn sau khi thu hoạch
Sau khi thu hoạch xoài chính vụ vào tháng -5 cần tiến hành các biện pháp kỹ
thuật để thúc đẩy cây ra đọt non tập trung để dễ phòng trừ sâu bệnh và kích thích ra
hoa. Các biện pháp quan trọng cần thực hiện là: tỉa bỏ những phát hoa đã rụng trái,
cành vô hiệu trong thân cây mẹ, cành ốm yếu, bị sâu bệnh hoặc che rợp lẫn nhau gây
trở ngại cho việc chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và thu hoạch. Thông thường những
phát hoa đã rụng bông và trái non phải mất 3- tháng mới rụng. Do đó, nếu cắt bỏ
những phát hoa này sẽ kích thích cho cây ra đọt sớm hơn. Bón phân giúp cho cây ra
chồi khoẻ, lá to, tích lũy nhiều chất dự trữ giúp cho cây có khả năng ra hoa và nuôi
trái trong vụ sau. Đây là giai đoạn thúc đẩy sự sinh trưởng của cây nên công thức

bằng cách bón phân với tỉ lệ phân đạm thấp, tăng tỉ lệ lân và kali. Tiếp theo phun
MKP (0-52-34) với nồng độ 0,5% ở giai đoạn 10-15 ngày trước khi phun chất kích
thích ra hoa để giúp cho lá mau trưởng thành, tăng tỉ lệ đậu trái và ngăn cản sự ra đọt
non, 5-7 ngày trước khi kích thích ra hoa nên phun thuốc phòng ngừa các loại sâu
bệnh như bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides), rầy bông xoài và sâu ăn
bông (Trần Văn Hâu, 2009).
Sau khi xử lý paclobutrazol 75-90 ngày có thể tiến hành phun hóa chất kích
thích cho xoài ra hoa bằng cách phun thiourea ở nồng độ 0,3-0,5% hay nitrate kali ở
nồng độ 2,0-2,5%, 5-7 ngày sau phun lại lần hai với hóa chất tương tự nhưng nồng
15
độ giảm 50%. Cần chú ý là điều kiện mưa dầm, ẩm độ đất cao có thể kích thích mầm
lá phát triển thay vì mầm hoa. Do đó, chỉ nên kích thích ra hoa khi trời khô ráo và
rút hết nước trong mương cho đến khi mầm hoa xuất hiện (Trần Văn Hâu, 2009).
Thời gian xuất hiện mầm hoa tùy theo giống và thời vụ. Quá trình phát triển
hoa từ khi xử lý đến khi kết thúc quá trình nở hoa của bốn giống xoài Nam Dok Mai,
cát Hòa Lộc, Thơm và Thanh Ca được trình bày ở bảng sau:
Bảng 1.1 Quá trình phát triển hoa từ khi xử lý đến khi kết thúc quá trình nở hoa của 4 giống xoài
(Đặng Thanh Hải, 2000)
Giống
Thời gian từ khi xử lý
đến nhú mầm hoa (ngày)
Thời gian từ khi nhú mầm Thời gian hoa nở
hoa đến khi hoa nở (ngày) (ngày)
Nam Dok Mai
Cát Hòa Lộc
Thơm
Thanh Ca
7-9
7-9
5-6

3
với nồng độ 1% lên trái để tăng phẩm
chất trái như màu sắc và độ ngọt.
Giai đoạn 84-90 ngày sau khi đậu trái: Thu hoạch khi trái đã phát triển bề rộng, bề ngang,
“lên màu” hoặc tỉ trọng bằng 1,02. Có thể xác định thời điểm thu hoạch thích hợp bằng cách
cho trái xoài vào nuớc, nếu trái chìm dưới đáy từ từ thì vừa thu hoạch, nếu nổi lơ lửng là
chưa thật già và nếu chìm quá nhanh tức là trái đã quá già (Trần Văn Hâu, 2009).
1.2 ĐẶC ĐIỂM CHUNG HỌ CECIDOMYIIDAE
1.2.1. Phân loại
Theo CABI (2001); Tripplehom và Johnson (200 ); Nguyễn Thị Thu Cúc (2010):
Kingdom (Giới): Animalia
Phylum (Ngành): Arthropoda
Class (Lớp): Insecta
Order (Bộ): Diptera
Family (Họ): Cecidomyiidae (Muỗi năng, Muỗi bướm)
Subfamilies (Họ phụ): Cecidomyiidae (Gall Midges hoặc Gall Gnats)
Cecidomyiidae (hoặc gall midges) là một trong những họ lớn nhất trong bộ
Diptera với khoảng hơn 5.000 loài (Skuhravá, 1991; Grimaldi và Engel, 2005) cho
đến năm 2010 thì đã có 6131 loài và 783 chi (Gagne, 2010). Chúng hiện diện trên
khắp thế giới và châu Âu là nơi có số lượng loài phong phú nhất (Skuhravá và
Skuhravý, 2009). Trong đó, hai giống Dasineura Rondani (1840) và Contarinia
Rondani (1860) có số lượng loài nhiều nhất (Skuhravá và Skuhravý, 2009).
17
1.2.2. Đặc điểm sống và cách gây hại
Có rất nhiều báo cáo về sự gây hại của các loài thuộc họ Cecidomyiidae như
Mayetiola destructor Say (Hessian fly) trên lúa mì (Pedigo, 2002; Tripplehom và
Johnson, 2004), Contarinia sorghicola (Coquillett) (sorghum midge) trên cây lúa
miến (Sharma và Vidyasagar, 1992), Contarinia nasturtii (Kieffer) (swede midge)
trên họ cây thập tự (Kikkert và ctv., 2006; Chen và ctv., 2009), C. pisi Winn (pea
midge) trên đậu Hà Lan (Hillbur và ctv., 2001). Trong đó, Mayetiola destructor Say

2002; Cameiro và ctv., 2009) nên được đặc biệt quan tâm trong việc phòng và trị
(Tokuda và ctv., 2002).
1.2.3. Đặc điểm hình thái Thành trùng họ Cecidomyiidae có hình dạng giống như
muỗi, kích thước rất nhỏ (khoảng 1-5 mm), cơ thể mỏng mảnh với chân ngực dài
(Tripplehom và Johnson, 200 ). Đa số con cái có kích thước hơi lớn hơn so với con
đực, bụng con cái to, màu vàng cam và phần cuối bụng có ống đẻ trứng dài
(Alford, 2007). Cặp cánh trước có gân cánh thoái hóa, chỉ có 2-3 đường, không có
mạch ngang, trên bề mặt cánh bao phủ một lớp lông nhỏ (microtrichia)
(Tripplehom và Johnson, 2004; Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010). Cặp cánh sau biến
thành dạng hình chùy nhỏ (halter) để giữ thăng bằng khi bay nên được gọi là cánh
thăng bằng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010). Râu đầu dài hình chuỗi hạt, xung quanh
có lông. Râu con đực dài và có nhiều lông bao quanh như những sợi cảm giác nên
thường nhạy cảm hơn con cái (Crook và Mordue, 1999).
Ấu trùng thường có màu sáng như đỏ cam, hồng hoặc vàng (Tripplehom và
Johnson, 2004; Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010), đầu rất nhỏ gần như tiêu biến và ở mặt
bụng của đốt ngực đầu tiên (ấu trùng tuổi cuối) có một thìa xương ức, là kitin cứng
chẻ đôi dạng chữ T (breastone hay steral spatula) (Tripplehom và Johnson, 2004).
Spatula có rất nhiều chức năng như giúp ấu trùng có thể nạo lấy thức ăn, di chuyển
bằng cách búng đi (vài centimet), đào bới trong đất để hóa nhộng, giúp ấu trùng cố
định trong kén (cocoon), cắt tạo các rãnh trong thân cây để di chuyển hay tạo lỗ
chuẩn bị cho thành trùng vũ hóa đối với những loài tạo bướu trên cây (Metcalfe,
1933 trích dẫn bởi Milne, 1961). Đây là bộ phận đặc trưng của họ Cecidomyiidae
và cũng là đặc điểm quan trọng để xét phân loại ở cấp độ nhỏ hơn (Alford, 2007;
Skuhravá, 2009; Gagné và ctv., 2009). Việc định danh các loài dịch hại được xem
19
là nhiệm vụ rất quan trọng để đánh giá khả năng gây hại của chúng và từ đó có thể
đưa ra chiến lược quản lý thích hợp.
1.2.4. Đặc điểm sinh học
Họ Cecidomyiidae có đặc điểm sinh học rất phức tạp (Cilbircioglu và Unal,
2008). Thành trùng thường sống trong khoảng thời gian rất ngắn, dao động 1-4

Con cái có thể đẻ nhiều lần và đẻ ở nhiều vị trí khác nhau. Trứng được đẻ
thành từng nhóm từ hai trứng trở lên và ổ trứng thường tìm thấy nhiều nhất ở vị trí
đầu của tai bông (Huỳnh Thanh Đức, 2008) hay lá non nhất (Alford, 2007). Và có
thể nhiều con cái cùng đẻ trứng trên cùng một chồi (Skuhravá, 1991).
1.3 HỌ CECIDOMYIIDAE GÂY HẠI TRÊN XOÀI
1.3.1. Một số ghi nhận về sự phân bố của muỗi trên xoài
Dòi bông xoài (midge) tên bắt nguồn từ Old Norse Muggia. Dòi bông xoài lần
đầu tiên được mô tả bởi Felt vào năm 1911 từ các tài liệu thu thập được ở St.
Vincent, miền tây Ấn Độ (Whitwell, 1993). Sankaran (1988) mô tả rằng loài côn
trùng này được tìm thấy ở Ấn Độ, Indonesia, Keneya, Mauritius, Oman, Reunion,
Nam Phi và United Arab Emirates (UAE).
Barnes (1948), đã công nhận có 9 loài muỗi trên xoài, hai trong số 9 loài là
Asynapta sp. và Eryosomya mangifereae có nguồn gốc từ miền tây Ấn Độ. Loài
Dasineura mangifereae được Felt báo cáo ở Hawaii (Anonymous, 1981)
Singh (1960) ghi nhận rằng ở Ấn Độ có mười hai loài muỗi đại diện cho 3 chi đã
được biết là gây ra các loại bướu hoặc những mụt khác nhau trên lá xoài.
Có ích nhất 16 loài muỗi (Diptera: Cecidomyiidae) được biết đến là có khả
năng tấn công xoài ở châu Á. Một trong những loài gây hại trên xoài là Erosomyia
mangiferae (Felt), được ghi nhận ở vùng biển Caribbean và Brazil (Harris và
Schreiner, 1992).
Tại Oman, muỗi gây hại trên xoài là một dịch hại nghiêm trọng và gây ra sự
thất thu rất lớn về năng suất do thiệt hại lá và hoa, làm cho trái nhỏ, phát triển kém
(Sankaran và Mjeni, 1988 dẫn bởi Malik và ctv., 2005).
21
Tại Nhật Bản, loài Procantirinia mangicola tấn công lá xoài non và tạo ra mụt
u sưng, nổi phòng lên, đó là nguyên nhân làm cho lá nhăn lại (Harris và Schreiner,
1992 trích dẫn bởi Malik và ctv., 2005).
Loài Procontrainia mangicola cũng đã được ghi nhận từ khu vực Quảng Tây,
Trung Quốc (Shi, 1980). Muỗi gây hại tạo mụt u sưng phòng lên trên lá xoài lần đầu
tiên được tìm thấy trong một nhà kính ở làng Tamagusuku trên đảo Okinawa (Uechi

Theo Malik và ctv. (2005), từng con cái đẻ trứng trên các bộ phận của hoa như
trục phát hoa, trên những trái mới đậu hoặc những lá non bao quanh phát hoa. Trứng
nở trong vòng 2-3 ngày. Sau khi nở, dòi sẽ thâm nhập vào các bộ phận non mềm là
nơi mà trứng được đẻ vào và bắt đầu ăn các bộ phận bên trong ký chủ của chúng.
Các bộ phận của hoa khô và rơi xuống đất. Ấu trùng trưởng thành búng mình xuống
đất để hóa nhộng. Giai đoạn ấu trùng khoảng 7-10 ngày trong khi giai đoạn nhộng
khoảng từ 5-7 ngày. Có 3- thế hệ chồng chéo nhau trong giai đoạn từ tháng 1 đến
tháng 3 ở Bắc bán cầu. Sau đó, khi điều kiện thời tiết không thuận lợi, ấu trùng trải
qua thời kì nghỉ hoạt động (diapauses) trong đất thay vì thành nhộng. Khi điều kiện
thuận lợi thì ấu trùng hoạt động trở lại. Muỗi phá hoại và gây thiệt hại cây trồng
trong ba giai đoạn khác nhau. Sự gây hại đầu tiên là ở giai đoạn nụ bông xoài mới
nhú ra. Trứng được đẻ trong nụ bông mới xuất hiện, những con trưởng thành thường
đẻ trứng trong các nếp giữa các lá đài và cánh hoa của nụ hoa (Abbas, 1988). Chủ
yếu là sự xuất hiện của thành trùng cao hơn ở 2 °C và 60 – 82 độ ẩm (Grover, 1986a
& 1986b). Ấu trùng tạo đường đục bên trong trục hoa và do đó gây thiệt hại hoàn
toàn phát hoa. Ấu trùng tuổi cuối làm cho lỗ thoát nhỏ ở trên trục phát hoa và trượt
xuống đất hóa nhộng.
Theo Malik và ctv. (2005) muỗi gây hại lần thứ hai là lúc đậu trái. Trứng được
đẻ trên các trái xoài mới đậu lúc còn nhỏ. Gây nguy hại nhất là đợt gây hại đầu tiên,
trong đó toàn bộ phát hoa bị phá hủy ngay cả trước khi ra hoa và đậu trái. Phát hoa
tăng trưởng còi cọc và uốn cong trục của nó tại điểm vào của ấu trùng. Cuối cùng nó
khô đi trước khi hoa nở và đậu trái. Muỗi gây hại các bông mới xuất hiện bởi đẻ
trứng ở giai đoạn nụ bông, và tuổi dòi đầu tiên trong bông đang phát triển. Bông bị
nhiễm uốn cong một góc cạnh đặc trưng, sau đó dòi cắn một lỗ thoát ra bên ngoài,
23
dòi rơi xuống đất chuyển thành nhộng trong đất. Giai đoạn ấu trùng của muỗi có bốn
tuổi, Khi sử dụng khung bẫy màu để thu hút cho thấy sự xuất hiện của thành trùng là
vào buổi chiều. Dòi gây hại giai đoạn nụ bông xoài vừa mới nhú ra, đậu trái và lá
non của đợt ra lộc mới (Irshad, 2005). Mật số của loài muỗi này ít trong tháng
Giêng, trong khi phá hoại tăng mật số trong tháng hai và tháng ba, sau đó trong

và Schreiner, 1992), thiên địch của muỗi trong tự nhiên, các biện pháp kiểm soát
khác nhau được áp dụng để kiểm soát chúng.
*Kiểm soát tự nhiên
Theo Malik và ctv. (2005), do ấu trùng hóa nhộng trong đất, vì thế cày đất trong
vườn cây ăn trái để cho nhộng phơi ra trên mặt đất cũng như ấu trùng sẽ bị nhiệt độ mặt
trời giết chết chúng. Tại các địa điểm nhất định ở Pakistan, tấm nhựa được sử dụng để phá
vỡ vòng đời của muỗi. Đất dưới tán của cây ký chủ được bao phủ bởi các tấm nhựa, do đó
ngăn chặn sự xuất hiện của thành trùng từ đất và cũng có thể ngăn chặn ấu trùng giảm đi
vào đất hóa nhộng. Bằng cách này, vòng đời của muỗi gây hại cây xoài bị gián đoạn và
cuối cùng giảm mật số muỗi.
*Kiểm soát hóa học
Phun 0,05% Fenetrothion hoặc 0,0 5% Dimethoate hoặc Diazinon 0,0 % ở giai
đoạn ra hoa rộ, phát hoa đã được tìm thấy hiệu quả trong việc kiểm soát mật số sâu
hại (Irshad, 2005).
25

Trích đoạn Loài Procontarinia frugivora (Gagné) MỘT SỐ CÔN TRÙNG CHÍNH GÂY HẠI TRÊN BÔNG XOÀI 1 Bù lạch Rầy bông xoà Sâu ăn bông xoà Chương 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status